Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
o0o NGUYỄN THỊ MỸ
GIÁ TRỊ VÀ VỊ TRÍ TẬP THƠ "VIỆT BẮC"
TRONG HÀNH TRÌNH THƠ TỐ HỮU CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ : 60.22.34:
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
m· sè : 60. 22. 34 Người hướng dẫn khoa học: GS. Phong Lê
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. Phong Lê
2.4. Khảo sát văn bản tập thơ Việt Bắc 6
3. Mục đích nghiên cứu 10
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 10
6. Phương pháp nghiên cứu 10
7. Cấu trúc của luận văn 10
Chƣơng 1: "VIỆT BẮC" TRONG NỀN THƠ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN 1954 11
1.1. Tổng quan về thơ Việt Nam 1945 đến 1954 11
1.2. Con đường thơ Tố Hữu từ tập thơ Từ ấy sang tập thơ Việt Bắc 18
1.2.1. Từ tập thơ "Từ ấy" 18
1.2.2 đến tập thơ "Việt Bắc" 21
Chƣơng 2: GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA TẬP THƠ“ VIỆT BẮC” 25
2.1. Khát vọng và niềm vui giải phóng Đất nước qua các chặng đường 25
2.1.1. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 25
2.1.2. Kháng chiến chín năm 27
2.1.3. Chiến thắng Điện Biên phủ 29
2.2. Cái "tôi" tác giả gắn với cái "ta"quần chúng trong bức tranh nhân dân
kháng chiến 31
2.2.1. Hình ảnh người lính 31
2.2.2. Hình ảnh người phụ nữ 45
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
2.3. Tình yêu quê hương đất nước 53
2.4. Tình cảm gắn bó với lãnh tụ và quê hương cách mạng 59
Chƣơng 3: GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA TẬP THƠ “ VIỆT BẮC” 72
3.1. Sự gắn bó khăng khít giữa tính dân tộc và tính đại chúng 72
3.1.1. Thể thơ, câu thơ 72
3.1.2. Nhạc điệu 78
3.1.3. Ngôn ngữ, hình ảnh 88
3.1.4. Niêm luật và vần 92
3.2. Sự kết hợp giữa tính dân tộc và âm hưởng hiện đại 96
KẾT LUẬN 100
ngược lại. Do vậy chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu để định lại giá trị của tập thơ với
tiêu đề: Giá trị và vị trí của tập thơ" Việt Bắc" trong hành trình thơ Tố Hữu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
2
1.3. Tôi được sinh ra và lớn lên ở chiếc nôi quê hương cách mạng, gắn
với cảnh quan thiên nhiên, và những con người bình dị đã làm nên lịch sử. Đó
là mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào; là rừng cọ, đồi chè, bến nước Bình
Ca…những địa danh in đậm dấu ấn lịch sử của dân tộc ta trong chín năm
kháng chiến chống thực dân Pháp. Lịch sử nơi đây đã trở thành kỷ niệm gắn
bó sâu nặng với Tố Hữu, và được kết đọng lại trong các vần thơ của ông, trước
hết là tập thơ Việt Bắc.
Là người con của quê hương cách mạng, và là giáo viên một trường phổ
thông mang tên địa danh lịch sử Tân Trào, tôi rất yêu thích và có nhiều cảm xúc
đối với thơ Tố Hữu, đặc biệt là tập thơ Việt Bắc, bởi ông đã ghi lại một cách chân
thực những nét đẹp mộc mạc, giản dị của con người và cảnh quan thiên nhiên một
miền sơn cước - nơi tôi sống và công tác. Vì vậy nếu đề tài được thực hiện thành
công, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần để tác phẩm Việt Bắc mãi mãi nhận được
sự đón đợi và mến mộ của đông đảo bạn đọc, trong đó có người đọc là các thế hệ
trẻ của quê hương tôi.
2. Lịch sử vấn đề
Trong hơn năm thập kỷ qua, thơ Tố Hữu đã trở thành một đối tượng
nghiên cứu lớn của giới học thuật, thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu, phê bình
tên tuổi.
2.1. Những bài nghiên cứu về thơ Tố Hữu nói chung
Ngay từ khi thơ Tố Hữu mới xuất hiện rải rác trên báo chí cách mạng vào
những năm cuối thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương, cùng với sự đón nhận
nồng nhiệt của công chúng, giới văn học cách mạng đã đánh giá cao thơ ông.
