PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Giới thiệu
Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên thuận lợi cho việc
sản xuất cũng như ương nuôi các đối tượng thủy sản. Hiện nay, việc nuôi trồng
thủy sản ở nước ta rất phát triển đặc biệt ở vùng nước lợ, mặn thì con tôm đang
được chú ý và nuôi nhiều nhất với các hình thức nuôi bán thâm canh đến thâm
canh. Bên cạnh đó là nguồn chất thải của tôm đã làm cho môi trường nước bị ô
nhiễm ngày càng nghiêm trọng và lây lan dịch bệnh dẫn đến tôm chết hàng loạt
1995 (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009). Song song đó thì vấn đề
môi trường đang được đặt ra là làm giảm thiểu nguồn chất thải trong ao nuôi
cũng như thải ra ngoài môi trường không ảnh hưởng đến khu hệ sinh thái tự
nhiên.
Hàu là một trong những loài động vật thân mềm có giá trị kinh tế, là loài có tính
ăn lọc phiêu sinh thực vật chủ yếu tảo đơn bào và chất vẩn mùn bã hữu cơ
(Nguyễn Chính, 2007). Do hàu có khả năng lọc sinh học nên đã góp phần xử lý
làm sạch các chất hữu cơ hạn chế ô nhiểm môi trường (Lê Minh Viễn, 2005).
Dựa vào đặc tính tự nhiên đó chúng ta có thể phát triển mô hình nuôi kết hợp đối
tượng này vào ao nuôi tôm nên đề tài: “Thử nghiệm nuôi kết hợp tôm thẻ
chân trắng (Litopenaeus vannamei) với hàu (Crassostrea rivularis) ở các mật
độ khác nhau” được thực hiện tại Trại Thực Nghiệm – Bộ môn kỹ thuật nuôi
Hải Sản – Khoa Thủy Sản – Trường Đại Học Cần Thơ là rất cần thiết nhằm góp
phần khắc phục và giảm thiểu vấn đề trên.
1.2. Mục tiêu của đề tài
Nuôi kết hợp hàu với tôm thẻ chân trắng trong mô hình thâm canh nhằm đánh
giá khả năng cải thiện nước ao nuôi, giảm ô nhiễm môi trường.
1.3. Nội dung của đề tài
Thử nghiệm nuôi kết hợp hàu ở các mật độ khác nhau với tôm thẻ chân trắng.
1.4. Thời gian thực hiện đề tài
Từ tháng 06/2009 đến tháng 10/2009.
1
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
7,7 – 8,3, độ mặn thích hợp 10 - 40‰ và có thể sống ở phạm vi 5 – 50‰, nhiệt
độ thích hợp 25 – 32
o
C tuy nhiên có thể sống ở nhiệt độ 12 – 28
o
C. Tôm chân
trắng có thể thích nghi tốt với sự thay đổi đột ngột của môi trường sống, lên khỏi
mặt nước khá lâu vẫn không chết (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư, 2004).
2.1.2.3. Dinh dưỡng
Nhu cầu dinh dưỡng của tôm đã được nghiên cứu ngày càng chuyên sâu và chi
tiết để tạo thức ăn thích hợp và đáp ứng cho từng giai đoạn. Tôm chân trắng là
loài ăn tạp thiên về động vật giống như các loài tôm khác, tuy nhiên hàm lượng
đạm cần thiết cho tôm 30% cỡ tôm 0,03g/con (Colvin và Bran,1977), không quá
cao so với tôm sú 40 – 45% đạm cở 0,5g/con (Lee, 1971) và tôm he Nhật Bản 52
– 57% đạm cở 4,2g/con (Deshimaru và Yone, 1978, trích bởi Trần Ngọc Hải và
Nguyễn Thanh Phương, 2009).
