ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
PHÂN TÍCH LỖI SAI CỦA HỌC SINH VIỆT NAM
TRONG QUÁ TRÌNH SỬ DỤNG CÂU CHỮ “了”
TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
Mã số: N.08.04
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Chủ nhiệm đề tài: TS. Hà Lê Kim Anh Hà Nội tháng 1 năm 2010
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
3.1 Phân tích lỗi sai từng mẫu câu chữ “了” 37
3.1.1 S1“V+了+O” 37
3.1.2 S2“V+了+O+分句” 39
3.1.3 Câu liên động S3 41
3.1.4 S4“V+了+趋向” 42
3.1.5 S5“V+了+V” 43
3.1.6 S6“V+了+动量” 43
3.1.7 S7“V+了+数量” 44
3.1.8 S8 “V+了+时量” 45
3.1.9 Câu tồn hiện S9 47
3.1.10 S10“过+了+时量+分句” 47
3.1.11 S11“V+了” 47
3.1.12 S12 “V+O+了” 49
2
3.1.13 S13“V(+O)+了+分句” 51
3.1.14 S14“V+了+O/时量+了” 51
3.1.15 S15“V(+O)+时量+了” 53
3.1.16 S16“V+O+V+了+时量(+了)” 53
3.1.17 S17“时量+没+V+了” 54
3.1.18 S18“不+V+了” 54
3.1.19 S19 “没有+了” 56
3.1.20 S20 “别+V+了” 57
3.1.21 S21 “数量+了” 57
3.1.22 S22 “快要/要/就要+V+了” 57
3.1.23 S23“太+Adj+了”和 S24“Adj+极了” 58
3.1.24 S25 câu có ngữ khí khẳng định 58
3.1.25 S26 câu có ngữ khí thông báo 59
3.1.26 S27 câu có ngữ khí đề nghị 59
3.2 Một vài kiến nghị trong việc dạy - học câu chữ “了” 59
giai đoạn, đó là so sánh đối chiếu; phân tích lỗi sai; phân tích việc vận dụng ngôn ngữ và
phân tích diễn ngôn. So sánh đối chiếu là giai đoạn mở đầu cho cả quá trình nghiên cứu,
trên thực tế nó không thuộc phạm vi của việc nghiên cứu vấn đề tiếp thụ ngôn ngữ thứ hai.
Vì đối tượng nghiên cứu của so sánh đối chiếu không nhằm vào người học hay quá trình
học tập của người học, mà chủ yếu nhằm vào sự tương đồng và dị biệt trong ngôn ngữ mẹ
đẻ của người học với ngôn ngữ đích, từ đó dự đoán những khó khăn mà người học có thể sẽ
gặp phải, hi vọng giúp người học tránh hoặc giảm thiểu được những lỗi sai trong quá trình
học. Tuy nhiên, cùng với việc đi sâu nghiên cứu, người ta nhận ra rằng những dự đoán của
so sánh đối chiếu đôi khi rất có hạn và không chính xác. Đôi khi dự đoán người học sẽ phát
sinh lỗi ở một phương diện hay nội dung ngôn ngữ nào đó, nhưng thực tế người học lại
không hề mắc lỗi như dự đoán. Ngược lại, có những nội dung mà so sánh đối chiếu dự
đoán sẽ không xuất hiện lỗi sai thì người học lại bị mắc lỗi sai. Chính vì thế, những nhà
nghiên cứu quá trình thụ đắc ngôn ngữ nhận ra rằng, điều đầu tiên là phải chú ý đến lỗi sai
của người học, vì lỗi sai phản ánh quá trình thử nghiệm ngôn ngữ thứ hai của người học, từ
đó người ta có thể phát hiện ra quy luật diễn biến quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai của
người học. Xuất phát từ thực tế này, lý luận ngôn ngữ quá độ (interlanguage) đã xuất hiện.
Hiện nay, lý luận ngôn ngữ quá độ là cơ sở lý luận để giải thích và phân tích lỗi sai
của người học trong quá trình dạy ngôn ngữ thứ hai. Ngôn ngữ quá độ là một hệ thống
ngôn ngữ được tạo thành do người học suy luận và quy nạp các quy tắc của ngôn ngữ đích
trong quá trình học tập. Hệ thống ngôn ngữ này có nhữ
ng biểu hiện khác với hệ thống ngôn
ngữ mẹ đẻ và hệ thống ngôn ngữ đích ở cả các bình diện ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Có
một điều đáng chú ý là hệ thống ngôn ngữ quá độ không phải là bất biến, cùng với thời
gian và trình độ tăng lên của người học, nó sẽ chuyển dịch tiến dần về với hệ thống ngôn
ngữ đích.