Trong bài viết đầu tiên giới thiệu về thơ Tố Hữu ( báo Mới, số 1, ngày 1-5-1939)
tác giả K và T đã khẳng định:“ Thơ Tố Hữu là cả một nguồn sinh lực đem phụng
sự cho lý tưởng”, “ Với Tố Hữu, chúng ta có một nhà thơ cách mạng có tài”, “nhà
4
Tập thơ Gió lộng có các bài viết tiêu biểu của Hoài Thanh, Lê Đình Kỵ,
Nguyễn Văn Long, Hà Xuân Trường…
Các tập thơ khác có các bài viết của Hà Minh Đức, Nguyễn Văn Hạnh,
Hoài Thanh, …
2.3. Xung quanh tập thơ "Việt Bắc"
Có nhiều bài phê bình, đánh giá về tập Việt Bắc, đặc biệt xuất hiện tập
trung trong cuộc tranh luận diễn ra vào năm 1954- 1955 với hai luồng cảm hứng.
Luồng cảm hứng phủ định với những bài viết của Hoàng Yến, Hoàng Cầm, Lê
Đạt… Hoàng Yến phủ định“chủ nghĩa hiện thực trong tập thơ Việt Bắc". Nhận
xét về bài thơ Bắn Hoàng Yến viết:“ Tác giả đã tổng kết sự việc trên tài liệu chứ
chưa kinh qua thực tế của cuộc sống để tổng kết chất thơ”. “ Khi Tố Hữu nói về
cái Việt Bắc oai hùng, cái đất thần thánh, thiêng liêng của cách mạng thì hơi thơ
đuối, khí thơ đoản, cái nhiệt tình nóng cháy trên kia tưởng như giảm sút đi”
Cũng như Hoàng Yến, Hoàng Cầm nhận xét:“ Tập thơ Việt Bắc thiếu chất sống
thực tế”, là“ thùng nước loãng”, là“ không hiện thực”, cụ thể khi nhận xét về bài
Cá nước Hoàng Cầm viết: “Tình cảm gặp gỡ giữa anh cán bộ và anh bộ đội cũng
chỉ nhẹ nhàng lớt phớt”. Ở bài Bắn“ Bài thơ tuy có vẻ sôi nổi giục bắn, mà thực ra
bàng quan lạnh lùng”… Lê Đạt nhận xét:“ Tính chất tiểu tư sản và xa thực tế là
hai khuyết điểm căn bản nó cản trở khả năng hiện thực của Tố Hữu. Nó là nguyên
nhân của cái buồn, cái công thức, cái hời hợt rải rác trong tập thơ".
Bác lại các ý kiến trên là những bài viết khẳng định giá trị cơ bản và nổi
bật của tập thơ Việt Bắc, như của Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Vũ Đức Phúc,
Xuân Diệu,… cùng một số bạn đọc. Vũ Đức Phúc nhận xét về tập thơ Việt Bắc,
cụ thể bài thơ Em bé Triều Tiên “những dòng thơ của Tố Hữu, ngoài việc tả
những cảnh thảm thiết, điển hình, có thực, cũng không có một chữ nào nói quá đi
để làm cho người đọc ghê rợn”. Hoài Thanh khẳng định “Cả tập thơ Việt Bắc xây
dựng trên một tình yêu lớn: tình yêu nước. Giá trị tập thơ, tác dụng tập thơ là ở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
5
kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp. Trong nền thơ kháng chiến chống
Pháp không có một tên tuổi nhà thơ nào có được vị trí xứng đáng như nhà thơ Tố
Hữu. Các tác giả khác tên tuổi họ thường chỉ gắn với một hoặc vài bài thơ như
Hoàng Lộc với Viếng bạn, Hồng Nguyên với Nhớ, Tân Sắc với Lên Cấm Sơn,
Trần Hữu Thung với Thăm lúa, Hồ Vi với Lời quê, Quang Dũng với Tây
tiến…Riêng Tố Hữu là sự xuất hiện liên tục, đều đặn những bài thơ được quần
chúng yêu mến, cho đến bài thơ dài Việt Bắc được chọn làm tên chung cho tập
thơ gồm 37 bài được ấn hành ngay sau hoà bình lặp lại 1954.