2.1.2.4. Sinh trưởng
Tôm chân trắng có tốc độ tăng trưởng nhanh, lớn nhanh hơn tôm sú ở giai đoạn
đầu (<20g tăng 3g/tuần). Mặc dù tôm sẽ tiếp tục tăng trưởng vượt quá 20g,
nhưng tốc độ tăng trưởng của nó có thể tăng 1g trọng lượng /tuần (Wyban và
Sweeny, 1991, trích http: //www.fao.org/docrep/007/ad505e/ad505e03.htm cập
nhật ngày 10.12.09). Dưới điều kiện trong ao đất ở Châu Á, tốc độ tăng trưởng
tiêu biểu của tôm chân trắng 1,0 – 1,5g / tuần (tỷ lệ sống 80 – 90%) là phổ biến
trong hệ thống ao nuôi mật độ cao (60 – 150 /m
2
) đang được sử dụng ở Thái Lan
và Indonesia. Ngược lại, sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm sú bị suy giảm
như gần đây 1 – 1,2g trọng lượng /tuần, 45 – 55% tại Thái Lan (Chamberlain,
2003, trích http: //www.fao.org/docrep/007/ad505e/ad505e03.htm cập nhật ngày
10.12.09). Trong điều kiện sinh thái tự nhiên, nhiệt độ nước 30 – 32
xu hướng giảm xuống trong thời gian gần đây, đạt 600.000 tấn năm 2007 (FAO,
2009) (trích Trần Ngọc Hải, 2009).
Cùng với sự gia tăng nhanh về sản lượng tôm nuôi thì nghề nuôi cũng phát triển
đa dạng từ hình thức quảng canh đến bán thâm canh, thâm canh và siêu thâm
canh, có thể đến 300 – 400 con/m
2
(Jory và Cabrera, 2003 và Briggs et al., 2005,
trích Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009).
Nhằm phát triển nghề nuôi tôm thế giới theo hướng thân thiện với môi trường,
nhiều tổ chức đã nỗ lực phát triển các mô hình nuôi cũng như quản lý tổng hợp
đối với nghề nuôi tôm như thực hành nuôi tốt (GAP – good aquaculture
4
practice), thực hành quản lý tốt hơn (BMP – best management practice), nuôi an
toàn sinh học (Bio-security shrimp culture), nuôi tôm có trách nhiệm
(responsible shrip farming), nuôi kết hợp (integrated culture), nuôi sinh thái
(organic culture) (Chopin et al., 2001; William, 2002; Boyd, 2003; World
Bank/Ministry of Fishheries, 2006; FAO-NACA-UNEP-WB-WWF, 2006; DPI,
2006 trích Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009).
Nuôi kết hợp tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei), Hàu Thái bình dương
(Crassostrea gigas) và nghêu đen (Chione fluctifraga) trong ao ở Sorona,
Mexico.
Tôm được nuôi trong hai vụ và động vật thân mềm chỉ nuôi một vụ với 2 mật độ
hàu (10 và 16 con/m2), 2 mật độ nghêu (8 và 10 con/m2) và 1 mật độ tôm (30
con/m2). Kết quả cho thấy hàm lượng TAN và chlorophyll-a thấp đáng kể trong
ao ở mật độ nghêu, hàu cao nhất. Trong vụ 1, sau 19 tuần thả nuôi PL-10 (0,002
g), tôm đạt 12,6-14,88 g. Tỷ lệ sống của tôm 48,3-63,1 % và năng suất 1.866-
2.665 kg/ha. Trong vụ 2, trọng lượng, tỷ lệ sống và năng suất của tôm cao hơn so
với vụ 1 và tương ứng là 12,23-13,26 g; 61,9-67,3 % và 2.271-2.677 kg/ha.
Trọng lượng trung bình của hàu sau 6 tháng nuôi 40,2-50,1 g, tuy nhiên tỷ lệ
sống thấp 10,7-16,2 % và năng suất chỉ đạt 746-1.014 kg/ha. Tốc độ phát triển
Cho đến thời điểm này, toàn tỉnh có 461 ha nuôi tôm thẻ chân trắng, trong đó
khoảng 200 ha nuôi trên cát và 261 ha nuôi vùng triều.
( />VN/61/158/2/79/79/18334/Default.aspx cập nhật ngày 25.12.09).
Đầu năm 2005, Bộ Thuỷ sản (nay là Bộ NN - PTNT) đã đồng ý cho Sở Thuỷ sản
Ninh Thuận nuôi thử nghiệm tôm thẻ chân trắng ở một số vùng cho hiệu quả rất
tốt. Từ 0,5ha ban đầu nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát ở xã An Hải đến cuối năm
2007 diện tích nuôi tôm chân trắng trong toàn tỉnh đã lên tới 250ha/vụ
( />VN/61/158/45/45/45/6198/Default.aspx cập nhật ngày 25.12.09).
