MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi lợn là một ngành có tầm quan trọng rất lớn trong đời sống xã
hội nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng ở Việt Nam. Đây là nguồn cung
cấp một lượng lớn thực phẩm với chất lượng tốt, đảm bảo cho nhu cầu và đời
sống của con người. Nguyễn Thanh Sơn (2010) [ ] tính tới thời điểm tháng 4
năm 2010 cả nước ta có 27,3 triệu đầu lợn. Trong đó có 4,18 triệu lợn nái.
Tổng sản lượng thịt ước tính trong 6 tháng đầu năm 2010 đạt 1,77 triệu tấn,
tăng hơn cùng kỳ năm 2009 khoảng 3,5%. Kết quả đạt được ở trên là có sự
đóng góp lớn của những tiến bộ kỹ thuật về giống, thức ăn dinh dưỡng.
Sơn La là một tỉnh có tiềm năng lớn về nguồn thức ăn nguyên liệu cho
chăn nuôi đặc biệt là ngô sản lượng ngô đạt 135,8 ngàn tấn /năm, Niên giám
thống kê Việt Nam (2007)[2] và cũng là một thị trường có tiềm năng tiêu thụ
lớn các sản phẩm về chăn nuôi nói chung và thịt lợn nói riêng (nhu cầu thực
phẩm cho nhân dân trong tỉnh và cung cấp cho hàng vạn công nhân công
trường thủy điện Sơn La). Giá thịt lợn tại thị trường Sơn La thường cao hơn
so với thị trường Hà Nội cùng thời điểm 10-15%. Tuy nhiên chăn nuôi lợn tại
đây phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của thị trường, nguồn con
giống và thịt lợn còn phụ thuộc vào thị trường ngoài… và đây là một trong
những trở ngại lớn, nó không chỉ làm tăng giá sản phẩm mà còn là nguy cơ
làm lây lan dịch bệnh. Thời gian gần đây trên địa bàn tỉnh đã nhập về một số
lượng lớn lợn nái ngoại, lợn nái lai, lợn đực giống ngoại và lợn đực lai như
lợn Landrace, Yorkshire, Duroc và lợn lai F1 (Landrace x Yorkshire), F1
(Pietrain x Duroc)…
Để phát huy hết khả năng sản xuất và chất lượng thịt của các giống lợn
này, ngoài việc cung cấp đầy đủ nhu cầu về các chất dinh dưỡng như: Protein,
1
axít amin, enzyme, vitamin… Ta thường phải sử dụng kháng sinh để phòng,
chống các bệnh nhiễm khuẩn, nhất là nhiễm khuẩn đường tiêu hoá, đồng thời
để kích thích sinh trưởng ở lợn thịt. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh trong
chăn nuôi lợn sẽ gây tích lũy kháng sinh trong thịt gây ra tình trạng nhờn
ứng dụng các chế phẩm Na butyrate, trong chăn nuôi lợn thịt hiện nay trên
địa bàn, đồng thời có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy,
học tập của ngành chăn nuôi thú y. Ngoài ra, đây còn là cơ sở khoa học cho
những nghiên cứu tiếp theo nhằm nâng cao khả năng ứng dụng các chế
phẩm trong chăn nuôi lợn thịt.
*Ý nghĩa thực tiễn trong chăn nuôi lợn của tỉnh Sơn La
- Cung cấp chế phẩm Na butyrate, để mở rộng phát triển chăn nuôi
lợn thịt hướng nạc trong điều kiện hiện nay trên địa bàn tỉnh, góp phần vào
công tác chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong lĩnh vực chăn nuôi lợn
nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt theo hướng tạo ra sản phẩm chăn
nuôi an toàn.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1 Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hoá và sinh lý tiêu hoá của lợn
2.1.1.1. Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa của lợn
Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [3] cho biết dạ dày lợn là dạ dày
trung gian giữa dạ dày đơn và dạ dày kép, bao gồm 5 phần như: dạ dày đơn
vùng thực quản (nhỏ), vùng manh nang, vùng thượng vị, vùng thân vị và
vùng hạ vị. Vùng thực quản không có tuyến, vùng manh nangvà thượng vị có
tuyến tiết ra dịch nhầy không có pepsin và HCl.
Theo Nguyễn Thiện và cs, (1998) [4], ruột non của lợn dài gấp 14 lần
chiều dài cơ thể gồm 3 phần: Phần tá tràng, khổng tràng và hồi tràng. Ruột
già dài khoảng 4 - 5 m gồm 3 đoạn: manh tràng, kết tràng và trực tràng.
Hệ tiêu hoá của lợn thay đổi khối lượng, kích thước và thể tích tuỳ
theo giống, thức ăn, phương thức chăn nuôi. Lợn nuôi theo hướng mỡ, chăn
thả, quảng canh ăn nhiều thức ăn thô thì bộ máy tiêu hoá to hơn, dài hơn so
với lợn hướng nạc. Do đặc điểm cấu tạo tiêu hoá mà lợn có các đặc điểm tạp
ăn, chịu đựng kham khổ và có khả năng lợi dụng thức ăn thô xanh cao, nhất
trơn nhào trộn thức ăn, cùng với đó là các men tiêu hóa thấm vào thức ăn.
Men trypsinogen nhờ tác dụng của axit HCL trở thành trypsin hoạt động,
men này thủy phân protid thành axit amin và peptid để dạ dày và ruột non
hấp thu. Ở dạ dày lợn nhu động yếu nên thức ăn có hiện tượng xếp lớp do
vậy những thức ăn bên ngoài được tiêu hóa trước. Hàm lượng HCL trong
dịch vị tăng dần để đạt tới sự ổn đinh gắn liền với sự hoàn chỉnh về cấu tạo
và chức năng của dạ dày lợn.Ở lợn con hàm lượng HCl là 0,05-0,15%, lợn 90
5
ngày tuổi 0,2-0,25 % còn ở lợn trưởng thành hàm lượng HCl là 0,35-0,40 %
(Nguyễn Thiện và cs (1998)[5]
Ruột non của lợn dài 14-18 m, tiêu hóa ở ruột non là nhờ tác dụng của
các dich tiêu hóa như: Dịch tụy, dịch ruột, dịch mật và các dịch tiết từ các cơ
quan tiêu hóa phía trên đưa xuống. Lợn có khối lượng 100 kg tiết 8 lít dịch
tụy trong một ngày đêm và sự phân tiết này còn phụ thuộc vào các loại thức
ăn, cách chế biến và cách cho ăn…
Theo A.V.Kvasnhiski (1951) lợn con 20- 30 ngày tuổi, dich tụy phân
tiết trong một ngày đêm 150-300 ml và sự phân tiết này tăng dần theo lứa
tuổi: 3 tháng tuổi là 3,5 lít và từ 7 tháng tuổi trở lên là 10 lít/ ngày đêm. Sự
biến đổi khả năng phân tiết dịch tụy theo tuổi trái với sự biến đổi của dịch vị.
Trong thời kỳ thiếu HCl trong dịch vị, hoạt tính của dịch tụy rất cao để bù lại
khả năng tiêu hóa kém của dạ dày. Ở lợn trưởng thành dịch vị dạ dày phân
tiết có tính liên tục nhưng không đều, khi ăn tiết nhiều, không ăn tiết ít hơn,
buổi sáng tiết ít hơn buổi chiều.
Các nghiên cứu kỹ lưỡng về đặc điểm phân tiết các loại dịch tiêu hóa,
các nhân tố ảnh hưởng… đã được tiến hành bởi các tác giả: Trần Cừ và cs
(1975) [6] và đi tới các nhận xét có ý nghĩa ứng dụng là: Số lượng và chất
lượng các loại dịch tiêu hóa ở đường tiêu hóa của lợn thay đổi phụ thuộc vào
loại thức ăn, phương pháp cho ăn và nhất là phương pháp chế biến thức ăn.
Nếu thức ăn được chế biến tốt sẽ nâng cao được hiệu suất tiêu hóa, tỷ lệ lợi
dụng thức ăn từ đó nâng cao khả năng sinh trưởng của lợn.
của vi khuẩn đường ruột và vi khuẩn gây thối như mật, dịch vị và tác động
đối kháng của các vi khuẩn khác nhau.
* Hệ vi sinh vật ở khoang miệng
7
Khoang miệng là bộ phận đầu tiên của đường tiêu hóa, tiếp xúc với
thức ăn, nước uống và môi trường sống bên ngoài, do đó có sự cảm nhiễm vi
sinh vật từ các nguồn trên. Trong nước bọt và dịch bài tiết của niêm mạc có
men kháng khuẩn lisozyme có tác dụng tiêu diệt một số vi sinh vật.
* Hệ vi sinh vật ở dạ dày
Trong dạ dày có một lượng axit HCL rất lớn (0,2%). Axit trong dịch vị
dạ dày có tác dụng ức chế với nhiều loại vi sinh vật, do vậy phần lớn vi sinh
vật từ thức ăn, nước uống đưa vào đều bị tiêu diệt. Số lượng vi khuẩn ở dạ
dày rất ít do tác dụng diệt khuẩn của axit dạ dày gồm các vi khuẩn lên men
(Saccharomyces minor, vidiumlactic) trực khuẩn lactic (Lacto bacillus
beljerincke…). Ngoài ra còn có trực khuẩn phó thương hàn đi qua dạ dày
xuống ruột.
* Hệ vi sinh vật của ruột non
Ruột non chiếm 2/3 đến 3/5 chiều dài ruột nhưng lượng vi khuẩn lại
rất ít. Khi dịch vị dạ dày vào ruột non vẫn còn tác dụng sát khuẩn, ngoài ra
dịch do niêm mạc bài tiết ra cũng có tác dụng sát khuẩn…, ở ruột non chứa
một số ít vi khuẩn có trong dạ dày xuống. Trong ruột non chủ yếu là E.coli,
cầu khuẩn, trực khuẩn hiếu khí, yếm khí có nha bào, Aerobacter aerogenes. Ở
gia súc non có thêm Steptococcus lactic, trực khuẩn lactic Lactobacterium
bulgaricum, từ hồi tràng số lượng vi khuẩn bắt đầu tăng lên.
* Hệ vi sinh vật của ruột già
Số lượng vi sinh vật ở ruột già tăng hơn nhiều so với ruột non do tác
dụng khử trùng của ruột đã không còn, mà các điều kiện về dinh dưỡng, độ
ẩm, nhiệt độ lại thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật.
Hệ vi sinh vật chủ yếu là E.coli, cầu khuẩn, trực khuẩn có nha bào
entrococcus. Gia súc trưởng thành E.coli chiếm 75% trở lên. Trong ruột già
hiện qua công thức: G = A + D + I. Trong đó:
A: là giá trị cộng gộp hay giá trị giống (Additive value or Breeding
value)
D: là sai lệch trội (Dominance deviation)
I: là sai lệch tương tác (Interaction deviation)
A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác
định được và di truyền cho đời sau. Hai thành phần D và I cũng có vai trò
quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thấp nhất con
đường thực nghiệm.
Các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng của sai lệch môi trường (E)
gồm có 2 loại:
- Sai lệch môi trường chung (Eg): (General Environmental deviation) là
sai lệch do các nhân tố môi trường tác động thường xuyên lên tính trạng một
cách lâu dài. Các yếu tố đó là: thức ăn, khí hậu, chế độ chăm sóc… tác động
lên một nhóm cá thể hay một quần thể gia súc (Nguyễn Văn Thiện và cs
1995, 1996 [11], [50, 3 – 798]).
- Sai lệch môi trường riêng (Es): (Special Environmental deviation) là
sai lệch do các nhân tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể riêng biệt
trong nhóm vật nuôi, hoặc một vài bộ phận riêng biệt của một cá thể nào đó
trong quần thể trong một thời gian ngắn và không thường xuyên, [12].
Như vậy khi giá trị kiểu hình của một tính trạng nào đó chi phối bởi từ
2 locus trở lên thì giá trị ấy được biểu thị như sau: P = G + E = A + D + I +
Eg + Es.
Từ những phân tích ở trên cho thấy, các tính trạng năng suất ở lợn cũng
như ở các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các
yếu tố môi trường. Các vật nuôi khác nhau đều nhận được từ bố mẹ chúng
10
một vốn di truyền nhất định. Nhưng tiềm năng di truyền ấy thể hiện cao hay
thấp phụ thuộc rất lớn vào môi trường sống của chúng, đặc biệt là các yếu tố:
khí hậu, thức ăn, nuôi dưỡng, chăm sóc quản lý. Vì thế trong công tác giống
tác giả như G.A.Clayton, T.C.Powell, (1979) [17] và A.S.Marco, 1982 cho
biết: tốc độ sinh trưởng là tính trạng có hệ số di truyền cao (h
2
= 0,4 – 0,5) và
liên quan chặt chẽ tới các đặc điểm trao đổi chất đặc trưng cho từng dòng,
giống, cá thể. Từ tất cả các quan điểm trên, có thể rút ra bản chất sinh học về
sự sinh trưởng ở lợn cũng như các gia súc như sau: sinh trưởng là một quá
trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều dài,
chiều cao, bề ngang, thể tích, khối lượng các cơ quan bộ phận và toàn bộ cơ
thể con vật trên cơ sở các tính chất di truyền từ đời trước truyền lại (Trần
Đình Miên và cs, 1975 [20]).
- Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng
Trong chăn nuôi lợn và các gia súc, gia cầm người ta thường dùng 3 chỉ
tiêu đánh giá tốc độ sinh trưởng là sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối
và sinh trưởng tương đối.
Sinh trưởng tích lũy: Là sự tăng lên về khối lượng cơ thể, kích thước
theo thời gian khảo sát
Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng, thể tích và kích
thước các chiều cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát (TCVN,
1977) [18], đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của lợn có dạng Parabol.
Tốc độ sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối
lượng, thể tích và kích thước các chiều cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc
đầu khảo sát (TCVN, 1977) [19]. Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn có
dạng Hyperbol, tốc độ sinh trưởng tương đối giảm dần theo tuổi của gia súc.
12
- Các chỉ tiêu đánh giá năng suất thịt
Khối lượng sống: là khối lượng giết mổ của lợn sau khi cho nhịn ăn 24
giờ.
Khối lượng thịt móc hàm (kg) và tỷ lệ thịt móc hàm (%)
Khối lượng thịt móc hàm là khối lượng thịt lợn sau khi đã chọc tiết, cạo
sinh trưởng. Con sinh ra tiếp thu từ bố mẹ và truyền lại cho đời sau khả năng
sinh trưởng mang tính đặc thù của dòng, giống. Tính di truyền về khả năng
sinh trưởng ảnh hưởng tới năng suất vật nuôi. Ảnh hưởng của dòng, giống
đến sự sinh trưởng được nhiều tác giả nghiên cứu và khẳng định trên các loại
gia súc gia cầm.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [26] cho biết: Yếu tố di truyền là
một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh
trưởng phát dục của lợn. Quá trình sinh trưởng phát dục của lợn tuân theo các
quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau. Do
ảnh hưởng của các tuyến nội tiết và hệ thống thần kinh mà hình thành nên sự
khác nhau giữa các giống lợn nguyên thuỷ và các giống lợn đã được cải tiến
cũng như các giống lợn thành thục sớm và giống lợn thành thục muộn. Sự
khác nhau này không những chỉ khác nhau về cấu trúc tổng thể của cơ thể mà
còn khác nhau ở sự hình thành nên các tế bào, các bộ phận của cơ thể và đã
hình thành nên các giống lợn có hướng sản xuất khác nhau như: giống lợn
hướng nạc, hướng mỡ.
Nguyễn Thiện và cs (2005) [27] cho rằng: Giống cũng là một yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục, năng suất và phẩm chất
thịt. Thông thường các giống lợn nội cho năng suất thấp hơn so với những
giống lợn ngoại nhập nội. Lợn Ỉ, Móng Cái nuôi 10 tháng tuổi trung bình
14
đạt khoảng 60 kg. Trong khi đó các giống lợn ngoại (Landrace,
Yorkshire…) nuôi tại Việt Nam có thể đạt 90 - 100 kg lúc 6 tháng tuổi.
*Điều khiển quá trình trao đổi chất của các hormone
Hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và
giữ cân bằng các chất trong máu. Trong thời kỳ đầu tiên của quá trình sống,
kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự tham gia của
tuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng. Về sau điều khiển quá
trình sinh trưởng có sự tham gia của tuyến yên. Hormon của thuỳ trước
tuyến yên STH (somatotropin hormone) là loại hormon rất cần thiết cho
Axit amin là thành phần cấu tạo cơ bản của protein. Theo Từ Quang
Hiển và cs (1995) [30] vai trò của các axit amin trong cơ thể rất đa dạng, nó là
thành phần chủ yếu của protein, nhu cầu protein của cơ thể chính là nhu cầu
về axit amin. Cơ thể con vật chỉ có thể tổng hợp nên protein của nó theo mức
cân đối các axit amin trong thức ăn, nhưng axit amin nào nằm ngoài cân đối
sẽ bị oxy hóa cho năng lượng. Do vậy, nếu cung cấp axit amin theo tỷ lệ cân
đối sẽ nâng cao hiệu quả lợi dụng protein, tiết kiệm được protein thức ăn.
Một thí nghiệm của Metz nghiên cứu trên lợn sinh trưởng cho biết, với
yêu cầu tăng trọng 585g/con/ngày, nếu khẩu phần cân bằng các axit amin thì
protein thô cần 11- 12%, nhưng nếu khẩu phần mất cân đối axit amin thì cần
20- 22% protein thô.
Trong các loại thức ăn hàm lượng các loại protein rất khác nhau. Một
số loại giàu protein động vật như cá, bột cá, bột thịt, bột máu, tôm, cua,
trứng sữa Một số loại protein thực vật như các loại đậu, đỗ và sản phẩm
phụ của nó.
16
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [ ] cho biết: nói chung lợn con tiêu
hóa protein một cách dễ dàng, nhưng do nguồn gốc của thức ăn (động vật hay
thực vật) và bản chất protein khác nhau nên sự tiêu hóa có những đặc điểm
khác nhau quan trọng.
Nhu cầu protein và axit amin cho lợn thịt qua các giai đoạn tuổi
Khối lượng(kg)
Chỉ tiêu
Giai đoạn
10- 35 (kg)
Giai đoạn
10- 35 (kg)
Giai đoạn
10- 35 (kg)
Protein thô (%) 16 14 13
Lyzin (%)
0,9 1,0 1,1 0,6 0,7 0,8 0,5 0,6 0,7
*Vai trò và nhu cầu về khoáng chất đối với lợn nuôi thịt.
Theo Từ Quang Hiển và cs (2003) [32] gia súc non cần được cung cấp
đầy đủ khoáng chất để phát triển bộ xương và đảm bảo cho các quá trình xảy ra
trong cơ thể. Nếu tính theo mức tăng trọng thì khoáng chất chiếm 3 - 4% khối
lượng cơ thể tăng. Nếu so với bộ xương thì khoáng chất chiếm 26% khối lượng
xương tăng.
Khả năng sử dụng khoáng chất trong thức ăn của gia súc non tốt hơn
gia súc trưởng thành. Quá trình trao đổi khoáng mà chủ yếu là trao đổi canxi
và phot pho xảy ra mạnh mẽ ở gia súc non. Khi gia súc còn non khả năng tích
luỹ canxi, phot pho cao. Tuổi càng tăng, khả năng tích luỹ giảm. Nhìn chung,
gia súc non yêu cầu can xi lớn hơn phot pho, càng lớn và trưởng thành nhu
cầu can xi giảm, nhu cầu phot pho tăng lên. Để đảm bảo cho quá trình tiêu
hoá hấp thu và sử dụng canxi, photpho được tốt, tránh được hiện tượng còi
xương. Ở gia súc non cần chú ý cung cấp đầy đủ, cân đối canxi, photpho (đối
với gia súc non tỷ lệ Ca/P thích hợp là 1,5-2/1).
* Vai trò và nhu cầu về vitamin đối với lợn nuôi thịt
Vitamin là loại vi chất dinh dưỡng, nó rất cần thiết để xúc tác cho mọi
quá trình trao đổi chất cho sinh trưởng của động vật.
Trong các loại Vitamin thì, Vitamin A và Vitamin D là hai loại
Vitamin quan trọng nhất cho sinh trưởng.Trong đó Vitamin A xúc tiến quá
trình sinh trưởng, nếu thiếu vitamin A có thể dẫn đến mù lòa, tốc độ sinh
18
trưởng giảm, lông xù, gầy còm, năng suất sinh sản thấp, gây bệnh bần huyết
ở lợn con, xù lông, da khô ở lợn sinh trưởng. Vitamin D cần thiết cho sự trao
đổi can xi, phốt pho để phát triển bộ xương. Nhu cầu của lợn thịt về Vitamin
A và D theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm 1995 là: tiêu chuẩn của Tây
Đức (DLG) cho kết quả tốt hơn cả gồm vitamin A = 2000 UI/kg thức ăn,
vitamin D = 2500 UI, vitamin E = 10- 15mg.
sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của lợn con, lợn hậu bị
và lợn sinh sản hơn là đối với lợn vỗ béo. Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh
hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt quá trình trao đổi khoáng.
Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng
khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 12%, tiêu tốn thức ăn giảm 8 - 9% so với lợn con
được vận động dưới ánh sáng mặt trời.
Đối với lợn vỗ béo nhu cầu về ánh sáng thấp hơn, đặc biệt sau khi lợn ăn
xong. Trong thực tế ở một số trang trại, người ta đã giảm cường độ chiếu sáng
xuống mức tối thiểu cho lợn vỗ béo, đặc biệt cho các giống lợn cao sản (do các
giống lợn sinh sản sinh trưởng nhanh, thời gian nuôi ngắn) và cũng không có
một phát hiện nào về ảnh hưởng của thiếu ánh sáng đối với lợn vỗ béo.
Việc đảm bảo đủ ánh sáng đối với lợn sinh sản gồm cả lợn đực và lợn
nái đều có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ đối với quá trình trao đổi các
chất khoáng trong cơ thể mà còn đối với các chức năng sinh sản như biểu hiện
động dục, sự phát triển của phôi ở lợn nái, việc sinh tinh và các phản xạ nhảy
giá của lợn đực. Trong chăn nuôi công nghiệp khi thiết kế chuồng trại cần chú
ý đảm bảo đủ ánh sáng theo nhu cầu của các loại lợn, đặc biệt đối với lợn con
và lợn sinh sản.
- Các yếu tố khác: Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát
triển lợn đã nêu trên còn có các yếu tố khác như vấn đề chuồng trại, chăm sóc,
nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi như không khí, tốc độ gió lùa, nồng độ
các khí thải Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu của
từng loại lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng phát triển đạt mức tối đa.
20
2.2. Một số nét chính về tiêu chảy, nguyên nhân gây tiêu chảy
2.2.1. Hội chứng tiêu chảy ở lợn
Tiêu chảy là một hội chứng lâm sàng của hội chứng bệnh lý đặc thù của
đường tiêu hoá. Hiện tượng lâm sàng xuất phát từ nguyên nhân, triệu chứng, đặc
điểm và tính chất của bệnh và được gọi với nhiều tên khác nhau.
- Tên chung nhất: Hội chứng tiêu chảy (Dyspepsia)
làm tổn thương đường tiêu hoá gây viêm ruột ỉa chảy (Khootenghuat, 1995)
[36] (Bohl E.H và cs, 1979) [.37] nghiên cứu bệnh viêm ruột, ỉa chảy ở lợn
con cũng tim thấy rotavirus.
Cũng vào thời gian này, người ta còn tìm thấy nguyên nhân gây tiêu
chảy truyền nhiễm ở lợn là một loại virus giống như coronavirus. Dùng virus
phân lập được gây bệnh thực nghiệm thấy virus không chỉ gây bệnh cho lợn
con mà cả lợn nuôi thịt và cũng từ đó virus này được gọi là virus gây tiêu chảy
truyền nhiễm của lợn là (PEDV), (Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [38.]
- Do vi khuẩn
Đa số các tác giả đều cho rằng một trong những nguyên nhân gây tiêu
chảy ở lợn là vi khuẩn, đặc biệt là vi khuẩn E.coli và Salmonella.
Vi khuẩn E.coli là nguyên nhân gây nên các bệnh tiêu chảy thường gặp,
người ta đã chứng minh vai trò của E.coli trong bệnh lợn con phân trắng. Vai
trò gây bệnh của E.coli gồm các Serotype: 08; 0139; 0141; 0145; 0147; 0149
(Glawisching E và cs, 1992) [39].Vi khuẩn Salmonella choleraresuis và
Saltyphymurium là 2 tác nhân gây tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa bắt đầu vỗ
béo (LavaA, 1997) [40]. (Hồ Văn Nam và cs, 1996) [41] khi nghiên cứu về vi
khuẩn đường ruột nhận thấy: Vi khuẩn E.coli không chỉ là vi khuẩn có mặt
22
thường xuyên trong ruột lợn đang bú sữa và bội nhiễm khi ỉa phân trắng, mà
nó còn được tìm thấy trong 100% mẫu phân lợn ở những lứa tuổi lớn hơn.
Ngay ở lợn khoẻ mạnh vi khuẩn E.coli cũng bội nhiễm theo lứa tuổi:
Trong 1g phân lợn ở 1- 21 ngày tuổi, số lượng E.coli là 55,4 triệu con. Con
số đó tăng dần theo lứa tuổi, ở lợn 22- 60 ngày tuổi là 90,9 triệu con và 150
triệu vi khuẩn trong 1g phân lợn nái. Khi lợn viêm ruột ỉa chảy, kết quả
nghiên cứu cho thấy, E.coli không chỉ bội nhiễm ở 2 tháng tuổi, mà ở lợn
lớn hơn và cả ở lợn nái cũng có tình trạng tương tự. Kết quả này phù hợp với
kết quả nghiên cứu tương tự của (Cù Hữu Phú và cs (1999) [42]. Các tác giả
này cho thấy 70 mẫu bệnh phẩm của lợn mắc bệnh tiêu chảy ở các lứa tuổi
khác nhau, đã phân lập được 60 chủng E.coli, chiếm 85,75% và Salmonella
Năm 1981, Vũ Văn Ngữ, Lê kim Thao đã áp dụng chế phẩm vi sinh vật
subcolac đưa vào đường ruột là một hỗn hợp của loại vi khuẩn sống Baccilus
subtilis, Coli bacterium và Lacto baccilus, chế phẩm này một mặt cung cấp
một số men cần thiết, một mặt lập lại sự cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột để
góp phần khắc phục rối loạn tiêu hóa ở đường ruột (Chu Đức Thắng, 1997)
[45].
Đào Trọng Đạt và cs, 1995 [46] đã khẳng định kết quả phòng trị bệnh
đường ruột và tác dụng điều tiết kích thích sinh trưởng của chế phẩm
Biolactyl rất tốt.
Nguyễn Thị Thạnh, (1995) [47] dùng Biolactyl để chống bệnh tiêu chảy
ở lợn con.
Theo Vũ Văn Quang (1999) [48] dùng chế phẩm vi sinh vật
Lactobaccilus acidophilus bổ sung cho lợn con thì tỷ lệ nhiễm bệnh tiêu chảy
giảm từ 58,33% xuống còn 25%. Đồng thời chế phẩm vi sinh vật này có tác
24
dụng làm cho vi khuẩn Salmonella và E.coli giảm đi như sau: Lô ĐC E.coli
68,24 triệu vi khuẩn/1gam phân, salmonella 27,75 triệu vi khuẩn/1gam
phân. Còn lô TN E.coli 61,18 triệu vi khuẩn/1gam phân, Salmonella 26,17
triệu vi khuẩn/1gam phân.
Đến năm 1977, Phan Thanh Phượng và cs [49] khống chế bệnh lợn con
ỉa phân trắng trong chế phẩm kháng sinh do vi sinh vật tiết ra có tác dụng tốt
đối với gia súc, gia cầm như những sinh vật sản sinh ra penicillin thuộc giống
nấm mốc penicillin và aspergillus.
Theo Phan Thanh Phượng (1998) [50] tại chi cục Thú y Hà Nội đã dùng
chế phẩm sữa chua lên men lactic để điều trị bệnh tiêu chảy của lợn con đạt
kết quả tốt.
2.3.Vai trò của thuốc kháng sinh trong chăn nuôi lợn thịt
Kháng sinh (antibiotics) là những chất được tạo ra bởi các sinh vật sống
(nấm men, nấm mốc, vi khuẩn và một số loài thực vật) có đặc tính diệt vi
khuẩn hoặc làm kìm hãm sự phát triển của chúng (Ensmurger, 1990) [].