Có thể thấy, việc tìm ra và phân tích lỗi sai của người học là một mắt xích vô cùng
quan trọng trong quá trình giảng dạy ngoại ngữ.
2
Chữ “了” trong tiếng Hán hiện đại là một hư từ có tần suất sử dụng cao, có cách
làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận liên quan
Chương 2: Khảo sát và phân loại lỗi sai về câu chữ “了”
Chương 3: Phân tích lỗi sai của từng mẫu câu chữ “了” và một vài kiến nghị trong
việc dạy học câu chữ “了”
4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN
1.1 Giới thiệu trợ từ “了” và câu chữ “了”
1.1.1 Trợ từ “了”
Nguyễn Hoàng Anh, Hà Lê Kim Anh . Nghiên cứu trợ từ “
了
” trong tiếng Hán hiện đại và những hình thức
biểu đạt tương đương trong tiếng Việt. Tr. 7
5
Ví dụ (3) xuất hiện trợ từ “了” ở cuối câu, câu này có vị ngữ là một động từ. Trợ từ
“了” ở cuối câu vừa biểu thị hành động đã xảy ra, vừa có tác dụng ngữ khí làm hoàn chỉnh
câu. Thông thường ở những câu như thế này “了” được coi là “了 1+2”.
Ví dụ (4) cùng lúc xuất hiện hai trợ từ “了”, trong đó “了 1” đứng sau động từ “付”
trước tân ngữ“钱”, biểu thị hành động đã xảy ra, đã hoàn thành, còn “了 2” đứng ở cuối
câu. Trong câu này, tân ngữ cũng là một danh từ thường như ví dụ (2), có điều khác là
trước tân ngữ không có định ngữ đi kèm. Nếu không có sự xuất hiện của “了 2” thì câu sẽ
không tồn tại. Từ ví dụ này chúng ta có thể thấy tác dụng làm hoàn chỉnh câu của trợ từ
ngữ khí “了 2”.
1.1.2 Câu chữ “了”
Câu chữ “了” là những cấu trúc câu xuất hiện trợ từ “了”. Chưa có một thống kê
chính thức cho biết có tổng cộng bao nhiêu cấu trúc dùng chữ “了” trong tiếng Hán hiện
đại. Chúng tôi đã làm một công việc khảo sát các cấu trúc dùng chữ “了” trong tác phẩm
văn học “四世同堂” (老舍) và chọn ra 28 cấu trúc có tần suất sử dụng cao nhất. Cụ thể xin
mời xem bảng dưới đây.
Bảng 1-1: 28 cấu trúc câu chữ “了” trong tiếng Hán hiện đại
Mã số Cấu trúc câu Mã số Cấu trúc câu
S1
V+了+O
S15
V(+O)+时量+了
S2
V+了+O+分句
S16
过+了+时量+分句
S24
Adj+极了
6
S11
V+了
2
S25
肯定语气
S12
V+O+了
S26
通报语气
S13
V(+O)+了+分句
S27
提议语气
S14
V+了+O/时量+了
S28
V+了+没有?
Từ S1 đến S10 là những cấu trúc dùng trợ từ động thái “了 1”. S14 cùng lúc xuất hiện
trợ từ động thái “了 1” và trợ từ ngữ khí “了 2”. Các cấu trúc còn lại dùng trợ từ ngữ khí
“了
2”.
28 cấu trúc câu chữ “了” trên đây chính là phạm vi để chúng tôi khảo sát lỗi sai của
học sinh Việt Nam trong quá trình sử dụng những cấu trúc câu này.
giống với chiến lược được dùng khi học ngôn ngữ thứ nhất. Đó chính là đặc điểm chung
của người học ngôn ngữ thứ hai.