Mô hình nuôi tôm hùm lồng kết hợp với rong sụn, vẹm xanh và bào ngư
Để lọc hết thể tích lồng là 40 m
3
thì cần 25 kg vẹm xanh. Tổng lượng chất thải
Nitơ là 4,9 g/ngày. Như vậy, để hấp thu toàn bộ chất thải này thì cần 34 kg rong
sụn, tỷ lệ giữa tôm hùm: vẹm xanh: rong sụn là 2: 25:30 (theo trọng lượng).
Kết quả cho thấy giá trị yếu tố môi trường ở lồng nuôi ghép đều thấp hơn lồng
nuôi đơn thể hiện ở (Bảng 2.1).
Bảng 2.1. Hàm lượng NH
3
; NO
2
-
; NO
3
-
(mg/L) ở lồng nuôi ghép và nuôi đơn
(Nguyễn Hữu Khánh và Thái Ngọc chiến, 2005).
Các chỉ tiêu Lồng nuôi
Nuôi ghép Nuôi đơn
NH
3
Ngành thân mềm: Mollussca
Lớp hai vỏ: Bivalvia
Bộ hàu: Ostreoida
Họ hàu: Ostreidae
Giống hàu: Crassostrea
Loài hàu cửa sông: Crassostrea rivularis
2.2.2. Đặc điểm sinh học
2.2.2.1. Phân bố
Hàu phân bố rộng trên toàn thế giới nhưng đa số tập trung ở vùng nhiệt đới và
cận nhiệt đới (Ngô Thị Thu Thảo và Trương Quốc Phú, 2009). Chúng là loài
rộng nhiệt, rộng muối, bám chồng lên nhau ở nền đáy, vách đá các cửa sông, khu
rừng ngập mặn, nơi có dòng chảy và thủy triều thường xuyên lên xuống, có
nhiều thực vật phù du làm thức ăn (Lê Minh Viễn và Phạm Cao Vinh, 2005)
7
Hình 2.2. Hình dạng ngoài của hàu cửa
sông nguyên con (Crassostrea rivularis)
2.2.2.2. Dinh dưỡng
Hàu là loài ăn lọc mạnh. Thức ăn chủ yếu là tảo kích thước nhỏ và mùn bã hữu
cơ. Nhờ ưu điểm này mà chúng là một trong những đối tượng chính được sử
dụng để lọc sinh học, giúp làm sạch môi trường ở các ao lắng chứa nước (Mai
Kim Thi, 2005). Khả năng lọc của hàu phụ thuộc vào thủy triều, lượng thức ăn,
nhiệt độ, nồng độ muối (Ngô Thị Thu Thảo và Trương Quốc Phú, 2009).
2.2.2.3. Sinh trưởng
Nhiệt độ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của hàu. Ở
vùng nhiệt đới nhiệt độ ấm áp nên tốc độ sinh trưởng của hàu rất nhanh và quá
trình sinh trưởng diễn ra quanh năm. Ở vùng ôn đới quá trình sinh trưởng chỉ
diễn ra trong mùa xuân-hè, mùa thu – đông hàu gần như không sinh trưởng. Sự
sinh trưởng của hàu còn phụ thuộc vào mật độ, ở Venezuela hàu trong các đầm
nước lợ thì chậm lớn vì mật độ quá cao nhưng trong điều kiện nuôi thì chúng đạt
6cm trong vòng không đầy 6 tháng. Tốc độ sinh trưởng của hàu cũng khác nhau
Xuân Thu, 2003). Hiện nay, nuôi động vật thân mềm trên thế giới chủ yếu là ở
Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Sản lượng chiếm 72% sản lượng thế giới và
95% sản lượng khu vực Châu Á. Và một số nước có truyền thống nuôi hàu như
Triều Tiên, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines, Australia,
Pháp, Nauy, Mỹ, Canada, Mexico, Brazil, Nam Phi (Nguyễn Kim Độ, 1999).
