ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
PHÂN TÍCH LỖI SAI CỦA HỌC SINH VIỆT NAM
TRONG QUÁ TRÌNH SỬ DỤNG CÂU CHỮ “了”
TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
Mã số: N.08.04
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Chủ nhiệm đề tài: TS. Hà Lê Kim Anh
Hà Nội tháng 1 năm 2010
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5. Phương pháp nghiên cứu 2
6. Bố cục đề tài 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN 4
1.1 Giới thiệu trợ từ “了” và câu chữ “了” 4
1.1.1 Trợ từ “了” 4
1.1.2 Câu chữ “了” 5
1.2. Lý luận về thụ đắc ngôn ngữ thứ hai và phân tích lỗi sai 6
1.2.1 Lý luận về thụ đắc ngôn ngữ thứ hai 6
1.2.2 Lý luận về phân tích lỗi sai 8
1.3 Những thành quả nghiên cứu về vấn đề thụ đắc câu chữ “了” 11
Tiểu kết 14
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VÀ PHÂN LOẠI LỖI SAI VỀ 15
CÂU CHỮ “了” 15
2.1 Kết quả điều tra 16
2.1.1 Điều tra diện rộng 16
3.1.20 S20 “趋+V+了” 61
3.1.21 S21 “趋量+了” 61
3.1.22 S22 “快要/要/就要+V+了” 61
3.1.23 S23“太+Adj+了”和 S24“Adj+趋了” 62
3.1.24 S25 câu có ngữ khí khẳng định 62
3.1.25 S26 câu có ngữ khí thông báo 63
3.1.26 S27 câu có ngữ khí đề nghị 64
3.2 Một vài kiến nghị trong việc dạy - học câu chữ “了” 64
Tiểu kết 65
KẾT LUẬN 67
Tài liệu tham khảo 69
Các bài viết liên quan đến đề tài 72
3
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cho đến nay, việc nghiên cứu quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai đã trải qua bốn
giai đoạn, đó là so sánh đối chiếu; phân tích lỗi sai; phân tích việc vận dụng ngôn ngữ và
phân tích diễn ngôn. So sánh đối chiếu là giai đoạn mở đầu cho cả quá trình nghiên cứu,
trên thực tế nó không thuộc phạm vi của việc nghiên cứu vấn đề tiếp thụ ngôn ngữ thứ hai.
Vì đối tượng nghiên cứu của so sánh đối chiếu không nhằm vào người học hay quá trình
học tập của người học, mà chủ yếu nhằm vào sự tương đồng và dị biệt trong ngôn ngữ mẹ
đẻ của người học với ngôn ngữ đích, từ đó dự đoán những khó khăn mà người học có thể
sẽ gặp phải, hi vọng giúp người học tránh hoặc giảm thiểu được những lỗi sai trong quá
trình học. Tuy nhiên, cùng với việc đi sâu nghiên cứu, người ta nhận ra rằng những dự đoán
của so sánh đối chiếu đôi khi rất có hạn và không chính xác. Đôi khi dự đoán người học sẽ
phát sinh lỗi ở một phương diện hay nội dung ngôn ngữ nào đó, nhưng thực tế người học
lại không hề mắc lỗi như dự đoán. Ngược lại, có những nội dung mà so sánh đối chiếu dự
đoán sẽ không xuất hiện lỗi sai thì người học lại bị mắc lỗi sai. Chính vì thế, những nhà
nghiên cứu quá trình thụ đắc ngôn ngữ nhận ra rằng, điều đầu tiên là phải chú ý đến lỗi sai
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu thập ngữ liệu của học sinh Việt Nam liên quan đến câu chữ “了”.
- Phân loại câu sai, tiến hành phân tích, miêu tả lỗi sai.
- Chỉ ra nguyên nhân gây ra lỗi sai.
- Đưa ra những giải pháp có tính khả thi để giảm thiểu lỗi sai câu chữ “了” của học
sinh
5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp
nghiên cứu như thống kê, điều tra khảo sát, phân tích, miêu tả. Trong đó phần điều tra khảo
2
sát dùng cả phương pháp điều tra tại một thời điểm theo diện rộng (cross-sectional) và
phương pháp điều tra theo thời gian (longitudinal).