2.4. Khảo sát văn bản tập thơ Việt Bắc
Tìm hiểu giá trị tập thơ Việt Bắc, trên từng bài riêng lẻ, hoặc chung cho cả
tập thơ, chúng ta không thể không kháo sát quá trình nhà thơ sửa chữa trên từng
bài, và thêm bớt qua mỗi lần tái bản; qua đó thấy nhà thơ đã dụng công như thế
nào để cho Việt Bắc luôn luôn đạt được sự hoàn thiện tối ưu trong tiếp nhận và
cảm xúc thẩm mỹ của người đọc. Chưa có điều kiện khảo sát kỹ tất cả các bài; ở
đây chúng tôi mới chỉ nêu hai trường hợp ghi nhận sự sửa chữa cẩn trọng của tác
giả, từ khi in báo, và được đưa vào sách- đó là bài Lên Tây Bắc và bài Lượm.
● Bài Lên Tây Bắc, đăng lần đầu trên Tạp chí Văn nghệ (số 8, 9 ), tháng 1,
2 năm 1949; với mở đầu:
Các anh đi trước, tôi đi sau
Cũng lá che lưng lá lợp đầu
Bỡ ngỡ anh trông người lính lạ
Theo anh không biết để đi đâu
Sáng nay ra trận lên Tây Bắc
Hai đứa ta cùng đi đánh giặc
Tay anh cắp súng vai đeo dao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
7
Tôi có gì đâu, chỉ cái xắc
Tôi đi như đứa trẻ thơ ngây
Tình cờ chú cháu
Gặp nhau Hàng Bè
Phần cuối bài Lượm in xong ngày 15.4.1948 như sau:
Thư đề "thượng khẩn"
Chú ngã : Ruột phèo
Chú đã chết
Chết.
Chết thật rồi
Lượm ơi!
A chú cười
Híp mí
Chú đồng chí
Chắc bây giờ
Chú nửa ngờ
Chú chưa biết
Chú chết
Chú bé loắt choắt
Phần cuối bài Lượm in xong ngày 15.4.1955 được thay bằng một đoạn thơ khác:
Vụt qua mặt trận
Đạn bay vèo vèo
Thư đề" Thượng khẩn"
Sợ chi hiểm nghèo!
Đường quê vắng vẻ
Lúa trổ đòng đòng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
9
Ca- lô chú bé
Nhấp nhô trên đồng
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, chúng tôi đã được tham khảo và nghiên cứu các tài
liệu sau.
- Toàn bộ thơ ca kháng chiến chống Pháp (1945- 1954)
- Tập thơ Việt Bắc từ văn bản 1 đến văn bản cuối cùng.
- Trong khi tập trung khảo sát tập thơ Việt Bắc, chúng tôi chú ý hai tập thơ
có mối liên hệ kề cận là tập thơ Từ ấy và tập thơ Gió lộng.
- Các công trình, bài viết xung quanh giá trị tập thơ Việt Bắc và về thơ Tố
Hữu nói chung.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn chỉ ra những giá trị nội dung và nghệ thuật của tập thơ Việt Bắc.
- Khẳng định vị trí của tập thơ trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp so sánh- đối chiếu.
- Phương pháp phân tích- tổng hợp.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1: Việt Bắc trong nền thơ Việt Nam từ 1945->1954.
Chương 2: Giá trị nội dung của tập thơ Việt Bắc.
Chương 3: Giá trị nghệ thuật của tập thơ Việt Bắc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
11
CHƢƠNG I
"VIỆT BẮC" TRONG NỀN THƠ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN 1954
1.1. Tổng quan về thơ Việt Nam 1945 đến 1954
nước và giữ nước, đả kích các thế lực tay sai phản động đang điên cuồng tấn công
chính quyền cách mạng. Nền thơ kháng chiến đã thực sự bắt đầu cùng với khí thế
giết giặc cứu nước và phong trào Nam tiến sôi nổi ngay sau khi thực dân Pháp
quay lại xâm lược Miền Nam. Theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, cả nước bước
vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Trên chặng đường chín
năm ấy, thơ ca đã góp phần tích cực vào công cuộc kháng chiến của dân tộc và
xây dựng nên nền móng vững chắc và hết sức cơ bản cho sự phát triển của nền
thơ ca hiện đại.