Với nhiều hình thức nuôi đa dạng như nuôi đáy, nuôi cọc, nuôi giàn, nuôi bè,
(Ngô Thị Thu Thảo và ctv, 2009). Hiện nay, hầu như các nước đều nuôi hàu theo
hình thức nuôi treo do người Nhật phát minh và hoàn thiện là chủ yếu. Nguồn
cung cấp con giống có ý nghĩa quyết định tới thành công của nghề nuôi hàu. Các
nước dẫn đầu về nuôi hàu hiện nay đều đồng thời áp dụng cả 2 phương thức :
Thu gom con giống tự nhiên và sản xuất con giống nhân tạo. Trước đây việc thu
gom con giống tự nhiên là chính (sử dụng cọc, dây thừng và các máy thu con
giống), gần đây nguồn lợi tự nhiên cạn kiệt, nên nhiều nước chủ động sản xuất
con giống nhân tạo không chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu
cho các nước. Nhìn chung nếu sản xuất nhân tạo thì khi hàu con đạt tới 3 mm là
được bán. Sau đó phải ương tiếp trong ao, bể xây tới kích thước 3 cm. Khi hàu
giống có kích thước 3 cm mới được đem vào các giá thể (vật bám), các lồng để
nuôi treo cho tới kích thước thương phẩm 7, 8, 9cm. Hàu lớn nhanh (thường chu
kỳ nuôi chỉ 1 năm), thức ăn từ tự nhiên, các thiết bị nuôi treo không phức tạp,
không đắt tiền, chăm sóc và quản lý không phức tạp như nuôi các loài khác nên
hiệu quả nuôi hàu rất cao. Đây cũng là một trong các nguyên nhân khiến cho
nuôi hàu phát triển rất nhanh và đạt sản lượng lớn chỉ sau thời gian ngắn. Nuôi
hàu được coi là biện pháp hữu hiệu để đảm bảo an ninh thực phẩm cho nhiều
quốc gia.
(http: //www.vietlinh.com.vn/dbase/VLTECHShowContent.asp?ID=389 cập
nhật ngày 24/6/2009).
Bên cạnh đó còn biết kết hợp nuôi với các loài thủy sản khác như tại Philippines,
trong chương trình Nuôi trồng thủy sản thân thiện với rừng đước (Mangrove
friendly aquaculture program) người ta nuôi loài thân mềm hai vỏ Sonneratia sp.
để giảm hiệu ứng có hại từ môi trường nuôi tôm. Các nhà nghiên cứu Brazil đã
từ 1-10 kg/hòn. Đá được chuyên chở bằng thuyền hoặc ghe rải đều trên bãi có
hàu giống xuất hiện. Năng suất đạt 0,5-1,5 kg hàu nguyên con/hòn đá.
Nuôi hàu bằng cọc
Nguyên vật liệu làm cọc chủ yếu đúc bằng xi măng, cọc gỗ, cọc tràm, cọc tre…
được cắm thành từng hàng vùng cửa sông hay trên vùng triều. Cọc có chiều dài
2m (chiều dài thực tế khoảng 1 – 1,5m). Loại hình này nuôi chủ yếu ở vùng đầm
phá thuộc khu vực miền Trung như đầm Lăng Cô - Thừa Thiên Huế, hay khu
vực huyện Cần Giờ - TP Hồ Chí Minh. Năng suất nuôi khoảng 2-6 kg hàu
nguyên con/cọc.
10
Nuôi hàu bằng lốp cao su
Nguyên liệu làm vật bám cho hàu là các giá thể bằng lốp ô tô, xe máy, xe đạp đã
qua sử dụng, cho xuống các vùng ao đầm tự nhiên, khu vực đầm phá nơi có dòng
nước thủy triều kém để thu giống tự nhiên và sử dụng nó làm giá thể cho hàu
nuôi lớn đến lúc đạt kích cỡ hàu thương phẩm. Phương pháp nuôi này chủ yếu ở
khu vực Cần Giờ - TP Hồ Chí Minh, các đầm phá thuộc ven biển miền Trung.
Nuôi hàu bằng giàn
Nguyên vật liệu làm giàn là các cọc hình trụ đúc xi măng với chiều dài trung
bình khoảng 1,2 - 1,8m, chiều rộng bề mặt khoảng 0,1m. Trọng tâm của mỗi trụ
có một thanh sắt và trên đầu mỗi trụ có lỗ để xâu dây treo vào giàn. Các giàn treo
được cấu tạo bởi các thanh gỗ cứng đóng thành giàn hình chữ nhật hay hình
vuông với chiều dài mỗi giàn trung bình 6,5-7,5 m, giàn nhỏ thường có kích cỡ
4-5 m và giàn lớn có chiều dài 9-10 m, chiều cao mỗi giàn khoảng 5-6 m được
cắm sâu từ 1 - 2m (vì khu vực nuôi thường có nền đáy bùn). Mỗi giàn được đặt
cách mặt nước 0,5m lúc triều xuống. Do đó hàu nuôi luôn chìm sâu trong nước.