Các nhà nghiên cứu còn tập trung tìm hiểu những nhân tố bên trong và nhân tố bên
ngoài ảnh hưởng đến việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai. Các nhân tố bên trong được các nhà
nghiên cứu chú ý đến bao gồm 3 phương diện: (1) Cơ chế thụ đắc ngôn ngữ (language
acquisition device, LAD); (2) Chuyển di ngôn ngữ (language transfer); (3) Đặc điểm tri
nhận của người học. Các nhà nghiên cứu phát hiện, ai cũng thành công trong việc thụ đắc
ngôn ngữ thứ nhất, trừ khi bạn bị chứng mất khả năng ngôn ngữ hoặc trung khu thần kinh
kiểm soát và điều khiển ngôn ngữ của bạn bị tổn thương. Chomsky (xem 黄冰《第二语言
习得入门》) cho rằng sở dĩ như vậy là vì trong bộ não của mỗi người đều có cơ chế thụ
đắc ngôn ngữ mang tính di truyền, cơ chế này giúp chúng ta có một kiến thức cơ bản về
cấu trúc và đặc điểm của ngôn ngữ loài người, giúp chúng ta có thể học tiếng mẹ đẻ một
cách thuận lợi. Tuy nhiên đến giai đoạn thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, cơ chế thụ đắc ngôn ngữ
này liệu có còn hay không, hoặc có còn phát huy tác dụng nữa hay không? Đây là một
trong những vấn đề nóng hổi trong lĩnh vực nghiên cứu về thụ đắc ngôn ngữ thứ hai hiện
nay. Ngoài ra, khi thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, người học đã có kiến thức nhất định về ngôn
ngữ thứ nhất, những kiến thức này liệu có
ảnh hưởng đến việc tiếp thụ ngôn ngữ thứ hai
hay không? Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, người học sẽ dùng
những quy tắc của ngôn ngữ thứ nhất để lý giải và vận dụng vào ngôn ngữ thứ hai một cách
rất tự nhiên không chủ ý, gây ra hiện tượng chuyển di ngôn ngữ, trong đó có những chuyển
di tích cực có tác động tốt, đồng thời cũng có những chuyển di tiêu cực có tác động xấu ảnh
hưởng đến việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát
triển của ngôn ngữ học tâm lý, người ta cũng chú ý đến ảnh hưởng của đặc điểm tri nhận
của người học đối với việc thụ đắc ngôn ngữ và bắt đầu đứng từ góc độ tri nhận để nghiên
cứu quá trình tâm lý của người học trong việc lý giải, thu nhận ngôn ngữ và sản sinh ngôn
ngữ.
8
Nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến việc thụ đắc ngôn ngữ chủ yếu bao gồm hai
Và thế là đầu những năm 70 của thế kỷ 20 bắt đầu nổi lên trào lưu nghiên cứu lỗi sai của
người học, và lý luận về phân tích lỗi sai cũng ra đời từ đó.
9
Corder (1967, xem 黄冰《第二语言习得入门》, tr.21) cho rằng, việc nghiên cứu lỗi
sai có tính quan trọng nhất định đối với người dạy, người học và người nghiên cứu. Có ba
lý do chính, thứ nhất, lỗi sai có thể giúp người dạy hiểu được tình hình ngôn ngữ của người
học; thứ hai, lỗi sai có thể giúp người nghiên cứu hiểu được người học học ngôn ngữ như
thế nào; thứ ba, lỗi sai là công cụ để người học phát hiện những quy tắc của ngôn ngữ đích.
Như vậy chúng ta có thể thấy được tầm quan trọng của việc nghiên cứu phân tích lỗi sai
của người học.
Nghiên cứu phân tích lỗi sai thường được tiến hành theo năm bước sau: (1) Thu thập
lỗi sai; (2) Nhận biết lỗi sai; (3) Miêu tả lỗi sai; (4) Giải thích lỗi sai; (5) Đánh giá lỗi sai.
Thu thập lỗi sai
Đây là một khâu không thể thiếu trong việc nghiên cứu phân tích lỗi sai. Thông
thường có hai kiểu thu thập lỗi sai, đó là thu thập tại một thời điểm theo diện rộng (cross-
sectional) và thu thập theo thời gian (longitudinal). Kiểu thứ nhất thu thập các loại lỗi sai
của người học vào một thời điểm nhất định, kiểu thứ hai thu thập lỗi sai của người học
trong một khoảng thời gian tương đối dài. Vào những thập kỷ 60, 70 của thế kỷ 20 lỗi sai
của người học chủ yếu được thu thập theo kiểu thứ nhất, nhược điểm của kiểu thu thập này
là khó có thể phát hiện sự thay đổi và phát triển ngôn ngữ của người học.