Trong nền thơ ca kháng chiến, thơ Hồ Chủ tịch có vị trí và ý nghĩa tiêu
biểu. Thơ Bác hướng tới mọi tầng lớp quần chúng nhân dân, khơi dậy sức mạnh
của toàn thể dân tộc. Trong lời kêu gọi của vị lãnh tụ như đã vang vọng lời đáp
của nhân dân. Những bài thơ trữ tình của Bác trong kháng chiến, kết thành chùm
thơ đặc sắc, mở ra một thế giới phong phú, những xúc động tâm tình của vị lãnh
tụ cách mạng, của nhà thơ trong một bối cảnh không gian và lịch sử rộng lớn: đất
nước kháng chiến, thiên thiên đất nước hiện lên đẹp đẽ với những rung cảm trữ
tình, nhưng trung tâm của khung cảnh vẫn là con người, là hình ảnh cuộc kháng
chiến: một tiếng chuông báo tin thắng trận, đội quân du kích đánh giặc trở về, tin
báo tiệp dập dồn chân ngựa Thơ Bác là sự kết tinh cao nhất hiện thực kháng
chiến, tinh thần kháng chiến.
Cả dân tộc bước vào cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện suốt chín năm
để giành lại và bảo vệ chủ quyền, độc lập của dân tộc. Cũng như mọi lĩnh vực
hoạt động văn hóa tinh thần khác, thơ ca đã được huy động vào cuộc chiến đấu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
13
của nhân dân, trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của
con người Việt Nam kháng chiến. Hoài Thanh nhận xét:" Con người kháng chiến
lo lắng, hồi hộp, chờ đợi, hy vọng, phấn khởi, sống dồn trong một hai năm nhiều
hơn những cuộc sống nhạt kéo dài trong hàng thế kỉ. Do đó thấy cần phải có thơ.
Các nhà thơ làm thơ, anh cán bộ chính trị, anh thông tin, anh đội viên binh nhì,
các chị phụ nữ, các em thiếu nhi, hết thẩy đều làm thơ. Hầu hết những con người
những bài thơ theo lối thơ đại chúng. Xuân Diệu có Bà cụ mù lòa, Tặng làng
Còng và tập thơ Mẹ con được viết trong thời gian đi tham gia phát động quần
chúng ở Thanh Hóa. Chế Lan Viên viết Bữa cơm thường trong bản nhỏ, Nhớ lấy
để trả thù. Lưu Trọng Lư dựa trên các điệu dân ca hát giặm, để viết những bài O
tiếp tế, Tiếng hát tăng gia, Ngò cải đơm hoa Nguyễn Bính ở Nam Bộ có hai bài
thơ dài Đồng Tháp Mười và Ông lão mài gươm. Tế Hanh kể chuyện Người đàn
bà Ninh Thuận…Ở thế hệ nhà thơ này diễn ra bước ngoặt chuyển biến với rất
nhiều dằn vặt đớn đau của một qúa trình “lột xác”. Mỗi nhà thơ đều gánh vác
những công tác kháng chiến với tinh thần công dân tích cực. Những chuyến đi
cùng dân công, cùng bộ đội, những đợt tham gia đấu tranh giảm tô và cải cách
ruộng đất, phương châm “cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt”
được hưởng ứng một cách tự giác, đã từng bước làm chuyển biến tư tưởng và tình
cảm nhà thơ, tuy nhanh chậm khác nhau. Nhìn chung, ở lớp nhà thơ này, quá
trình nghiền ngẫm tìm tòi để đổi mới hồn thơ còn kéo dài trên suốt chặng hành
trình kháng chiến, có người viết nhiều, viết khỏe nhưng chưa thật nhuần nhuyễn;
có người viết còn cầu kỳ, rắc rối; có người viết rất ít, hoặc gần như im lặng. Điều
nhận ra ở đây là thơ của họ đã đến với cuộc sống, phản ánh tâm tư nguyện vọng
của quần chúng một cách chân thành. Tuy thành quả chưa nhiều, nhưng mỗi nhà
thơ đều có những bài thơ có ý nghĩa đánh dấu sự chuyển biến của nhận thức, xúc
cảm và bút pháp, góp phần vào thành tựu chung của thơ ca cách mạng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
15
Bộ phận các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến sớm từng bước
khẳng định sức sáng tạo của mình. Họ đã đến được với tiếng nói trữ tình của quần
chúng và đóng góp cho thơ kháng chiến nhiều tác phẩm tiêu biểu. Hoàng Trung
Thông với tập Quê hương chiến đấu, Trần Hữu Thung với Đồng tháng năm và
Dặn con, Minh Huệ với bài Đêm nay Bác không ngủ, Hồng Nguyên với Nhớ, Hồ
Vi với Lời quê Các nhà thơ dân tộc thiểu số như Nông Quốc Chấn, Bàn tài
Đoàn, và nhiều nhà thơ khác đã đem đến cho thơ kháng chiến tiếng thơ độc đáo,
hồn nhiên, mang bản sắc riêng của mỗi dân tộc Phần lớn trong số họ được rèn
của thời đại mới trước hết là một công dân, một cán bộ, hay chiến sĩ, sống với
cuộc đời thực, với mọi gian khổ, buồn vui, lo lắng, hy vọng của con người kháng
chiến, cùng với đông đảo mọi người. Đời sống như vậy đã tác động và làm biến
đổi cách nhìn, cách nghĩ, điệu cảm xúc của người làm thơ.
