Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê - nin trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội - Pdf 15

I. Phân tích quan điểm MAC-LÊNIN trong thời kỳ quá độ lên CNXH
1.Khái niệm thời kì quá độ lên CNXH.Đặc điểm của thời kì này
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc toàn bộ
các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thực hiện sự chuyển biến từ xã hội cũ sang
xã hội mới - xã hội chủ nghĩa.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để,
toàn diện từ xã hội cũ thành xã hội mới: chủ nghĩa xã hội. Nó diễn ra từ khi giai
cấp vô sản giành được chính quyền bắt tay vào xây dựng xã hội mới và kết thúc
khi xây dựng thành công những cơ sở của chủ nghĩa xã hội cả về lực lượng sản
xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng.
2.Đặc điểm
- Trên lĩnh vực kinh tế: thực hiện việc sắp xếp, bố trí lại các lực lượng sản xuất
hiện có của xã hội; cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới
theo hướng tạo ra sự phát triển cân đối của nền kinh tế, bảo đảm phục vụ ngày
càng tốt đời sống nhân dân lao động.
Việc sắp xếp, bố trí lại các lực lượng sản xuất của xã hội nhất định không thể theo
ý muốn nóng vội, chủ quan mà phải tuân theo tính tất yếu khách quan của các quy
luật kinh tế, đặc biệt là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất.
Đối với những nước chưa trải qua quá trình CNH TBCN, tất yếu phải tiến hành
CNH XHCN nhằm tạo ra được cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH. Nhiệm vụ
trọng tâm của những nước này trong TKQĐ là phải tiến hành CNH, HĐH nền kinh
tế theo định hướng XHCN. Quá trình CNH,HĐH XHCN diễn ra ở các nước khác
nhau với những điều kiện lịch sử khác nhau có thể được tiến hành với những nội
dung cụ thể và hình thức, bước đi khác nhau. Nước ta quá độ lên CNXH bỏ qua
chế độ TBCN, chưa trải qua quá trình CNH TBCN, nên trong thời gian qua, Đảng
ta chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH, tạo nền tảng để đi lên CNXH; bên cạnh đó là
chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng là để giải phóng
sức sản xuất, tiến tới một nền sản xuất lớn.
- Trong lĩnh vực chính trị: tiến hành cuộc đấu tranh chống lại các thế lực thù địch
chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH; xây dựng, củng cố nhà nước và nền dân

tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, mở đầu bằng cuộc cách
mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại. Đó cũng là thời đại độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nên nhiều nước đã đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa như trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Triều Tiên Lào
- Căn cứ vào điều kiện lịch sử của cách mạng nước ta, trong quá trình phát triển
của cách mạng Việt Nam, con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chê độ tư
bản, trước hết là sự lựa chọn của chính Đảng ta: Ngay từ "Cương lĩnh chính trị
năm 1930" đến "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội được trình bày ở Đại hội VII năm 1991, Đảng ta đều thể hiện bản lĩnh chính
trị về con đường lên chủ nghĩa xã hội.
Cùng với sự lựa chọn của Đảng là sự lựa chọn của chính nhân dân lao động nước
ta khi theo Đảng làm cách mạng là muốn có cuộc đời ấm no, hạnh phúc. Để mang
lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân không có con đường nào khác là con đườngđi
lên chủ ngĩa xã hội.
Hiện nay mặc dù trước mắt, chủ nghĩa tư bản còn có tiềm năng phát triển về kinh
tê, chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đỗ ở Liên Xô và Đông Âu, nhưng Đảng ta vẫn
khẳng định đi lên chủ nghĩa xã hội, đó là con đường duy nhất đúng đắn. Chủ nghĩa
xã hội vẫn là khuynh hướng phát triển khách quan của thời đại. Nó không chỉ là lý
tưởng mà là hiện thực sinh động trong quá trình phát triển của cách mạng Việt
Nam.
- Những phương hướng - nhiệm vụ cơ bản lý dựng đất nướe trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam một là. xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà
nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân vái
giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng san lãnh đạo.
Thực hiện ngày càng đầy đủ các quyền dân chủ, làm chủ, quyền lực của nhân dân;
giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi tội phạm và kẻ thù của nhân
dân.
Hai là. phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện
đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm,
nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không

Lý luận về hình thái kinh tế- xã hội của C.Mác cho thấy sự biến đổi của các xã hội
là quá trình lịch sử tự nhiên. Vận dụng lý luận đó vào phân tích xã hội tư bản, tìm
ra các quy luật vận động của nó, C.Mác và Ph. Ăngghen đều cho rằng, phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa có tính chất lịch sử và xã hội tư bản tất yếu bị thay
thế bằng xã hội mới- xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Đồng thời C.Mác và Ph. Ănghghen cũng dự báo trên những nét lớn về những đặc
trưng cơ bản của xã hội mới, đó là: có lực lượng sản xuất xã hội cao; chế độ sở hữu
xã hội về tư liệu sản xuất được xác lập, chế độ người bóc lột người bị thủ tiêu; sản
xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội, nền sản xuất được
tiến hành theo một kế hoạch thống nhất trên phạm vi toàn xã hội, sự phân phối sản
phẩm bình đẳng; sự đối lập giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và
chân tay bị xóa bỏ
Để xây dựng xã hội mới có những đặc trưng như trên cần phải qua hai giai đoạn:
giai đoạn thấp hay giai đoạn đầu và giai đoạn sau hay giai đoạn cao. Sau này
V.I.Lênin gọi giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội và giai đoạn sau là chủ nghĩa cộng
sản. C.Mác gọi giai đoạn đầu xã hội chủ nghĩa là thời kỳ quá độ chính trị lên giai
đoạn cao của xã hội cộng sản.
Vận dụng học thuyết C.Mác vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô
trước đây, V.I.Lênin đã phát triển lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Nội dung cơ bản của lý luận đó là:
a) Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan, bất cứ quốc gia nào
đi lên chủ nghĩa xã hội đều phải trải qua, kể cả các nước có nền kinh tế rất phát
triển
Tất nhiên, đối với các nước có nền kinh tế phát triển, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội có nhiều thuận lợi hơn, có thể diễn ra ngắn hơn so với các nước đi lên chủ
nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa có nền kinh tế lạc hậu.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để,
toàn diện từ xã hội cũ thành xã hội mới: chủ nghĩa xã hội. Nó diễn ra từ khi giai
cấp vô sản giành được chính quyền bắt tay vào xây dựng xã hội mới và kết thúc
khi xây dựng thành công những cơ sở của chủ nghĩa xã hội cả về lực lượng sản

quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai, điều kiện bên ngoài, có sự giúp đỡ của giai cấp vô sản của các nước tiên
tiến đã giành thắng lợi trong cách mạng vô sản.
Các nước lạc hậu có khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa nhưng không phải là quá độ trực tiếp, mà phải qua con đường gián tiếp
với một loạt những bước quá độ thích hợp, thông qua “chính sách kinh tế mới”.
Chính sách kinh tế mới là con đường quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội, được
áp dụng ở Liên Xô từ mùa xụân 1921 thay cho “ chính sách cộng sản thời chiến”
được áp dụng trong nhửng năm nội chiến và can thiệp vũ trang của chủ nghĩa đế
quốc.
Nội dung cơ bản của “ chính sách kinh tế mới” bao gồm :
- Dùng thuế lương thực thay cho trưng thu lương thực thừa trong chính sách cộng
sản thời chiến.
- Thiết lập quan hệ hàng hóa tiền tệ, phát triển thị trường , thương nghiệp thay
cho Chính sách cộng sản thời chiến.
- Sử dụng nhiều thành phần kinh tế, các hình thức kinh tế quá độ, khuyến khích
phát triển kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân thay cho sự thủ tiêu kinh doanh tư
nhân trong chính sách cộng sản thời chiến, sử dụng củ nghĩa tư bản nhà nước ,
chuyển các xí nghiệp nhà nước sang chế độ hạch toán kinh tế, chủ trương phát
triển qua hệ kinh tế với các nước phương Tây để tránh thủ vốn, kỹ thuật
“Chính sách kinh tế” mới có ý nghĩa to lớn. Về thực tiễn, nhờ có chính sách đó
nước Nga Xôviết đã làm khôi phục nhanh chóng nền kinh tế sau chiến tranh, khắc
phục được khủng hoảng kinh tế và chính trị. Về lý luận, nó phát triển nhận thức
sâu sắc về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Ở nước ta từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, những quan điểm kinh tế của Đảng ta
đã thể hiện sự nhận thức và vận dụng “ chính sách kinh tế mới” của V.I.Lênin phù
hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của thời kỳ quá độ ở nước ta.
2. Tính tất yếu và đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Ở nước ta, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được bắt đầu từ năm 1954 ở miền
bắc và từ năm 1975 trên phạm vi cả nước, sau khi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ

vậy, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự tiếp tục hợp lôgíc cuộc cách mạng dân
tộc, dân chủ, làm cho cách mạng dân tộc, dân chủ được thực hiện triệt để.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu đối với mọi quốc gia đi lên chủ
nghĩa xã hội, nhưng nó lại có đặc điểm riêng đối với mỗi quốc gia ; do điều kiện
xuất phát riêng của mỗi quốc gia quy định. Trước đây, miền Bắc nước ta bước vào
thời kỳ quá độ với “đặc điểm lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến
thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ
nghĩa”. Khi cả nước thống nhất cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội, đặc điểm trên vẫn
còn tồn tại. Phân tích rõ hơn thực trạng kinh tế, chính trị của đất nước, trong cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng cộng sản
Việt Nam khẳng định: “nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản,
từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp. Đất
nước trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề. Những tàn
dư thực dân phong kiến còn nhiều. Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá
hoại chế độ xã hội và nền độc lập của nhân dân ta”
Như vậy, đặc điểm đặc trưng bao trùm nhất của thời kỳ quá độ ở nước ta là bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa. Nhưng, thế nào là bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa? Gỉai
quyết vấn đề này có ý nghĩa lớn cả về nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Sẽ là sai lầm và phải trả giá nếu quan niệm “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa” theo
kiểu phủ định sạch trơn, đem đối lập chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản, bỏ
qua cả những cái “không thể bỏ qua” như đã từng xảy ra ở các nước xã hội chủ
nghĩa trước đây. Vì vậy, báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng IX Đảng cộng sản Việt
Nam đã nói rõ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là “bỏ qua việc xác lập vị trí thống
trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu,
kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa,
đặc biệt về khoa học công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng
nền kinh tế hiện đại”.
Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa thực chất là phát triển theo con đường “rút ngắn”
quá trình lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng “rút ngắn” không phải là đốt cháy giai đoạn,
duy ý chí, coi thường quy luật, như muốn xóa bỏ nhanh sở hữu tư nhân và các

kém , nhờ đó ta có thể thực hiện “ con đường rút ngắn”.
Thời đại ngày nay, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là xu hướng khách quan của loài
người. Đi trong dòng chảy đó của lịch sử, chúng ta đã, đang và sẽ nhận được sự
đồng tình, ủng hộ ngày càng mạnh mẽ của loài người, của các quốc gia độc lập
đang đấu tranh để lựa chọn con đường phát triển tiến bộ của mình.
B. Những đặc điểm và nộ dung cơ bản của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta
hiện nay.
C. Thành tựu của Đảng và nhân dân ta sau hơn 20 năm đổi mới, lấy VD thực tế
và hình ảnh minh họa
Thành tựu của việt nam sau 20 năm đổi mới
Sau 20 năm đổi mới kể từ đại hội VI năm 1986, Việt nam đã ra khỏi khủng hoảng
kinh tế, đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, tăng cường cơ sở vật chất và tạo tiền
đề cho giai đoạn phát triển mới công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, sớm đưa
nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành
một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đó là hai trong số năm thành tựu mà
Việt Nam đạt được qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006).
Chiều 19/4, tại Trung tâm Báo chí Đại hội X của Đảng, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch
và Đầu tư Trần Đức Khiển đã chủ trì cuộc họp báo về thành tựu phát triển kinh tế -
xã hội qua 20 năm đổi mới và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-
2010.
1. Đất nước ra khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh
Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đến năm 1995, lần đầu tiên, hầu hết các
chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch Nhà nước 5 năm 1991-1995 được hoàn thành và
hoàn thành vượt mức. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo được
những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
1986-1990: GDP tăng 4,4%/năm. Việc thực hiện tốt ba chương trình mục tiêu phát
triển về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu được đánh giá
là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của CNH XHCN trong chặng đường

thêm bằng khoảng 3,89%/năm.
Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục. Năm 1988 là 21,6%,
năm 2005 lên 41%. Từ chỗ chưa khai thác dầu mỏ, đến nay, mỗi năm đã khai thác
được khoảng gần 20 triệu tấn quy ra dầu. Ngành công nghiệp chế tác chiếm 80%
giá trị sản lượng công nghiệp. Công nghiệp xây dựng phát triển mạnh với thiết bị
công nghệ ngày càng hiện đại.
Sản phẩm công nghiệp xuất khẩu ngày càng tăng, có chỗ đứng trong những thị
trường lớn. Trong kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, giá trị sản xuất công nghiệp và xây
dựng tăng 15,9%/năm, giá trị tăng thêm đạt 10,2%/năm.
Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên 38,1% năm
2005. Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu
cầu của sản xuất và đời sống. Ngành du lịch, bưu chính viễn thông phát triển với
tốc độ nhanh. Các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý có bước
phát triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả.
Cơ cấu lao động có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, giảm tỷ lệ lao động trong sản xuất thuần nông, tăng tỷ lệ lao động
trong công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Năm 1990, lao động nông, lâm, ngư
nghiệp chiếm 73,02% trong tổng số lao động xã hội, năm 2000 còn 56,8%.
Trong khi đó, tỷ trọng lao động của ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 12,1%
năm 2000 lên 17,9% năm 2005; lao động trong các ngành dịch vụ tăng tương ứng
từ 19,7% lên 25,3%; lao động đã qua đào tạo tăng từ 20% năm 2000 lên 25% năm
2005.
3. Thực hiện có kết quả chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, phát
huy ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế
Kinh tế Nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tập
trung hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế.
Cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước được đổi mới một bước quan trọng theo
hướng xoá bao cấp, thực hiện chế độ công ty, phát huy quyền tự chủ và trách
nhiệm của doanh nghiệp trong kinh doanh.
Số doanh nghiệp Nhà nước qua sắp xếp đổi mới, cổ phần hoá đã giảm từ 12.084

Từng bước phát triển đồng bộ và quản lý sự vận hành các loại thị trường cơ bản,
theo cơ chế mới. Thị trường hàng hoá phát triển với quy mô lớn, tốc độ nhanh. Các
thị trường dịch vụ, lao động, khoa học và công nghệ, bất động sản đang được hình
thành.
Các cân đối vĩ mô của nền kinh tế cơ bản được giữ ổn định, tạo môi trường và điều
kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế. Tiềm lực tài chính ngày càng được tăng
cường, thu ngân sách tăng trên 18%/năm; chi cho đầu tư phát triển bình quân
chiếm khoảng 30% tổng chi ngân sách.
Quan hệ tiền - hàng cơ bản hợp lý, bảo đảm hàng hoá thiết yếu cho sản xuất và đời
sống; giá tiêu dùng bình quân hàng năm tăng thấp hơn mức tăng GDP.
Hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, kinh tế đối ngoại có bước tiến lớn, đạt được
những kết quả rất quan trọng
Với chủ trương tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ kinh tế của
Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế ngày càng được mở rộng. Việt Nam đã
tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, thực hiện các cam kết về Khu vực
mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, đang
tích cực đàm phán gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Đến năm 2005, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 221 nước và vùng lãnh
thổ, ký 90 hiệp định thương mại song phương với các nước, tạo ra một bước phát
triển mới rất quan trọng về kinh tế đối ngoại.
Xuất khẩu, nhập khẩu tăng rất nhanh cả về quy mô và tốc độ. Tổng kim ngạch xuất
khẩu hàng hoá trước thời kỳ đổi mới chỉ đạt khoảng 1 tỷ USD/năm, đến nay tổng
kim ngạch xuất khẩu đã vượt hơn 50% GDP, tức là trên 25 tỷ USD/năm.
Một số sản phẩm của Việt Nam đã có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới với
những thương hiệu có uy tín. Đáng chú ý là xuất khẩu dịch vụ tăng rất nhanh, tăng
15,7%/năm, bằng 19% tổng kim ngạch xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu được mở
rộng sang những nền kinh tế lớn.
Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá từ năm 2000 đến 2005 tăng khoảng
19%/năm, nhập siêu khoảng 4 tỷ USD/năm, bằng 17,5% tổng kim ngạch xuất
khẩu. Nhập siêu tuy còn cao nhưng vẫn trong tầm kiểm soát và có xu hướng giảm