Nhận biết lỗi sai
Sau khi thu thập lỗi sai thì công việc tiếp theo là phải nhận biết lỗi sai. Đây là một
công việc không hề đơn giản, vì đôi khi chúng ta không thể phán đoán được là người học
sai ở chỗ nào. Ngoài ra, đôi khi chúng ta cũng rất khó phân biệt cái mà người học mắc phải
là lỗi sai (error) hay chỉ là sự nhầm lẫn (mistake). Lỗi sai được gây ra do người học không
hay chưa nắm vững quy tắc ngôn ngữ, và họ không thể tự mình sửa đúng được, còn nhầm
lẫn chỉ do người học đôi khi quá căng thẳng hay mệt mỏi mà nói sai hay viết sai, bản thân
họ đã nắm vững quy tắc ngôn ngữ và tự mình có thể nhận biết và sửa đúng sự nhầm lẫn do
mình gây ra.
thời quá khứ của động từ thì thêm ‘ed’. Việc người học suy luận các quy tắc ngôn ngữ cho
thấy họ không hề học tập một cách thụ động, mà ngược lại, họ sử dụng các quy tắc rất chủ
động và có tính sáng tạo. Tuy nhiên có những quy tắc có ngoại lệ, người học chưa chú ý
đến những ngoại lệ đó nên dẫn đến việc gây ra lỗi sai.
Đôi khi lỗi sai của người học bắt nguồn từ ảnh hưởng của quá trình dạy học. Có thể
do sự giảng giải của người dạy không đúng, hoặc người dạy mong muốn người học nói
hoặc viết những câu hoàn chỉnh về cấu trúc dẫn đến lỗi sai, đặc biệt là lỗi sai về ngữ dụng.
Ví dụ: A: How are you? B: I’m fine. Thank you, and you?
Đây gần như là một đối thoại chuẩn mực được người dạy tiếng Anh luyện cho người
học. Tuy nhiên, ngôn ngữ thực tế của người nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ thực ra không
cứng nhắc như đối thoại trên. Cách tốt nhất để B trả lời sẽ là “How are you” hoặc chỉ đơn
giản là “Fine”. Chính vì sự cứng nhắc của giáo trình và người dạy nên người học sẽ nói
hoặc viết những câu rất đúng quy tắc nhưng lại đầy màu sắc sách vở, thiếu tính sinh động
thực tế. Đây cũng là vấn đề đáng để người dạy quan tâm lưu ý.
11
Đánh giá lỗi sai
Sau khi giải thích lỗi sai, chúng ta cần đánh giá xem đâu là lỗi sai nghiêm trọng, đâu
lỗi sai nhẹ nhàng, đâu là lỗi sai mang tính toàn diện và đâu là lỗi sai mang tính cục bộ.
Thông thường có 3 tiêu chuẩn để đánh giá lỗi sai: (1) Mức độ có thể lý giải (intelligibility);
(2) Mức độ có thể chấp nhận (acceptability); (3) Mức độ mạo phạm (irritation). Khi đánh
giá lỗi sai cần xem xét lỗi sai có ảnh hưởng đến ý nghĩa biểu đạt hay không, mức độ có thể
lý giải cao hay thấp. Ngoài ra, nếu một số câu có thể lý giải, nhưng ngôn ngữ đích chuẩn
mực không biểu đạt như vậy thì sẽ liên quan đến vấn đề mức độ có thể chấp nhận. Còn
mức độ mạo phạm thường liên quan đến vấn đề ngữ dụng. Ví dụ như khi bạn hỏi thẳng một
người phụ nữ châu Âu không thân quen là “How old are you” thì chính là một sự mạo
phạm đối với người phụ nữ này, mặc dù câu của bạn hoàn toàn đúng về mặt ngữ pháp,
nhưng bạn lại phạm lỗi sai về ngữ dụng. Chính vì thế, trong quá trình giảng dạy, người dạy
không nên chỉ chú trọng đến lỗi sai về ngữ pháp của người học. Vì trong quá trình giao tiếp,
lỗi sai về ngữ dụng đôi khi nghiêm trọng hơn lỗi sai ngữ pháp rất nhiều, thậm chí còn làm
nghiên cứu về vấn đề thụ đắc câu chữ “了” trong tiếng Hán.