Các nhà thơ Việt Nam thời kỳ này tề tựu đông đủ trở thành một lực lượng
mạnh, tràn đầy khí thế sôi nổi, đem hết tâm hồn và nghị lực của mình hòa chung
vào dòng thác lớn thời đại, cố gắng nắm bắt hiện thực mới. Họ đã xây dựng nhiều
hình ảnh đẹp về anh bộ đội, những người lính giản dị mà vô cùng anh dũng; về
những người mẹ, người phụ nữ cần cù chịu khó và giàu lòng yêu thương; về
những em bé gan dạ, quên mình vì kháng chiến; về lòng biết ơn sâu sắc với Chủ
tịch Hồ Chí Minh; về những tên đất, tên làng, những trận đánh được phản ánh khá
chi tiết; về những sự việc, chính sách, đường lối kháng chiến được thể hiện khá
nhuần nhị, làm nên diện mạo mới cho nền thơ ca kháng chiến.
Trong nền thơ kháng chiến, tập thơ Việt Bắc là thành công lớn nhất, tiêu
biểu nhất." Chỉ có nhà thơ lớn mới có thể hiểu thấu chất thơ của thời đại mình vì
chất thơ của mọi thời đại trước đó bao giờ cũng dễ hiểu hơn"( H. Hainơ). Tố Hữu
là nhà thơ lớn trước hết theo ý nghĩa ấy. Vậy điều gì đã khiến nhà thơ có được sự
thành công. Đó là: Ông tiếp thu truyền thống thơ ca dân gian, cổ điển của dân tộc,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
17
một sự tiếp nhận sâu và đa diện, tiếp nhận một cách sáng tạo đầy bản lĩnh những
tinh hoa của thơ ca truyền thống, để góp phần diễn tả một cách sinh động những
tư tưởng, tình cảm mới của thời đại. Những sự kiện lịch sử, cảm xúc rất mới đã
được ghi lại trong tập thơ Việt Bắc với ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, tự nhiên, chứa
đựng lối nói, lối nghĩ của quần chúng.
Ngòi bút của Tố Hữu tiến lên nối tiếp truyền thống của các nhà thi hào cổ
điển ở bút pháp hết sức tinh tế, chất trữ tình tha thiết, khêu gợi nhiều hơn diễn tả,
chữ đúc lại với nhau. Là nhà thơ tiếp thu những tinh hoa của các thế hệ nhà thơ
nổi tiếng từ trước 1945 như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Xuân Diệu, Huy
Cận, Lưu Trọng Lư và thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến như
ra được do tâm hồn người:" Tôi ở Vĩnh Yên lên- Anh trên Sơn Cốt xuống- Gặp
nhau lưng đèo Nhe- Bóng tre trùm mát rượi". Đó là chân thành, chân thành. Đó là
Tố Hữu, Tố Hữu. Chúng tôi, một số thi sĩ đã viết thơ từ trước Cách mạng Tháng
Tám, không phải là chúng tôi không biết sào nấu cho thơm điếc mũi lên, nhưng
chúng tôi đứng lặng trước cái chất tình người này: "Một thoáng lặng nhìn nhau-
Mắt đã tìm hỏi chuyện- Đôi bộ quần áo nâu- Đã âm thầm thương mến ". Tố
Hữu còn tìm đến một tâm thế trữ tình mới hướng vào khẳng định, ngợi ca nhân
vật quần chúng bằng cách sáng tạo kiểu trữ tình nhập vai hoặc để cái“ tôi” nhà
thơ lùi lại phía sau làm nổi bật hình ảnh quần chúng".