Lồng nhỏ treo từ 32 - 40 trụ xi măng, lồng lớn có thể treo khoảng 200 trụ. Sản
lượng nuôi khoảng 2 - 6 tấn hàu nguyên con/giàn.
Nuôi hàu trong các lồng treo trên giàn
Cấu tạo giàn nuôi tương tự như giàn nuôi trên các cọc đúc xi măng. Hàu giống
thu từ tự nhiên cho vào các lồng lưới có đường kính miệng lồng và đường kính
Vật Thân Mềm – Bộ môn kỹ thuật nuôi Hải sản – Khoa Thủy sản – Trường Đại
Học Cần Thơ.
3.2.2. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm nuôi kết hợp tôm chân trắng với hàu ở các mật độ khác nhau. Mỗi
nghiệm thức được lặp lại 3 lần, cách bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với độ mặn tốt
nhất 15‰ được chọn ra từ thí nghiệm của Lê Hồng Nhiên (2009). Hàu có chiều
dài 40,5mm và khối lượng trung bình 28,9g/con. Hàu được đánh số thứ tự và thả
vào bể nuôi sau khi bố trí tôm được 15 ngày. Tôm chân trắng có khối lượng
trung bình 0,4g/con.
Bảng 3.1. Mật độ tôm và hàu ở các nghiệm thức
Nghiệm thức Mật độ tôm (con/m
2
) Mật độ hàu (con/m
2
)
NT I 74 150
NT II 74 100
NT III 74 50
NTĐC 74 Không có hàu
Tôm – Hàu được nuôi trong bể composite có thể tích 0,5m
3
/bể. Mỗi bể được bố
trí 1 sàn ăn và giá thể (dây nilon) để kiểm soát thức ăn và giảm khả năng ăn nhau
của tôm.
12
3.2.3. Chuẩn bị trước khi thực hiện
Bể nuôi: Tổng cộng có 12 bể thể tích 0,5m
3
(bể trước khi sử dụng được vệ sinh
sạch sẽ).
h
30. Cho một ít thức ăn vào sàn ăn, số còn lại rải đều khắp
bể. Sau mỗi lần cho ăn thì kiểm tra sàn ăn để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp.
Hàng ngày theo dõi hoạt động cũng như quá trình lột xác của tôm. Đối với Hàu
thì lắc nhẹ rổ nhựa để tránh vật chất lơ lửng bám vào. Định kỳ 10 ngày thay nước
1 lần với lượng nước thay khoảng 20 – 30%. Bổ sung vôi CaCO
3
, NaHCO
3
(nếu
cần) nhằm duy trì ổn định độ kiềm, pH trong nước.
13
3.3. Phương pháp thu thập, tính toán và xử lý số liệu
3.3.1. Theo dõi các chỉ tiêu môi trường
3.3.1.1. Các chỉ tiêu lý hóa học
Bảng 3.2. Chu kỳ và các dụng cụ kiểm tra
Chỉ tiêu Chu kỳ Phương pháp/Dụng cụ
Nhiệt độ (
o
C) Mỗi ngày Nhiệt kế
pH 10 ngày/lần Test (Germany)
Độ kiềm (mgCaCO
3
/L) 10 ngày/lần Test (Germany)
NO
2
-
(mg/L) 10 ngày/lần Test (Germany)
NH
4
W
).