Kong Lingda (孔令达, 1994)tiến hành miêu tả và phân tích quá trình phát triển câu
chữ “了” của trẻ em Trung Quốc thông qua phương pháp điều tra quan sát và hội thoại. Tác
giả chọn 90 đối tượng bất kỳ từ 1 đến 5 tuổi và chia làm 9 giai đoạn tuổi tác, mỗi giai đoạn
10 đối tượng. Tác giả gọi hư từ “了” xuất hiện giữa câu trong lời nói của đối tượng là “了
a
”, gọi hư từ “了” xuất hiện cuối câu trong lời nói của đối tượng là “了
b
”. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, trẻ em Trung Quốc thụ đắc “了
b
”trước, thụ đắc “了
a
”sau. Tác
giả đã xuất phát từ nội dung ngữ nghĩa và kết cấu ngữ pháp để giải thích hiện tượng này.
Đứng về mặt ngữ nghĩa mà nói, câu dùng“了
b
”thường để nhận xét hoặc miêu tả một sự
việc trước mắt, thời gian xảy ra hành động trong câu cách thời điểm nói không xa. Còn câu
dùng “了
a
”thường dùng để trần thuật lại một sự việc đã xảy ra trong quá khứ, thời gian
xảy ra hành động trong câu thường cách thời điểm nói tương đối dài. Như vậy là câu “了
a
”có một yêu cầu nhất định đối với trí nhớ của trẻ em. Có thể thấy là trẻ em thụ đắc câu
“了
b
”trước câu “了
a
”là phù hợp với sự phát triển hệ thống trí nhớ của các em. Đứng
2
”mà còn xuất hiện
trước cả “了
1
”. Chính vì lý do này, tác giả chủ trương bỏ cách phân chia thành
“了
1+2
”như các học giả khác mà quy cách phân chia này thành “了
2
”.
Sun Dekun (孙德坤, 1993)phân tích quá trình thụ đắc trợ từ “了” của học sinh
nước ngoài thông qua phương pháp khảo sát theo thời gian. Đối tượng khảo sát là hai sinh
viên có tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh, một nam một nữ, thời gian khảo sát kéo dài khoảng một
năm. Kết quả cho thấy, hai sinh viên này thụ đắc “了
2
”trước, thụ đắc “了
1
”sau. Tác
giả căn cứ vào sự chuyển di từ tiếng mẹ đẻ và những đặc điểm của đối tượng khảo sát để
giải thích sự khác nhau trong quá trình thụ đắc trợ từ “了”.
Zhao Lijiang (赵立江, 1997)cũng nghiên cứu việc sử dụng trợ từ “了”của sinh
viên nước ngoài thông qua việc khảo sát theo đuổi cá thể. Đối tượng khảo sát là một người
h
ọc tiếng Hán có tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh, thời gian khảo sát khoảng 2 năm. Kết quả cho
thấy, đối tượng khảo sát phải trải qua một quá trình rất khó khăn, vất vả mới có thể thụ đắc
và nắm bắt trợ từ “了”. Vấn đề nằm ở chỗ, rất nhiều chỗ có thể không cần dùng “了”
thì đối tượng luôn cố gắng dùng“了”, còn những chỗ không nên dùng “了”thì đối
tượng luôn cố gắng dùng thêm “了”. Ngoài ra, đối tượng khảo sát cũng thường xuyên
không nắm được vị trí chính xác của “ 了
1
trong quá trình học tập hư từ “了” tiếng Hán. Tác giả cũng thông qua việc đối chiếu những
nét tương đồng và khác biệt giữa “了” và những hình thức tương đương trong tiếng Hàn để
tìm ra nguyên nhân lỗi sai của người học, đồng thời đưa ra những giải pháp sửa lỗi sai cho
học sinh.
Tóm lại, những nghiên cứu về việc thụ đắc trợ từ “了” bất kể đối tượng là trẻ em
Trung Quốc hay người nước ngoài đều có một kết quả chung là người học thụ đắc “了
2
”
trước “了
1
” sau. Điều này chứng tỏ độ khó của “了
2
” ít hơn “了
1
” .