Vì vậy, Tố Hữu là nhà thơ thời sự thành công nhất trong nền thơ Cách
mạng, có sự khởi đầu tuyệt đẹp từ sau 1945. Chuyện đời vào thơ với tất cả vẻ tươi
tắn, vừa đậm tính dân tộc vừa hiện đại đã truyền cảm trực tiếp vào hàng triệu trái
tim. Điều đó được ghi nhận trong tập thơ Việt Bắc như một bước phát triển mới
sau Từ ấy.
1.2. Con đƣờng thơ Tố Hữu từ tập thơ Từ ấy sang tập thơ Việt Bắc
1.2.1. Từ tập thơ "Từ ấy"
Từ ấy (1937- 1946) là chặng đầu mười năm thơ Tố Hữu cũng là mười năm
hoạt động sôi nổi, say mê từ giác ngộ qua thử thách đến trưởng thành của một
người thanh niên cách mạng trong một giai đoạn lịch sử sôi động của xã hội Việt
Nam. Toàn bộ tập thơ thể hiện cuộc đời của một chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi lao vào
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
19
cuộc đấu tranh cách mạng với tất cả tâm hồn và bầu nhiệt huyết của mình. Là sự
biểu hiện một cách chân thực cái " tôi” hết sức trong sáng, hồn nhiên của một thế
hệ thanh niên khát khao lý tưởng, tự ca hát niềm vui lớn của mình khi bắt gặp lý
tưởng cộng sản chủ nghĩa. Nhà thơ hình dung đó là" mặt trời chân lý" và nguyện
được chiến đấu hy sinh cho lý tưởng ấy:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
được hoạt động.
Suốt ba năm bị giam cầm đày ải trong các nhà tù thực dân, nếm trải nhiều
gian nguy, có lúc đã cận kề bên cái chết, tinh thần và ý chí của người thanh niên
cách mạng được tôi rèn để càng trở nên vững vàng, kiên định. Con cá chột nưa
thể hiện chân thực cuộc đấu tranh nội tâm của người tù để giữ vững khí tiết cách
mạng, được trình bày như một màn kịch với sự xung đột giữa một bên là“ cái bụng”
với một bên là lương tâm của người chiến sĩ, cho dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào thì
người chiến sĩ vẫn phải giữ cho được ý chí, phẩm chất của người cách mạng.
Trải qua cảnh tù đầy khắc nghiệt, tâm hồn người cách mạng trẻ tuổi vẫn
nguyên vẹn sự nhạy cảm, tinh tế, giàu tình thương và luôn tha thiết với cuộc sống.
Nằm trong xà lim Quy Nhơn, tâm hồn nhạy cảm của ông luôn hướng vào cuộc
sống bên ngoài nhà tù, lắng nghe và đón nhận những âm thanh của cuộc sống,
thiên nhiên và con người, từ một tiếng dơi chiều đập cánh, tiếng guốc đi về, một
tiếng rao đêm lọt vào qua cánh cửa nhà tù. Niềm căm hận kiếp tù đày, khát
vọng tự do và ham muốn được hoạt động, tất cả đã dồn tụ để thổi bùng lên một
quyết tâm hành động vượt ngục:
Núi hỡi! Từ đây băng xuống đó
Chừng bao nhiêu dặm, mấy đêm trường?
( Tiếng hát đi đày, 1942)
Sau khi thoát tù, nhà thơ kêu gọi lứa tuổi trẻ hãy mạnh dạn dấn thân vào
cuộc đấu tranh trong thời điểm mà khí thế cách mạng đang sục sôi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
21
Đi, bạn ơi, đi! Sống đủ đầy
Sống trào sinh lực, bốc men say
Sống tung sóng gió thanh cao mới
Sống mạnh, dù trong một phút giây
( Đi, 1944 )
Trong những ngày sôi sục của Cách mạng Tháng Tám và trong niềm vui
tưng bừng của độc lập tự do, hồn thơ Tố Hữu như được chắp cánh bay bổng trong