6. Bố cục đề tài
Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính được chia
làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận liên quan
Chương 2: Khảo sát và phân loại lỗi sai về câu chữ “了”
Chương 3: Phân tích lỗi sai của từng mẫu câu chữ “了” và một vài kiến nghị trong
việc dạy học câu chữ “了”
3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN
1.1 Giới thiệu trợ từ “了” và câu chữ “了”
1.1.1 Trợ từ “了”
Từ “了” trong tiếng Hán hiện đại là một trợ từ được sử dụng với tần số rất cao. Căn
cứ vào ý nghĩa ngữ pháp và vị trí của từ “了” ở trong câu, các nhà ngữ pháp học tiếng Hán
chia trợ từ “了” thành hai loại: trợ từ động thái “ 了 1” và trợ từ ngữ khí “了 2”. Thông
thường, “了 1” đứng ngay sau động từ, nếu có tân ngữ thì “了 1” đứng trước tân ngữ. Trợ từ
động thái “了 1” thường biểu thị một hành động đã xảy ra, đã kết thúc hoặc đôi khi là đã
hoàn thành. Còn trợ từ ngữ khí “了 2” thì luôn đứng ở cuối câu biểu thị một sự thay đổi nào
đó, một hành động đã hoàn thành hoặc đơn thuần chỉ là để hoàn chỉnh câu. Tuy có sự khác
ngữ khí “了 2”.
1.1.2 Câu chữ “了”
Câu chữ “了” là những cấu trúc câu xuất hiện trợ từ “了”. Chưa có một thống kê
chính thức cho biết có tổng cộng bao nhiêu cấu trúc dùng chữ “了” trong tiếng Hán hiện
đại. Chúng tôi đã làm một công việc khảo sát các cấu trúc dùng chữ “ 了” trong tác phẩm
văn học “四世同堂” (老舍) và chọn ra 28 cấu trúc có tần suất sử dụng cao nhất. Cụ thể xin
mời xem bảng dưới đây.
Bảng 1-1: 28 cấu trúc câu chữ “了” trong tiếng Hán hiện đại
Mã số Cấu trúc câu Mã số Cấu trúc câu
S1
V+了+O
S15
V(+O)+趋量+了
S2
V+了+O+分句
S16
V+O+V+了+趋量(+了)
S3
趋趋句
S17
趋量+趋+V+了
S4
V+了+趋向
S18
不+V+了
S5
V+了+V
S19
趋有+了
S6
V(+O)+了+分句
S27
提趋趋趋
S14
V+了+O/趋量+了
S28
V+了+趋有?
Từ S1 đến S10 là những cấu trúc dùng trợ từ động thái “了 1”. S14 cùng lúc xuất hiện
trợ từ động thái “了 1” và trợ từ ngữ khí “了 2”. Các cấu trúc còn lại dùng trợ từ ngữ khí
“了 2”.
28 cấu trúc câu chữ “了” trên đây chính là phạm vi để chúng tôi khảo sát lỗi sai của
học sinh Việt Nam trong quá trình sử dụng những cấu trúc câu này.
1.2. Lý luận về thụ đắc ngôn ngữ thứ hai và phân tích lỗi sai
1.2.1 Lý luận về thụ đắc ngôn ngữ thứ hai
Thụ đắc ngôn ngữ thứ hai là một chuyên ngành nghiên cứu về những phương thức và
quá trình thụ đắc một ngôn ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ của người học. Đối tượng nghiên cứu
chủ yếu của chuyên ngành này là đặc điểm và sự biến hóa phát triển ngôn ngữ thứ hai của
người học, tập trung miêu tả những điểm chung và những khác biệt cá thể trong quá trình
thụ đắc ngôn ngữ thứ hai của người học, đồng thời phân tích những nhân tố bên trong và
nhân tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai.