DWG
W
(g/ngày) =
t
W12W −
Trong đó: W1 là khối lượng ban đầu bố trí thí nghiệm
14
W2 là khối lượng tại thời điểm cân mẫu
t là thời gian nuôi (ngày)
Tốc độ sinh trưởng chiều dài tương đối (SGR
L
)
SGR
L
(%/ngày) =
100
(L1)Ln - (L2)
x
t
Ln
Tốc độ sinh trưởng chiều dài tuyệt đối (DWG
L
)
DWG
L
(cm/ngày) =
t
L12L −
15
Chỉ số thể trạng (Condition Index, CI)
Chỉ số thể trạng của hàu được xác định lúc bắt đầu (20 con) và kết thúc thí
nghiệm (35con/bể) được tính theo công thức:
=)/( gmgCI
x 1000
Trong đó: DWs: khối lượng thịt được sấy khô ở 60°C sau 24 giờ
DW: khối lượng thịt tươi (g)
Tôm sau khi kết thúc thí nghiệm mỗi bể lấy ra 5 con, đo chiều dài và cân khối
lượng tôm rồi sấy khô ở nhiệt độ 60ºC trong 48 giờ, lấy tôm ra cân khối lượng
sau khi sấy, tính tỷ lệ khô theo công thức:
Tỷ lệ khô (%) = x 100
DWm: Khối lượng tôm trước khi sấy (g)
DWs: Khối lượng tôm sau khi sấy (g)
3.3.5. Phương pháp phân tích mô học
Quy trình xử lý mẫu (Theo Howard et al., 2004)
Bảng 3.3. Các bước xử lý mẫu (Tham khảo phụ lục 1)
Đúc khối
Mẫu sau khi xử lý dùng kẹp gắp ra đặt trong khung Inox, sau khi đã được tráng
một lớp paraffin nóng chảy (57 – 60°C), đồng thời làm lạnh khuôn để mẫu được
cố định, đổ paraffin vào đầy khuôn.
Đặt khuôn mẫu trong tủ lạnh cho đông lại.
Lấy mẫu ra khỏi khuôn và đem trữ lạnh cho mẫu rắn lại.
Cắt mẫu
Mẫu đem cắt phải rắn và lạnh, mẫu được cắt thành từng lát mỏng bằng máy cắt
mô (microtome) với độ dày 2 – 4µm, dùng kim mũi giáo tách lấy lát mẫu có đầy
đủ hình dạng và không bị vỡ đặt vào lam đã nhỏ sẵn một ít nước, lam đặt trên
bàn sấy 45 – 50°C cho mẫu căng ra.
Lam mẫu đặt trên bàn sấy trong thời gian 12 – 24 giờ cho paraffin tan ra và mẫu
27,3±0,4
a
27,4±0,4
a
27,5±0,4
a
Chiều 28,8±0,6
a
28,7±0,7
a
28,7±0,7
a
28,8±0,7
a
Các giá tri của mỗi chỉ số trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê
(P>0,05).
Sự chênh lệnh nhiệt độ giữa sáng và chiều không lớn lắm và nằm trong khoảng
thích hợp cho sự sinh trưởng của tôm và hàu. Tôm sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 25-
30°C (Boyd, 1998). Mức nhiệt độ cao hơn 32-33°C hay thấp hơn 25°C thì khả
năng bắt mồi của tôm giảm 30-50% (Chanratchakool và ctv, 1995). Palafox
(1996) cho rằng ở nhiệt độ 28 – 30
o
C được xem là nhiệt độ tốt nhất cho sự gia
tăng tỷ lệ sống và tăng trưởng của tôm chân trắng ấu niên. Theo Lê Văn Cát và
ctv (2006) cho rằng các loài thủy sản ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới sẽ phát
triển chậm khi nhiệt độ dưới 25
o
C và có thể bị chết khi nhiệt độ thấp hơn 10 hoặc
15
o
Theo Boyd (1998) độ kiềm thích hợp cho tôm là 50-150 mg/L. Theo Trương
Quốc Phú (2006) thì độ kiềm thích hợp cho các đối tượng thủy sản 50-200 mg/L.
4.1.2. Sự biến động hàm lượng chất dinh dưỡng
4.1.2.1. Hàm lượng NH
4
+
/NH
3
(mg/L)
Hàm lượng NH
4
+
/NH
3
giữa các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê
(P>0,05). Thấp nhất ở NTI (0,3 ± 0,1), kế đến NTII (0,4 ± 0,1), cao nhất ở NTIII
và NTĐC (0,5 ± 0,1).
Hình 4.3. Biến động NH
4
+
/NH
3
theo thời gian (mg/L)
Hình 4.3 cho thấy ở thời điểm từ ngày bố trí đến ngày thứ 30 hàm lượng NH
4
+
vẫn cao ở các NT và giảm dần cho đến cuối vụ. Tuy nhiên ở ngày thứ 70 hàm
lượng NH
4
theo thời gian (mg/L)
Hàm lượng NO
2
-
có sự khác biệt giữa các nghiệm thức (P<0,05) NTI (2,9 ± 0,7
mg/L), NTII (3,1 ± 0,5 mg/L), NTIII (3,4 ± 0,4 mg/L) và NTĐC (3,7 ± 0,5
mg/L). Khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05) giữa NTĐC với NTI và NTII,
nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) với NTIII.