GDP bình quân đầu người đến 2010: 1.050  1.100 USD (năm
2005 đạt khoảng 600 USD)
Cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP đến năm 2010:
-Nông, lâm nghiệp và thủy sản khoảng 15 -16%
-Công nghiệp và xây dựng: 43  44%
-Các ngành dịch vụ: 40  41%
Tỷ lệ huy động vào ngân sách Nhà nước đạt khoảng 21  22%
GDP
Tổng kim ngạch xuất khaair tăng 16%/năm
Tổng đầu tư xã hội chiếm 40%GDP (vốn trong nước chiếm 65%,
vốn bên ngoài 35%)
E. Thời cơ và thách thức:
Thời cơ và thách thức của Việt Nam trong thời kì quá độ lên CNXH
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được bắt đầu từ năm 1954 ở miền bắc và từ
năm 1975 trên phạm vi cả nước, sau khi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
đã hoàn thành thắng lợi, đất nước đã hòan thành thắng lợi, đất nước đã hòa bình
thống nhất quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Khi bước vào TKQĐ, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn. Đó là do, đất nước ta
mới trải qua hai cuộc chiến tranh nên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều bị tàn
phá, chưa kinh qua thời kỳ phát triển TBCN nên hầu như chưa có những tiền đề
thực tiễn cơ bản cho sự ra đời của CNXH, hệ thống CNXH thế giới tan rã và phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế đang tạm thời thoái trào. Bên cạnh đó, “các thế
lực thù địch tiếp tục chống phá, tìm cách xóa bỏ chủ nghĩa xã hội”. Trong bối cảnh
đó, Đảng ta vẫn khẳng định “Chúng ta có nhiều thuận lợi cơ bản: có sự lãnh đạo
đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn
luyện, có bản lĩnh chính trị vững vàng và dày dặn kinh nghiệm lãnh đạo; dân tộc ta
là một dân tộc anh hùng, nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, có truyền thống
đoàn kết và nhân ái, cần cù lao động và sáng tạo, luôn ủng hộ và tin tưởng vào sự
lãnh đạo của Đảng; chúng ta đã từng bước xây dựng được những cơ sở vật chất -
kỹ thuật rất quan trọng; cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự hình

mà còn phù hợp với nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam đã chiến
đấu, hi sinh không chỉ vì độc lập dân tộc mà còn vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc,
xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Những yêu cầu ấy chỉ có chủ nghĩa
xã hội mới đáp ứng được. Quyết tâm của nhân dân sẽ trở thành lực lượng vật chất
để vượt qua khó khăn, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, một
Đảng giàu tinh thần cách mạng và sáng tạo, có đường lối đúng đắn và gắn bó với
nhân dân, có Nhà nước xã hội Chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ngày càng được
củng cố vững mạnh và khối đại đoàn kết toàn dân, đó là những nhân tố chủ quan
vô cùng quan trọng bảo đảm thắng lợi côngcuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
Thách thức : khi bước vào TKQĐ, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn. Đó là do, đất
nước ta mới trải qua hai cuộc chiến tranh nên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều
bị tàn phá, chưa kinh qua thời kỳ phát triển TBCN nên hầu như chưa có những tiền
đề thực tiễn cơ bản cho sự ra đời của CNXH, hệ thống CNXH thế giới tan rã và
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang tạm thời thoái trào. Bên cạnh đó,
“các thế lực thù địch tiếp tục chống phá, tìm cách xóa bỏ chủ nghĩa xã hội”.
Thời kỳ quá độ tại Việt Nam là quá trình dài và khó khăn, Việt Nam đã bỏ
qua một bước (gọi là nhảy vọt) của phát triển tư bản chủ nghĩa (trước khi lên xã
hội chủ nghĩa) nên VN không là một nước mạnh về công nghiệp. VN vẫn pảhi cố
gắng phát triển công nghiệp để trờ thành một nước công nghiệp hóa mạnh mẽ
Con đường đi lên XHCN là một con đường chông gai và gian khổ, đòi hỏi sự hy
sinh của tập thể, sự đồng lòng tin tưởng của toàn dân. Các nhà lãnh đạo và nhà
nước phải kiên trì giáo dục nhân dân, bằng cách làm gương
Đất nước ta phát triễn thành XHCN trên cơ bản vẫn là một nước nghèo, tiềm lực về
kinh tế thì phong phú nhưng con người chưa biết cách khai thác có hiệu quả , do đó
chúng ta vẫn còn là một nước nghèo.
Trách nhiệm của sinh viên trong thời kì đổi mới của đất nước:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status