Quá trình thụ đắc tiếng mẹ đẻ của trẻ em, đặc biệt là về ngữ âm và ngữ pháp thường
tuân thủ theo một trình tự nhất định. Ví dụ khi thụ đắc ngữ âm tiếng Anh, trẻ em sẽ biết đọc
những âm môi như /p/, /b/, /m/ trước, rồi đến các âm răng như /t/, /d/, và sau đó mới đến
các âm ngạc mềm như /k/, /g/. Hoặc như khi thụ đắc các quy tắc ngữ pháp thì trẻ em sẽ
nắm bắt cách dùng của hậu tố thời tiếp diễn “–ing” trước cả quán từ “the” và “a”. Các nhà
nghiên cứu đã đặt ra một câu hỏi, trong môi trường học tập trên lớp học, người học ngôn
ngữ thứ hai liệu có tuân thủ theo một trình tự giống như trẻ em thụ đắc tiếng mẹ đẻ trong
môi trường ngôn ngữ tự nhiên hay không. Felix và Hahn (1985, xem 趋趋《第二趋言趋得
入趋》, tr.1) đã dùng phương pháp quan sát lâu dài để theo dõi quá trình học tập tiếng Anh
của 34 học sinh người Đức trong vòng 8 tháng. Cuộc khảo sát cho một kết quả khá bất ngờ,
di tích cực có tác động tốt, đồng thời cũng có những chuyển di tiêu cực có tác động xấu ảnh
hưởng đến việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát
triển của ngôn ngữ học tâm lý, người ta cũng chú ý đến ảnh hưởng của đặc điểm tri nhận
của người học đối với việc thụ đắc ngôn ngữ và bắt đầu đứng từ góc độ tri nhận để nghiên
cứu quá trình tâm lý của người học trong việc lý giải, thu nhận ngôn ngữ và sản sinh ngôn
ngữ.
7
Nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến việc thụ đắc ngôn ngữ chủ yếu bao gồm hai
phương diện, đó là nhân tố xã hội và việc thu nạp ngôn ngữ. Việc thành bại của việc thụ
đắc ngôn ngữ ở một chừng mực nào đó sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố xã hội.
Môi trường ngôn ngữ tự nhiên và môi trường ngôn ngữ chính quy trên lớp chắc chắn sẽ có
những ảnh hưởng không giống nhau đến việc thụ đắc ngôn ngữ của người học. Ngoài ra,
tầng lớp xã hội của người học, chính sách của nhà nước đối với ngôn ngữ thứ hai đều là
những nhân tố ảnh hưởng đến cơ hội, điều kiện và thái độ của người học. Mặt khác, ngôn
ngữ mà người học tiếp xúc để dung nạp cũng có những ảnh hưởng nhất định đối với việc
tiếp thụ ngôn ngữ thứ hai của người học. Nhìn từ góc độ chất, khi trẻ em thụ đắc ngôn ngữ
thứ nhất, chúng được tiếp xúc với thứ ngôn ngữ đã qua gọt dũa, chỉnh sửa, đơn giản hóa tối
đa cho trẻ em dễ hiểu, điều đó phần nào giúp trẻ em thụ đắc ngôn ngữ thuận lợi hơn. Còn
người học ngôn ngữ thứ hai thì thực tế rất ít được tiếp xúc với loại ngôn ngữ tương tự như
trẻ em được tiếp xúc, vì đương nhiên họ không được coi là trẻ em, trong khi đó thụ đắc
ngôn ngữ thứ hai cũng cần phải dung nạp loại ngôn ngữ dễ hiểu. Nhìn từ góc độ lượng, khi
trẻ em thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất, chúng được ngập chìm trong biển ngôn ngữ, chúng có cơ
hội tiếp xúc với lượng lớn ngôn ngữ tự nhiên từng giờ từng phút. Trong khi đó quá trình
thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, đặc biệt là trong môi trường ngoại ngữ, thì người học chủ yếu chỉ
được dung nạp ngôn ngữ thông qua việc học tập trên lớp, lượng ngôn ngữ có hạn, và thông
thường là ngôn ngữ phi tự nhiên. Những nhân tố này đều ảnh hưởng đến việc thụ đắc ngôn
ngữ thứ hai.
1.2.2 Lý luận về phân tích lỗi sai
Những nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa hành vi cho rằng học tập ngôn ngữ là việc tạo
thói quen hành vi ngôn từ tốt. Người học xuất hiện lỗi sai chứng tỏ họ chưa tạo được thói
là lỗi sai (error) hay chỉ là sự nhầm lẫn (mistake). Lỗi sai được gây ra do người học không
hay chưa nắm vững quy tắc ngôn ngữ, và họ không thể tự mình sửa đúng được, còn nhầm
lẫn chỉ do người học đôi khi quá căng thẳng hay mệt mỏi mà nói sai hay viết sai, bản thân
họ đã nắm vững quy tắc ngôn ngữ và tự mình có thể nhận biết và sửa đúng sự nhầm lẫn do
mình gây ra.
Miêu tả lỗi sai
Sau khi đã nhận biết lỗi sai thì bước tiếp theo sẽ là miêu tả những đặc trưng bên ngoài
của lỗi sai. Có thể phân loại lỗi sai theo phạm trù ngữ pháp, như lỗi sai về danh từ, động từ,
tính từ. Cũng có thể phân loại lỗi sai dựa vào so sánh ngôn ngữ của người học với hình
thức chuẩn mực trong ngôn ngữ đích để tìm ra sự khác biệt, cách này thường chia ra những
loại lỗi sai như thiếu hình thức ngôn ngữ (omission error); thừa hình thức ngôn ngữ
(addition error); sai vị trí (sequential error).
9
Giải thích lỗi sai
Miêu tả lỗi sai thường chỉ dừng ở những đặc trưng bên ngoài của lỗi sai, sau khi miêu
tả còn cần phải giải thích nguyên nhân lỗi sai. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng nguyên
nhân của lỗi sai có rất nhiều, trong đó có 4 nguyên nhân chính: (1) Chuyển di ngôn ngữ
(Transfer); (2) Suy luận quy tắc ngôn ngữ một cách thái quá, hay còn gọi là vượt tuyến
(Overgeneralization); (3) Ảnh hưởng của quá trình dạy học (Transfer of training); (4) Chiến
lược giao tiếp (Communication strategies).
Khi thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, người học đã có những kiến thức nhất định về ngôn
ngữ thứ nhất, những kiến thức này ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến việc thụ đắc ngôn ngữ thứ
hai, người học thường xuyên dựa vào ngôn ngữ thứ nhất để lý giải và vận dụng ngôn ngữ
thứ hai. Ví dụ người học Việt Nam khi học tiếng Hán sẽ có những câu sai như “ 我趋趋趋
趋在北京”, nguyên nhân là do người học đã chuyển di quy tắc trạng ngữ nơi chốn đặt sau
động từ trong tiếng mẹ đẻ sang tiếng Hán, mà không biết rằng trạng ngữ trong tiếng Hán
phải đặt trước động từ. Những lỗi sai do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ được gọi là lỗi sai giữa
hai ngôn ngữ (interlingual error), những lỗi sai do chưa hiểu hết các quy tắc của ngôn ngữ
đích được gọi là lỗi sai trong ngôn ngữ (intralingual error).
Trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ, người học đôi khi còn suy luận quy tắc ngôn ngữ
tiếp, lỗi sai về ngữ dụng đôi khi nghiêm trọng hơn lỗi sai ngữ pháp rất nhiều, thậm chí còn
làm cho giao tiếp thất bại. Người dạy cần giúp người học nắm được các quy tắc ngữ dụng
của ngôn ngữ đích, tránh mắc lỗi sai về ngữ dụng.
Tóm lại, nghiên cứu phân tích lỗi sai có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu thụ
đắc ngôn ngữ thứ hai, việc nghiên cứu phân tích lỗi sai cho chúng ta thấy rằng học tập
ngoại ngữ là một quá trình sáng tạo. Người học không hề thụ đắc kiến thức một cách máy
móc thụ động mà họ luôn chủ động vận dụng những kiến thức đã có về tiếng mẹ đẻ hay về
chính ngôn ngữ đích để sử dụng ngôn ngữ đích một cách sáng tạo. Lỗi sai của người học
không hề đáng sợ, lỗi sai thể hiện sự phát triển ngôn ngữ của người học. Trong quá trình
học ngôn ngữ thứ hai, phát sinh lỗi sai là chuyện hoàn toàn bình thường, người học sẽ trải
qua quá trình “không hiểu xuất hiện lỗi sai sử dụng đúng”. Nghiên cứu lỗi sai của
người học sẽ giúp người dạy hiểu tốt hơn quá trình phát triển ngôn ngữ của người học, từ
đó có những giải pháp hữu hiệu cho việc dạy học.
1.3 Những thành quả nghiên cứu về vấn đề thụ đắc câu chữ “了”
Trợ từ “了” được giới ngôn ngữ Trung Quốc chú ý nghiên cứu từ rất lâu và đã đạt
được những thành quả khả quan. Nổi bật nhất là những nghiên cứu của 趋 叔 湘 ( Lv
11
Shuxiang,1980), 朱德熙(Zhu Dexi,1982), Li and Thompson (1983). Các tác giả này
đều chia “了” thành hai từ khác biệt, tuy mỗi người có cách đặt tên khác nhau cho hai trợ
từ “了”, nhưng nhìn chung họ đều công nhận trợ từ “了” đứng sau động từ trước tân ngữ
dùng để biểu thị thể hoàn thành của hành động, còn trợ từ “ 了” đứng ở cuối câu thường
biểu thị ngữ khí. Sau này, một số học giả như 趋趋趋(Liu Xunning,1990) , 竟成(Jing
Cheng,1993), 趋趋德(Zheng Huaide,1993), 趋月趋(Liu Yuehua,2001) tiếp tục
nghiên cứu về trợ từ “了” và một số cấu trúc câu chữ “了”. Các học giả đều có một nhận
định chung là từ “了” đứng sau động từ và từ “了” đứng ở cuối câu có mối liên hệ sâu sắc
về ý nghĩa và chức năng ngữ pháp. Trong đề tài “Nghiên cứu trợ từ “了” trong tiếng Hán
hiện đại (đối chiếu với một vài hình thức tương đương trong tiếng Việt)”, chúng tôi đã có
những tổng kết khá chi tiết về thành quả nghiên cứu trợ từ “了” của các học giả Trung
Quốc. Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi muốn chú trọng giới thiệu những thành quả
nghiên cứu về vấn đề thụ đắc câu chữ “了” trong tiếng Hán.
pháp mà nói, câu “了
b
”có thể rất ngắn, thậm chí chỉ gồm 2 từ, ví dụ như “吃了”(ăn rồi),
còn câu “了
a
”ít nhất phải có 3 từ. Tác giả còn chỉ ra, rất nhiều từ “了”trong các câu nói đầu
tiên dùng “了”của trẻ có thể hiểu là “了
1+2
”như nhiều nhà ngữ pháp học Trung Quốc vẫn
nhận định. Nếu “了
1+2
”kiêm chức năng của cả “了
1
”và“了
2
”thì về lý thuyết nó phải khó
hiểu hơn và khó dùng hơn “了
1
”và“了
2
”, và đáng ra nó phải được thụ đắc sau “了
1
”và“了
2
”. Nhưng trên thực tế, trong các câu nói của trẻ em thì“了
1+2
”không những xuất hiện cùng
lúc với “了
2
”mà còn xuất hiện trước cả “了
thời gian học, nhưng khi đạt đến một trình độ tiếng Hán nhất định thì tỉ lệ lỗi sai về trợ từ “
13
了
”vẫn lớn hơn nhiều so với các lỗi sai ngữ pháp khác. Điều này một lần nữa khẳng định
trợ từ “ 了
”là một điểm khó đối với người học.
Deng Shouxin (趋守信, 1999)đã tiến hành nghiên cứu khảo sát tình hình thụ đắc
các cấu trúc ngữ pháp của người học tiếng Hán có tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh dựa trên kho
ngữ liệu tiếng Hán với tư cách là ngôn ngữ thứ hai của trường Đại học Sư phạm Đài Loan.
Kết quả khảo sát cho thấy, người học thụ đắc “了
2
”tương đối sớm, còn “了
1
”phải trải qua
thời gian vài năm với tỉ lệ sai tương đối lớn mới dần được thụ đắc.
Yu Youlan (余又趋) đã thảo luận phương pháp giảng dạy tiếng Hán tại nước Anh dựa
trên một đặc điểm nổi bật của giảng dạy tiếng Hán ở bậc đại học tại nước Anh là thông qua
phương pháp phiên dịch để giới thiệu điểm ngữ pháp, đồng thời tác giả cũng thu thập ngữ
liệu ngữ liệu nói và bài viết của người học để phân tích việc học hư từ “ 了” của người học
tại nước Anh. Kết quả khảo sát cho thấy, người học nắm bắt các thực từ và các hư từ khác
tốt hơn hư từ “了”. Tác giả chỉ ra việc người học không nắm vững cách sử dụng hư từ “了”
cho thấy những nhược điểm của phương pháp phiên dịch.
Han Zaijun (趋在均,2003) phân tích các loại hình lỗi sai của sinh viên Hàn Quốc
trong quá trình học tập hư từ “了” tiếng Hán. Tác giả cũng thông qua việc đối chiếu những
nét tương đồng và khác biệt giữa “了” và những hình thức tương đương trong tiếng Hàn để
tìm ra nguyên nhân lỗi sai của người học, đồng thời đưa ra những giải pháp sửa lỗi sai cho
học sinh.
Tóm lại, những nghiên cứu về việc thụ đắc trợ từ “ 了” bất kể đối tượng là trẻ em
CÂU CHỮ “了”
Chúng tôi kết hợp hai hình thức điều tra là điều tra tại một thời điểm theo diện rộng
(cross-sectional) và điều tra theo thời gian (longitudinal) một vài cá thể, thông qua việc thu
thập ngữ liệu nói và bài viết của người học ở các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao cấp.
Trên cơ sở ngữ liệu thu thập được, chúng tôi tiến hành phân loại lỗi sai liên quan đến trợ từ
“了” của người học Việt Nam, đồng thời tiến hành phân tích và giải thích nguyên nhân lỗi
sai dựa trên lý luận về so sánh đối chiếu, thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, ngôn ngữ quá độ của
người học và lý luận tính phổ biến của ngôn ngữ.
15
2.1 Kết quả điều tra
2.1.1 Điều tra diện rộng
Chúng tôi tiến hành thu thập bài viết và bài phiên dịch tiếng Hán từ tháng 2 năm 2003
đến tháng 1 năm 2005 của người học Việt Nam tại trường Đại học Trung Sơn các bậc tiến
tu, cử nhân và cao học; bài viết và bài thi môn phiên dịch học kỳ 2 năm học 2003-2004 của
sinh viên năm thứ 3 Khoa Ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc trường Đại học Ngoại ngữ
Đại học Quốc gia Hà Nội. Tập hợp các câu liên quan đến trợ từ “了”, đơn vị tính là câu, tuy
nhiên có những câu “了” cùng lúc xuất hiện không chỉ một lần, vì thế chúng tôi coi mỗi lần
“了” xuất hiện được tính là một ví dụ. Chúng tôi căn cứ vào lớp học của người học chia
trình độ đối tượng làm 3 loại là sơ cấp, trung cấp và cao cấp. Kết quả điều tra được thể hiện
dưới bảng sau:
Bảng 2-1:Bảng tỉ lệ lỗi sai về “了” trong bài viết của người học
3
Trình độ Số lượng đối tượng
điều tra
Số ví dụ “了”
Số lỗi sai Tỉ lệ lỗi sai
Sơ cấp 15 245 65 26.53%
Trung cấp 51 563 83 14.74%
Cao cấp 80 1004 175 17.43%
Tổng 146 1812 323 17.83%
ghi âm
Ví dụ
về “了”
Số lỗi sai Tỉ lệ lỗi sai
F Sơ cấp 1 4 360 phút 16 10 62.50%
L Sơ cấp 1 2 120 phút 28 21 75.00%
E Sơ cấp 2 5 320 phút 64 40 62.50%
S Sơ cấp 2 4 235 phút 28 18 64.30%
H Trung cấp 4 420 phút 85 36 42.40%
Z Trung cấp 4 420 phút 28 14 50.00%
Tổng 24 1960 phút 249 139 55.80%
So sánh bảng 2-1 và bảng 2-2 có thể thấy rằng tỉ lệ lỗi sai liên quan đến chữ “ 了”
trong ngữ liệu nói của người học Việt Nam cao hơn rất nhiều so với tỉ lệ lỗi sai trong bài
viết. Đây cũng là điều dễ hiểu, vì trong ngữ liệu nói người nói không có nhiều thời gian
giám sát lời nói của mình, người nói chú trọng đến hiệu quả giao tiếp mà không coi trọng
độ chính xác của các cấu trúc ngữ pháp và cách dùng từ. Điều này ngược lại với những câu
văn được viết ra.
Ngoài nguồn ngữ liệu ngữ liệu nói thu thập được, chúng tôi còn thu thập ngữ liệu bài
viết của ba đối tượng E, S, H và lựa chọn những câu liên quan đến “了”. Mục đích của việc
thu thập ngữ liệu này là muốn so sánh tỉ lệ lỗi sai liên quan đến “了” trong ngữ liệu nói và
trong bài viết của những đối tượng này. Kết quả khảo sát thể hiện dưới bảng sau:
17
Bảng 2-3:Bảng tỉ lệ lỗi sai liên quan đến “了” trong ngữ liệu nói và bài viết
của đối tượng khảo sát cá thể
Bài viết Ngữ liệu nói
Số lượng
ví dụ về
“了”
Số lượng
lỗi sai
Căn cứ vào nguồn ngữ liệu thu thập được, chúng tôi nhận thấy lỗi sai của người học
Việt Nam liên quan đến “了” chủ yếu bao gồm 4 loại chính như sau:
(1) Thiếu trợ từ “了”
(2) Thừa trợ từ “了”
(3) Sử dụng nhầm trợ từ “了” với các từ khác
(4) Sử dụng trợ từ “了” sai vị trí
Ngoài ra còn có một số lỗi sai xen kẽ kết hợp vài loại hình lỗi sai khác nhau, chúng
tôi liệt kê vào một loại thứ 5, gọi chung là loại hình lỗi sai khác. Trong các loại hình lỗi sai,
tỉ lệ lỗi sai thiếu chữ “了” chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn so với các loại lỗi sai khác. Kết quả khảo
sát các loại hình lỗi sai thể hiện dưới bảng sau:
Bảng 2-4:Bảng phân bố các loại hình lỗi sai về “了”của người học Việt Nam
Ví dụ
“了”
Thiếu Thừa Chọn sai Sai vị trí Lỗi khác
Ví dụ Tỉ lệ
Ví
dụ
Tỉ lệ
Ví
dụ
Tỉ lệ
Ví
dụ
Tỉ lệ
Ví
dụ
Tỉ lệ
Sơ cấp
132
74 56.06% 7 5.30% 4 3.00% 0 0.00% 0 0.00%
lượng trợ từ “了” được dịch sang “đã”, “rồi” hoặc “đã…rồi” trong tiếng Việt là rất có hạn,
chỉ chiếm tỷ lệ 20,13%. Trong khi đó có đến 79,87% các câu không được dịch sang “đã”,
“rồi” hoặc “đã…rồi”. Xem xét các câu này của bản dịch tiếng Việt, các tác giả nhận thấy
nếu trong câu tiếng Việt xuất hiện các từ ngữ hay có ngữ cảnh biểu thị kết thúc hoặc báo
hiệu sự hoàn thành của động tác thì hoàn toàn có thể không cần, thậm chí là không thể có
sự xuất hiện của “đã”, “rồi”. Điều này chứng tỏ “了” trong tiếng Hán có một phần tương
ứng với “đã”, “rồi”, và phần lớn là tương ứng với các từ ngữ khác hoặc khoảng trống từ
ngữ trong tiếng Việt. Đây chính là nguyên nhân vì sao trong khi nói và viết tiếng Hán,
người học Việt Nam lại xuất hiện nhiều lỗi sai thiếu trợ từ “了” đến vậy.
21