Hàm lượng NO
2
-
có sự tăng đột ngột trong ngày thứ 50 sau đó giảm dần về cuối
chu kỳ nuôi (Hình 4.4). Trong thâm canh việc sử dụng thức ăn càng nhiều thì
lượng khí độc trong ao càng tăng (Hải và ctv, 2009). Theo Lê Văn Cát (2006)
tôm biển chịu đựng nitrite rất kém và ước lượng ngưỡng chịu đựng không quá 2
mg/L.
21
4.2. Biến động số lượng tảo trong môi trường nước (tế bào/ml)
Mật độ tảo trung bình cao nhất ở NTĐC (36570±10689 tế bào/ml) kế đến là NT3
(10880±10186 tế bào/ml), NT2 (10310±11474 tế bào/ml) và thấp nhất là NT1
(6150±5623 tế bào/ml). Trong đó NT1, NT2, NT3 khác biệt không có ý nghĩa
thống kê (P>0,05) nhưng lại khác biệt có ý nghĩa thống kê với NTĐC (P<0,05).
Hình 3.5 cho thấy ở NTĐC từ ngày thứ 30 – 50 thì mật độ tảo tăng dần sau đó
giảm dần đến cuối vụ. Trong khi đó ở các NT1, NT2, NT3 thì cho thấy mật độ
tảo biến động không lớn lắm. Điều này có thể do vai trò của hàu trong việc làm
giảm đi số lượng tảo, điển hình là ở các NT có nuôi ghép hàu thì mật độ tảo
(6150 – 10880 tế bào/ml) trong khi đó ở NTĐC (36570 tế bào/ml). Theo nghiên
cứu của Nguyễn Chính (2005) cho rằng các loài động vật thân mềm có khả năng
hấp thụ tảo đơn bào và mùn bả hữu cơ làm thức ăn góp phần làm sạch môi
trường. Trương Quốc Phú và ctv (1997) nhận định khi tảo phát triển quá mức sẽ
độ 180 con/m
2
tôm tăng trưởng âm theo tỷ lệ giữa chiều dài và trọng lượng.
23
Bảng 4.2. Tốc độ tăng trưởng chiều dài tương đối và tuyệt đối của tôm nuôi theo
thời gian
Ngày nuôi
Tăng trưởng chiều dài tuyệt đối (cm/ngày)
NTI NT II NT III NTĐC
1-30 0,10±0,01
a
0,10±0,01
a
0,10±0,00
a
0,11±0,00
a
30-60 0,11±0,00
a
0,12±0,00
a
0,13±0,00
a
0,12±0,00
a
60-90 0,08±0,01
a
0,07±0,01
a
0,06±0,01
a
30-60
1,29±0,06
a
1,4±0,05
a
1,43±0,03
a
1,34±0,12
a
60-90 0,67±0,07
bc
0,60±0,07
bc
0,49±0,06
ab
0,48±0,04
a
90-120 0,37±0,07
a
0,34±0,06
a
0,29±0,06
a
0,33±0,02
a
Trung bình
1,05±0,03
a
1,05±0,01
nghiệm thức
Trung bình tốc độ tăng trưởng khối lượng tuyệt đối ở các NT khác biệt không có
ý nghĩa thống kê (P>0,05). Trong đó NTI, NTII có tốc độ tăng trưởng cao nhất
(0,17g/ngày) và NTIII, NTĐC có tốc độ tăng trưởng thấp hơn (0,15g/ngày). So
với thí nghiệm của Lê Văn Bình (2009) nuôi tôm chân trắng kết hợp với rong có
tốc độ tăng trưởng tuyệt đối là (0,11 – 0,12g/ngày) và của Lê Hồng Nhiên (2009)
tôm chân trắng kết hợp với hàu ở các độ mặn khác nhau thì cho kết quả cao hơn
(2,65 – 2,75g/ngày). Bảng 4.3 cho thấy tốc độ tăng trưởng khối lượng tương đối
ở các NT cũng khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05).
Bảng 4.3. Tăng trưởng khối lượng tuyệt đối và tương đối của tôm nuôi theo thời
gian ở các nghiệm thức
25