Tiểu kết
Trợ từ “了” trong tiếng Hán có tần suất sử dụng cao đồng thời cũng là điểm khó đối
với người học tiếng Hán nói chung và người Việt Nam học tiếng Việt nói riêng. Các cấu
trúc câu dùng chữ “了” rất phong phú, đa dạng, trong đó “了” có thể đứng ở sau động từ
trước tân ngữ hoặc đứng ở cuối câu và có thể biểu thị những ý nghĩa ngữ pháp khác nhau.
Nghiên cứu phân tích lỗi sai có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứu
ngôn ngữ qúa độ của người học cũng như quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai của người học.
Những nghiên cứu trước đây về thụ đắc chữ “了” đã chỉ ra rằng người học bất kể là trẻ em
Trung Quốc hay người nước ngoài học tiếng Trung thì đều thụ đắc “了
2
” trước “了
1
” sau.
Tuy nhiên những nghiên cứu trước đây chưa đi sâu vào phân tích miêu tả lỗi sai của người
học trong từng cấu trúc câu chữ “了”, và cũng chưa có một nghiên cứu nào lấy người học
trình độ đối tượng làm 3 loại là sơ cấp, trung cấp và cao cấp. Kết quả điều tra được thể hiện
dưới bảng sau:
Bảng 2-1:Bảng tỉ lệ lỗi sai về “了” trong bài viết của người học
3
Trình độ Số lượng đối tượng
điều tra
Số ví dụ “了”
Số lỗi sai Tỉ lệ lỗi sai
Sơ cấp 15 245 65 26.53%
Trung cấp 51 563 83 14.74%
Cao cấp 80 1004 175 17.43%
Tổng 146 1812 323 17.83% 3
:Tỉ lệ lỗi sai của “了” được tính trên tổng số ví dụ có dùng “了”.
16
2.1.2 Điều tra cá thể
Công việc điều tra cá thể chủ yếu thông qua hình thức ghi âm hội thoại, một phần
nhỏ cũng có khảo sát bài viết của đối tượng điều tra. Đối tượng điều tra bao gồm 6 người,
trong đó có 2 người đang ở giai đoạn đầu của trình độ sơ cấp, thời gian điều tra từ tháng 10
năm 2004 đến tháng 12 năm 2004; 2 người đang ở giai đoạn giữa của trình độ trung cấp,
thời gian điều tra từ tháng 11 năm 2004 đến tháng 4 năm 2005; 2 người đang ở giai đoạn
sau của trình độ sơ cấp, thời gian điều tra từ tháng 3 năm 2005 đến tháng 7 năm 2005. Nội
dung hội thoại chủ yếu là nói chuyện tự do, kể chuyện, có sự tham gia của người điều tra,
đôi khi người điều tra dẫn dắt để đối tượng điều tra sử dụng trợ từ “了”. Hai đối tượng đầu
chỉ là người học ở giai đoạn đầu của trình độ sơ cấp, mới học rất ít cấu trúc câu về “了”,
trong ngữ liệu nói của người học Việt Nam cao hơn rất nhiều so với tỉ lệ lỗi sai trong bài
17
viết. Đây cũng là điều dễ hiểu, vì trong ngữ liệu nói người nói không có nhiều thời gian
giám sát lời nói của mình, người nói chú trọng đến hiệu quả giao tiếp mà không coi trọng
độ chính xác của các cấu trúc ngữ pháp và cách dùng từ. Điều này ngược lại với những câu
văn được viết ra.
Ngoài nguồn ngữ liệu ngữ liệu nói thu thập được, chúng tôi còn thu thập ngữ liệu bài
viết của ba đối tượng E, S, H và lựa chọn những câu liên quan đến “了”. Mục đích của việc
thu thập ngữ liệu này là muốn so sánh tỉ lệ lỗi sai liên quan đến “了” trong ngữ liệu nói và
trong bài viết của những đối tượng này. Kết quả khảo sát thể hiện dưới bảng sau:
Bảng 2-3:Bảng tỉ lệ lỗi sai liên quan đến “了” trong ngữ liệu nói và bài viết
của đối tượng khảo sát cá thể
Bài viết Ngữ liệu nói
Đối
tượng
khảo sát
Số lượng
ví dụ về
“了”
Số lượng
lỗi sai
Tỉ lệ lỗi
sai
Số lượng ví
dụ về “了”
Số lượng
lỗi sai
Tỉ lệ lỗi
S
学生
H
口语
书面语
Kết quả điều tra diện rộng và điều tra theo thời gian cho thấy tỉ lệ lỗi sai liên quan
đến “了” trong tiếng Hán của người học Việt Nam tương đối cao. Điều này liên quan mật
18
thiết đến tần suất sử dụng và độ khó thụ đắc của trợ từ “了” trong tiếng Hán. Bảng 2-1 cho
thấy tỉ lệ lỗi sai của người có trình độ tiếng Hán trung cấp thấp hơn người có trình độ tiếng
Hán cao cấp. Nguyên nhân tỉ lệ câu sai ở đối tượng cao cấp cao hơn đối tượng trung cấp có
thể có hai cách giải thích. Thứ nhất, số lượng câu liên quan đến trợ
từ “了” thu thập được ở
đối tượng cao cấp cao hơn nhiều so với đối tượng trung cấp, vì vậy số lượng câu sai cũng
nhiều hơn. Thứ hai, rất nhiều cấu trúc câu của trợ từ “了” người học được học ở giai đoạn
trung cấp, vì thế ở giai đoạn này họ dễ dàng mô phỏng và sử dụng những cấu trúc câu này,
hơn nữ
a, giai đoạn trung cấp người học sử dụng những cấu trúc câu biểu đạt đơn giản hơn
giai đoạn cao cấp, vì thế lỗi sai ít hơn giai đoạn cao cấp.
2.2 Phân loại lỗi sai
2.2.1 Các loại hình lỗi sai
Căn cứ vào nguồn ngữ liệu thu thập được, chúng tôi nhận thấy lỗi sai của người học
Việt Nam liên quan đến “了” chủ yếu bao gồm 4 loại chính như sau:
(1) Thiếu trợ từ “了”
(2) Thừa trợ từ “了”
(3) Sử dụng nhầm trợ từ “了” với các từ khác
(4) Sử dụng trợ từ “了” sai vị trí
Ngoài ra còn có một số lỗi sai xen kẽ kết hợp vài loại hình lỗi sai khác nhau, chúng
dụ
Tỉ lệ
Ví
dụ
Tỉ lệ
Ví
dụ
Tỉ lệ
Ví
dụ
Tỉ lệ
Sơ cấp
132
74 56.06% 7 5.30% 4 3.00% 0 0.00% 0 0.00%
Trung cấp
113 45 39.82% 3 2.65% 2 1.80% 0 0.00% 0 0.0%
Ngữ
liệu
nói
Tổng
245 119 48.57% 10 4.08% 6 2.50% 0 0.00% 0 0.00%
Sơ cấp
245 41 16.73% 11 4.50% 7 2.90% 6 2.40% 0 0.00%
Trung cấp
563 56 9.95% 12 2.10% 9 1.60% 5 0.90% 1 0.20%
Cao cấp
1004 103 10.26% 31 3.10% 22 2.20% 11 1.10% 8 0.80%
Ngữ
Sơ đồ phân bố câu đúng và lỗi sai của “
了
” trong
ngữ liệu viết
11.04
2.98
2.09
1.21
0.49
82.19
遗漏
添加
误选
错位
其他
正确Kết quả thống kê cho thấy, bất kể là trong ngữ liệu nói hay trong ngữ liệu viết, tỉ lệ
lỗi sai thiếu chữ “了” đều cao hơn nhiều các loại lỗi sai khác. Điều này liên quan mật thiết
đến sự khác biệt giữa “了” và các hình thức biểu đạt tương đương trong tiếng Việt. Đề tài
“Nghiên cứu trợ từ ‘了’ trong tiếng Hán và một vài hình thức biểu đạt tương đương trong
tiếng Việt” của tác giả Nguyễn Hoàng Anh và Hà Lê Kim Anh đã khảo sát việc chuyển
dịch 810 câu tiếng Hán có dùng “了” sang tiếng Việt. Kết quả khảo sát trên cho thấy, số
lượng trợ từ “了” được dịch sang “đã”, “rồi” hoặc “đã…rồi” trong tiếng Việt là rất có hạn,
chỉ chiếm tỷ lệ 20,13%. Trong khi đó có đến 79,87% các câu không được dịch sang “đã”,
“rồi” hoặc “đã…rồi”. Xem xét các câu này của bản dịch tiếng Việt, các tác giả nhận thấy
nếu trong câu tiếng Việt xuất hiện các từ ngữ hay có ngữ cảnh biểu thị kết thúc hoặc báo
hiệu sự hoàn thành của động tác thì hoàn toàn có thể không cần, thậm chí là không thể có
sự xuất hiện của “đã”, “rồi”. Điều này chứng tỏ “了” trong tiếng Hán có một phần tương
dụ
Thiếu Thừa
Tỉ lệ dùng Tỉ lệ sai
Số
Ví
dụ
Thiếu Thừa
Tỉ lệ dùng Tỉ lệ sai
Số
Ví
dụ
Thiếu Thừa
Tỉ lệ
dùng
Tỉ lệ sai
S1
V+了+O
28 10 2 12.07% 5.17% 80 16 4 14.60% 3.65% 181 38 13 18.80% 5.30%
S2
V+了+O+分句
6 2.59% 0.00% 26 1 1 4.74% 0.36% 90 4 9.35% 0.42%
S3
连动句
4 1 1.72% 0.43% 2 1 0.36% 0.18% 5 0.52% 0.00%
S4
V+了+趋向
1 1 0.43% 0.43% 10 2 1.82% 0.36% 8 3 0.83% 0.31%
S5
V+了+V
1 0.43% 0.00% 7 1 1.28% 0.18% 3 0.31% 0.00%
S16
V+O+V+了+时量
2 0.86% 0.00% 0.00% 0.00% 1 1 0.10% 0.10%
S17
时量+没+V+了
1 0.43% 0.00% 7 1 1.28% 0.18% 5 0.52% 0.00%
S18
不+V+了
10 1 2 4.31% 1.29% 28 1 1 5.11% 0.36% 39 3 2 4.05% 0.52%
S19
没有+了
5 1 1 2.16% 0.86% 6 1.09% 0.00% 17 1 1.77% 0.10%
S20
别+V+了
1 0.43% 0.00% 2 0.36% 0.00% 2 0.21% 0.00%
S21
数量+了
2 1 0.86% 0.43% 7 1.28% 0.00% 6 0.62% 0.00%
S22
快要/要/就要+V+了
5 1 2.16% 0.43% 10 1.82% 0.00% 20 1 2.08% 0.10%
S23
太+Adj+了
8 1 3.45% 0.43% 12 2.19% 0.00% 16 1.66% 0.00%
S24
Adj+极了
2 0.86% 0.00% 8 1.46% 0.00% 15 1.56% 0.00%
S25
肯定语气
3 1.29% 0.00% 11 2.01% 0.00% 7 2 0.73% 0.21%
Cấu trúc câu
Số
ví
dụ
Thiếu Thừa
Tỉ
lệ
dùng
Tỉ
lệ
sai
Số
ví
dụ
Thiếu Thừa
Tỉ
lệ
dùng
Tỉ
lệ
sai
S1
V+了+O
31 25 2 24.20% 21.10% 16 13 1 14.40% 10.90%
S2
V+了+O+分句
1 1 0 0.80% 0.80% 4 4 0 3.60% 3.60%
S4
V+了+趋向
0 0 0 0.00% 0.00% 2 2 0 1.80% 1.80%
S19
没有+了
5 2 1 3.91% 2.34% 2 2 0 1.80% 1.80%
S21
数量+了
1 0 0 0.80% 0.00% 3 1 0 2.70% 0.90%
S22
快要/要/就要+V+了
5 5 0 3.90% 3.90% 2 1 0 1.80% 0.90%
S23
太+Adj+了
5 0 0 3.90% 0.00% 0 0 0 0.00% 0.0%
S25
肯定语气
0 0 0 0.00% 0.00% 1 0 0 0.90% 0.0%
Tổng 128 74 7 111 45 3
Từ kết quả khảo sát trên, chúng tôi đã liệt kê thứ tự tần suất xuất hiện và tần suất lỗi
sai các cấu trúc câu dùng “了” trong ngữ liệu viết và trong ngữ liệu nói của người học Việt
Nam. Cụ thể xin mời xem bảng sau: