Môn: Thông tin trong quản lý hành chính nhà nước Giảng Viên: Doãn Minh Thắng
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
NHÀ NƯỚC
Giảng viên hướng dẫn : Ths. Doãn Minh Thắng
Nhóm thực hiện : Nhóm 5
Lớp : KS10 Quản lý công
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 9 năm 2011
Trang 1
Nhóm 5 lớp KS10 Quản lý Công
Môn: Thông tin trong quản lý hành chính nhà nước Giảng Viên: Doãn Minh Thắng
Lời nói đầu
Câu 5 : Trách nhiệm của nhà quản lý đối với vấn đề quản lý thông tin:
Thông tin trong quản lý là những gì mà nhà quản lý cần cho ra một quyết định,
đó là những thông tin có ích cho hoạt động quản lý và thực hiện các hành vi quản lý.
Thông tin quản lý phải gắn liền với quyết định quản lý và mục tiêu quản lý, cụ thể là
mọi thông tin quản lý đều nhằm phục vụ cho việc ra quyết định quản lý và nhằm đạt
được mục tiêu quản lý, ngược lại mọi quyết định quản lý đều phải chứa đựng thông tin
và sản phẩm của quyết định quản lý cũng chính là thông tin. Có thể xem thông tin
trong quản lý như hệ thần kinh của hệ thống quản lý, nó có mặt và có tác động đến tất
cả mọi khâu của quá trình quản lý, cho nên cũng có quan điểm bản chất của quá trình
quản lý là xử lý thông tin hoặc thông tin vừa là sản phẩm vừa là đối tượng của hoạt
động quản lý.
Ta thấy vai trò của thông tin trong quản lý rất lớn đó là:
+ Thông tin là đối tượng lao động của các cán bộ quản lý
+ Thông tin là cơ sở để nhà quản lý ban hành quyết định quản lý
+ Thông tin là căn cứ để tổ chức kiểm tra đánh giá việc thực hiện các quyết định
quản lý
+ Thông tin góp phần quan trọng trong việc phân tích, dự báo, phòng ngừa và
thông tin.
+ Xác định được chính xác, đầy đủ đâu là thông tin cần thiết cho hoạt động
quản lý.
+ Cụ thể phải thường xuyên đặt ra các câu hỏi như:
Đã kiểm tra sự thích hợp , tính chính xác và tính kịp thời của thông tin được
sử dụng trong phạm vi của mình chưa.Có đảm bào rằng thông tin thích hợp có thể
được truy cập tới dễ dàng đối với công chức cũng như công chúng.Vấn đề lưu trữ
cũng như vấn đề hủy bỏ thông tin như thế nào.
Có tìm kiếm các cơ hội để thu lại các chi phí thu thập và xử lý thông tin qua
việc bán hoặc cấp giấy phép khai thác thông tin một cách hợp lý.
- Phải biết cách đưa ra các quyết định chiến lược để đáp ứng các nhu cầu hoạt
động của quản lý.
+ Cách tiếp cận cơ bản để nhận ra nhu cầu của thông tin.
Trang 3
Nhóm 5 lớp KS10 Quản lý Công
Môn: Thông tin trong quản lý hành chính nhà nước Giảng Viên: Doãn Minh Thắng
+ Cách tiếp cận cơ bản trong việc xây dựng một kế hoạch chiến lược đối với
nhà quản lý thông tin.
+ Cách kết hợp việc lập kế hoạch thông tin chiến lược với việc lập kế hoạch
chương trình.
+ Cách thức và phương pháp nhằm lợi dụng các hệ thống chung và kinh
nghiệm của các tổ chức khác trong việc triển khai các hệ thống.
- Hiểu được vai trò quản lý thông tin và chuyển giao công nghệ.
+ Nên đặt ra và trả lời câu hỏi:
Chuyên gia cao cấp về công nghệ thông tin nên được sắp xếp vào vị trí nào?.
Khi nào một nhà quản lý chương trình nên thào luận hoặc đòi hỏi các chuyên gia
quản lý thông tin tham gia vào một vấn đề hoạt động.
Liệu tổ chức của bạn có tuân thủ triệt để các tiêu chuẩn, các kế hoạch đã xây dựng
cho sự thay đổi công nghệ.và có tổ chức đào tạo nhân viên của mình không?.
Liệu tổ chức của bạn có cung cấp đầy đủ thông tin, các công cụ, các quy trình cho
không phải người dùng tin luôn có được sự trợ giúp của các chuyên gia thông tin theo
như những phương thức truyền thống trước kia. Bởi vậy, để có thể khai thác và sử
dụng có hiệu quả thông tin, để giảm bớt các chi phí về thời gian, công sức cho việc tìm
kiếm thông tin, con người cần có khả năng xác định được một cách đúng và sau đó là
đầy đủ các nguồn/hệ thống thông tin nào khã dĩ đáp ứng được nhu cầu của mình.
Hiện tại tồn tại một số loại cơ quan thông tin- thư viện khác nhau. Dựa vào tính
chất của nguồn tài liệu mà cơ quan trực tiếp quản lý, người ta đã chia các cơ quan này
thành 5 loại chính:
1. Các cơ quan chủ yếu lưu giữ các xuất bản phẩm.
2. Các cơ quan chủ yếu lưu giữ và tạo lập các tư liệu khoa học.
3. Các cơ quan chủ yếu lưu giữ và tạo lập các loại ấn phẩm phân tích- tổng hợp
thông tin.
4. Các cơ quan chủ yếu lưu giữ và tạo lập các cơ sở dữ liệu.
5. Các cơ quan chủ yếu quản trị và khai thác các mạng thông tin.
Từ đó có thể thấy, nếu không xác định được đúng và đầy đủ các loại thông tin,
và sau đó là các nguồn/hệ thống thông tin tương ứng sẽ khó tìm được đầy đủ và chính
xác các thông tin cần cho công việc.Thông tin dù ở dạng nào, cũng cần có những thao
tác tìm kiếm hợp lý.
Trang 5
Nhóm 5 lớp KS10 Quản lý Công
Môn: Thông tin trong quản lý hành chính nhà nước Giảng Viên: Doãn Minh Thắng
Thông thường ta thấy thông tin thường ở hai dạng, đó là: thông tin ở dạng
truyền thống và thông tin dạng số hóa.
Thông tin ở dạng truyền thống là những thông tin được chứa đựng trong một
vật hay một vị trí cụ thể nào đó, thường được quản lý theo thư mục cụ thể và khá cứng
nhắc.
Thông tin dạng số hóa là những thông tin đã được mã hóa, không có dạng thức
cố định, có thể tìm thấy ở bất cứ đâu trên internet, tìm kiếm thông tin dễ dàng và
nhanh chóng.
Thông tin ở dạng truyền thống và ở dạng số hóa giống nhau ở chỗ: đều chứa
ta có thể thông qua các phương tiện như Internet để tìm kiếm sẽ rất nhanh chóng va
đơn giản.
Như vậy, mỗi người tùy thuộc vào nhu cầu và điều kiện cụ thể của mình mà cần
khai thác, sử dụng những thông tin xác định, có thể tìm kiếm thông tin ở dạng truyền
thống hay thông tin ở dạng số hóa.
Câu 7: Phân tích các điều kiện và nguyên tắc xây dựng và khai thác hệ thống
thông tin quản lý.Ví dụ minh họa.
1. Các điều kiện đề xây dựng và khai thác hệ thống thông tin quản lý:
Để có thể xây dựng thành công và khai thác có hiệu quả hệ thống thông tin
quản lý trong một cơ quan,tổ chức trước hết cần hội tụ đủ các điều kiện ở cả ba phương
diện:
- Lực lượng lãnh đạo
- Con người sử dụng và trang thiết bị được đưa vào sử dụng.
- Các phương pháp khoa học và các thủ tục ứng dụng.
Điều kiện về lực lượng lãnh đạo:
Đ ể hoạt động của một cơ quan tổ chức có hiệu quả, mỗi thành viên cần phải ý
thức được trước hết rõ ràng ý nghĩa và mục đích của việc xây dựng và khai thác hệ
thống thông tin qản lý.
Trước hết người lãnh đạo phải thấy được khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật, cụ
thể là ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thực hiện các chức năng quản lý.
Người quản lý phải luôn quan tâm đến vấn đề đổi mới phương pháp, kỹ thuật và
công nghệ.
Vấn đề khai thác và nâng cao hiệu quả ứng dụng khoa học kỹ thuật thông qua con
người và trang thiết bị của mỗi cơ quan phụ thuộc đáng kể ở khả năng nội tại hiện
Trang 7
Nhóm 5 lớp KS10 Quản lý Công
Môn: Thông tin trong quản lý hành chính nhà nước Giảng Viên: Doãn Minh Thắng
có,nhưng một phần rất quan trọng còn chịu ảnh hưởng ở cách nhìn nhận và giải quyết
cụ thể của người lãnh đạo.Vì người lãnh đạo ở đây không chỉ là người chịu trách nhiệm
mà còn là người duy nhất có khả năng chuẩn bị sẵn mọi điều kiện cần thiết cho hoạt
là bài toán tối ưu hóa phân bố kế hoạch giữa các tổ chức, phối hợp chính xác và quản
lý tốt việc cung cấp thong tin luân chuyển giữa các tồ chức, cũng như dự đoán về điều
kiện và tình hình phát triển trong tương lai.
Nguyên tắc tiếp cận hệ thống.
Thực chất của nguyên tắc này là việc thiết kế xây dựng hệ thống thong tin quản
lý phải dựa trên cơ sở phân tích cả hệ thống các đối tượng và hệ thống quản lý các đối
tượng đó.
Như vậy, trước hết phải xác định các mục tiêu và tiêu chuẩn đối với các hoạt
động của đối tượng, đồng thời với phân tích hệ thống quản lý là phân tích cơ cấu nhằm
phát hiện ra toàn bộ các vấn đề cần giải quyết, nhằm đảm bảo cho toàn bộ hệ thống sau
khi được thiết kế xây dựng sẽ hoạt động có hiệu quả cao nhất. Thường việc áp dụng hệ
thống thông tin quản lý trong hoạt động của doanh nghiệp đòi hỏi phải thực hiện hàng
loạt các biện pháp tổ chức, như thay đổi các hình thức tài liệu đã quen thuộc, thay đổi
cơ cấu các thành phần tham gia quản lý, thay đổi nhiệm vụ của một số thành phần
trong bộ máy quản lý.
Tuy không phải lúc nào cũng có thể giải quyết được hết các vấn đề đã nêu trong
phạm vi hệ thống được quan tâm, song nguyên tắc tiếp cận hệ thống đòi hỏi chúng ta
phải liệt kê đầy đủ các vấn đề cần được làm sáng tỏ.
Nguyên tắc người lãnh đạo cao nhất.
Từ nhiều phân tích thực tế có thể thấy rằng, để thực hiện được hai nguyên tắc đã
nêu, trước hết cần phải có sự tham gia trực tiếp ngay từ đầu của người lãnh đạo cao
nhất các đối tượng quản lý vào việc đặt hang, phác thảo, thiết kế xây dựng và áp dụng
hệ thống thong tin quản lý. Đó là nguyên tắc thứ ba: Nguyên tắc người lãnh đạo cao
nhất. Kinh nghiệm trong và ngoài nước đều cho thấy, mọi ý định chuyển trách nhiệm
xây dựng hệ thống thông tin quản lý cho những người có chức vụ thấp thường làm cho
Trang 9
Nhóm 5 lớp KS10 Quản lý Công
Môn: Thông tin trong quản lý hành chính nhà nước Giảng Viên: Doãn Minh Thắng
hệ thống được xây dựng sau này chỉ có thể trở thành công cụ để giải quyết các công
việc quản lý sự vụ chứ không thể làm tốt được các chức năng mong muốn của nó.
Nguyên tắc này đòi hỏi hệ thống thông tin quản lý phải được thiết kế và xây
dựng sao cho hệ thống thông tin có đủ khả năng thích ứng với những thay đổi lớn sau
này về phương tiện kỹ thuật cũng như phương pháp tổ chức dữ liệu. Như vậy sẽ mang
lại hiệu quả cao trong quá trình khai thác thông tin.
Nói cách khác, hệ thống thông tin quản lý được xây dựng phải có khả năng tiếp
thu được các công nghệ khai thác thông tin mới nhất, bảo đảm việc giải được các bài
toán quản lý mới phát sinh trên cơ sở vẫn tận dụng tốt những tài nguyên hiện có.
Nguyên tắc này sẽ bảo đảm cho hệ thống thông tin quản lý tránh được những khó khăn
và phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại.
Nguyên tắc làm phù hợp khả năng thông qua tại mọi nút, mọi bộ phận.
Nguyên tắc này thể hiện tính hiệu quả của hệ thống thông tin trong quản lý. Để
hệ thống thông tin quản lý có thể làm việc với độ tin cậy cao và với tốc độ như mong
muốn, phải tổ chức các luồng thông tin không quá tải đối với bất kỳ một nút hay một
bộ phận nào. Và để đạt được điều đó, trước tiên phải quan tâm đến các thông tin nằm ở
đầu vào và đầu ra của hệ thống, tiếp đó là các thông tin nằm ở những điểm giao của các
tiểu hệ thống hoạt động thường xuyên hoặc điểm giao của nhiều của nhiều tiểu hệ
thống hay là nhiều bộ phận. Bởi vì đó chính là những khúc hẹp nhất của các luồng
thông tin vận hành trong hệ thống.
Theo nguyên tắc này, việc xây dựng và khai thác thông tin phải phù hợp với mỗi
bộ phận cụ thể của hệ thống, phù hợp với khả năng của từng nút từng bộ phận. Như
vậy quá trình khai thác và xử lý thông tin sẽ nhanh chóng và đạt được hiệu quả cao.
Câu 7 : Tìm hiểu về khai báo hải quan điện tử
Theo Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2010-2011 của Diễn đàn kinh
tế thế giới(WEF), tháng 9/2010, Việt nam là quốc gia được xếp hạng thứ 50/139 về
năng lực cạnh tranh với những điểm mạnh được đánh giá như dân số trẻ (thứ 30), tính
đổi mới (thứ 49), thị trường xuất nhập khẩu lớn (thứ 35). Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn
có những điểm yếu được đánh giá và cần được cải thiện như cơ sở hạ tầng (thứ 117),
công nghệ (thứ 65) đặc biệt là những hạn chế về thủ tục hành chính và rào cản thuế
quan… Chính vì vậy, một trong những giải pháp được đưa ra nhằm cải thiện môi
trường kinh doanh là áp dụng hải quan điện tử, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
nghiệp vụ khác do cơ quan hải quan áp dụng để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển
trái phép hàng hoá qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quanh
điều động và phân công công tác.
Thông quan: Là việc cơ quan hải quan quyết định hàng hoá được xuất khẩu,
nhập khẩu, phương tiện vận tải được xuất cảnh, nhập cảnh.
Giải phóng hàng: Là việc cơ quan hải quan cho phép hàng hoá đang trong
quá trình làm thủ tục thông quan được đặt dưới quyền quyết định của người khai
hải quan.
Hồ sơ hải quan gồm có:
Tờ khai hải quan.
Hoá đơn thương mại.
Hợp đồng mua bán hàng hoá.
Trang 12
Nhóm 5 lớp KS10 Quản lý Công
Môn: Thông tin trong quản lý hành chính nhà nước Giảng Viên: Doãn Minh Thắng
Giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với hàng hoá
xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá
cảnh mà theo quy định của pháp luật phải có giấy phép.
Các chứng từ khác theo quy định của pháp luật đối với từng mặt
hàng mà người khai hải quan phải nộp hoặc xuất trình cho cơ quan hải quan.
Hồ sơ hải quan là hồ sơ giấy hoặc hồ sơ điện tử. Hồ sơ hải quan
điện tử phải bảo đảm tính toàn vẹn và khuôn dạng theo quy định của pháp luật.
Thủ tục hải quan điện tử là thủ tục hải quan, trong đó việc khai
báo, gửi hồ sơ và việc tiếp nhận, đăng ký hồ sơ được thực hiện thông qua hệ
thống xử lý dữ liệu điện tử của hải quan.
2. Ưu và nhược điểm của khai báo hải quan điện tử.
2.1. Ưu điểm.
Bất kỳ ở nơi nào, thời gian nào, chỉ cần phần mềm chuyên dụng (do hải quan
cung cấp), doanh nghiệp có thể khai báo thủ tục XNK hàng hoá thông qua một file
dữ liệu. File này sẽ được hệ thống máy tính của hải quan xử lý, tự động chuyển
công tác quản lý khâu thông quan và các khâu sau.
Bên cạnh đó việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử có một vai trò rất quan
trọng trong việc tạo thuận lợi thương mại, nhất là hoạt động xuất nhập khẩu. Việc
thực hiện thủ tục hải quan điện tử còn giúp tăng cường khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp do giảm chi phí và thời gian thông quan.
Tất cả đã tạo ra bước đổi mới về phong cách làm việc, giúp DN hoàn thiện
đầu tư về con người, máy móc, thiết bị
2.2. Nhược điểm.
Bị tính thuế hai lần cho một lô hàng, lô hàng bị đội thêm chi phí, thông quan
chậm chỉ vì đường truyền hải quan điện tử. Dữ liệu đã bị "rơi vãi" trên đường đi
từ máy tính doanh nghiệp đến máy trạm của Hải quan nên các số liệu thiếu, không
trùng khớp. Mặt khác nếu như doanh nghiệp không làm được thủ tục hải quan thì
phải trả thêm tiền kho bãi cho cảng và hãng tàu. Do quá mệt mỏi với làm thủ tục hải
quan qua mạng lúc được lúc không, không ít doanh nghiệp phải thuê công ty dịch
vụ trong khi bản thân họ cũng có phòng xuất nhập khẩu.
Một khó khăn khác, phần mềm khai báo HQĐT dù được chỉnh lý rất nhiều
lần nhưng vẫn còn quá nhiều khiếm khuyết. Cơ sở dữ liệu thiếu nguồn cập nhật,
hoặc nguồn cập nhật không thể đúng với phần mềm, nhất là dữ liệu áp mã hàng hoá
hài hoà, thuế suất. Đây là cản trở lớn nhất trong xử lý file nguồn, phải tham chiếu,
hiệu chỉnh bằng tay mới đóng gói được dữ liệu. Ngoài ra, trục trặc, lỗi hệ thống còn
có nguyên nhân khác từ phía doanh nghiệp. Hầu hết doanh nghiệp khai báo HQĐT
thường truy xuất dữ liệu từ file lưu trữ của mình trước đó được thực hiện trên nền
tảng phần mềm Excel hoặc những phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu khác không
tương thích với phần mềm của hải quan. Hơn nữa “Người viết phần mềm thì không
rành thủ tục hải quan. Người rành thủ tục hải quan lại không biết viết phần mềm”.
Các DN do chưa bị cơ sở pháp lý bắt buộc phải khai báo điện tử nên còn tình
trạng "thích thì làm, không thích thì thôi". Đại đa số là DN vừa và nhỏ nên việc
khai báo điện tử chưa cấp thiết đối với họ.Các DN vẫn tiến hành "tay đôi", vừa phải
khai điện tử vừa phải nộp hồ sơ giấy nên chẳng thiết tha gì với khai điện tử. Không
ít DN còn lo ngại hệ thống bảo mật của hải quan không cao nên dễ thất thoát thông
giải phóng hàng, hạn chế việc xuất trình giấy tờ, cho phép doanh nghiệp nộp thuế
HQ bằng phương tiện điện tử, giảm bước trao đổi các tài liệu thương mại.
Hệ thống tiếp nhận khai báo và xử lý thủ tục HQ của Singapore là một hệ
thống tự động hóa hoàn chỉnh. Tờ khai được gửi tới cơ quan hải quan trong hoặc
ngoài Singapore thông qua EDI-Network (VAN) sau đó sẽ được kiểm tra, tính thuế,
tự động thanh toán khoản thuế và gửi lại cho người khai hải quan. Người khai hải
quan có thể in bản sao của giấy phép giả phóng tại máy tính của mình để nhận
hàng. Để thực hiện việc tự động hóa toàn phần như trên, hệ thống của HQ phải kết
nối với các cơ quan khác để trao đổi thông tin nhằm kiểm tra thông tin khai báo trên
tờ khai của DN.
Thái Lan
Thái Lan bắt đầu thực hiện chiến lược hiện đại hóa HQ vào năm 1996 bằng
việc thực hiện triển khai thí điểm hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử, tự động hóa
Trang 15
Nhóm 5 lớp KS10 Quản lý Công
Môn: Thông tin trong quản lý hành chính nhà nước Giảng Viên: Doãn Minh Thắng
công tác quản lý HQ đối với hoạt động XNK tại các cảng biển và sân bay trên toàn
quốc. Thái Lan đã tập trong phát triển hạ tầng CNTT, xây dựng hai trung tâm dữ
liệu tại văn phòng chính và cảng biển Bangkok Seaport, trang bị hơn 2000 trạm
làm việc.
Malaysia
Hiện nay, tất cả các giao dịch điện tử giữa cơ quan HQ với DN, với các cơ
quan khác như: đại lý vận tải, cơ quan giao nhận, ngân hàng, các cơ quan quản lý
của chính phủ đều thông qua mạng Dagang Net. Dagang Net sẽ chịu trách nhiệm
về việc quy định chuẩn bị dữ liệu khai HQĐT và giải quyết mọi tranh chấp xảy ra
giữa người khai và cơ quan HQ đối với việc trao đổi thông tin. Việc khai HQ được
thông qua 3 hình thức sau:
- Sử dụng phần mềm khai HQ của Dagang Net
- Sử dụng website của Dagang Net,
- Mang mẫu tờ khai đến Dagang Net để nhập dữ liệu vào hệ thống.
được cấp giấy công nhận tham gia TTHQĐT với tổng số 324 tờ khai XNK, trị giá 30,8
triệu USD. Mặt hàng XK chủ yếu là gạo, mặt hàng NK chủ yếu là tân dược. Tính đến
24-10-2005, số thuế phải thu là hơn 64,5 tỷ đồng.
Từ 2009 đến nay:
Nhìn chung, Hải quan điện tử ở Việt Nam đang đi vào hoàn thiện và tiếp tục thí
điểm tại các chi cục khác. Sau đây là quá trình thực hiện TTHQĐT ở một số nơi:
•
Hải Quan TP Hồ Chí Minh.
Gần hai phần ba các hình thức ứng dụng hải quan được chấp nhận trực tuyến
vào cuối năm 2010, hơn 1.600 doanh nghiệp đã tham gia một khóa đào tạo về hải quan
điện tử trong thành phố hôm qua. Kể từ đầu năm đến nay, các Chi cục đã phê duyệt
mẫu đơn 3200, với doanh thu 3,7 tỷ USD, và đóng góp 6 nghìn tỉ đồng cho ngân sách
nhà nước.
•
Hải Quan Lào Cai.
Hiện tại, Cục Hải quan Lào Cai có 04 Chi cục Hải quan trực tiếp làm nhiệm vụ
quản lý hoạt động xuất nhập khẩu. Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2009 đạt khoảng
625 triệu đô la Mỹ, số lượng tờ khai hơn 12 nghìn, trong đó số tờ khai của loại hình
xuất nhập khẩu theo hợp đồng mua bán là 11 nghìn, số tờ khai của loại hình sản xuất
xuất khẩu đạt gần 300 tờ, thu nộp ngân sách nhà nước là 661 tỷ đồng, số lượng doanh
nghiệp thực hiện thủ tục hải quan tại địa bàn Cục Hải quan Lào Cai là 540 doanh
nghiệp với 157 doanh nghiệp trong tỉnh và 383 doanh nghiệp ngoài tỉnh Lào Cai. Với
vị trí là điểm đầu giao thương trên đường xuyên Á nối Trung Quốc với Khu vực
ASEAN lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng tăng.
•
Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trang 17
Nhóm 5 lớp KS10 Quản lý Công
Môn: Thông tin trong quản lý hành chính nhà nước Giảng Viên: Doãn Minh Thắng
2010, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa được thông quan điện tử tại Chi
như trước đây.Ngoài ra, phần mềm mới được áp dụng đầu tiên tại TPHCM, chưa đồng
bộ trên cả nước nên sẽ có tình trạng doanh nghiệp phải sử dụng song song hai phần
mềm nếu làm thủ tục hải quan ở nhiều nơi.
4. Biện pháp mở rộng khai báo hải quan điện tử.
Trang 18
Nhóm 5 lớp KS10 Quản lý Công
Môn: Thông tin trong quản lý hành chính nhà nước Giảng Viên: Doãn Minh Thắng
Mục tiêu của ngành Hải quan là đến năm 2015 sẽ đưa thủ tục hải quan điện tử
trở thành một phương thức phổ biến với tỷ trọng kim ngạch thực hiện hải quan điện tử
đạt 70% trên tổng kim ngạch xuất nhập khẩu , tỷ trọng tờ khai hải quan điện tử đạt
70% trên tổng số tờ khai trên địa bàn với phạm vi 70% số chi cục hải quan thực hiện,
góp phần hỗ trợ đắc lực cho hoạt động xuất nhập khẩu. Để đạt được mục tiêu như trên
với thực trạng còn nhiều khó khăn trong việc triển khai hiện nay thì một số giải pháp
đã được đề xuất như sau:
Đẩy mạnh ứng dụng chữ ký số trong khai báo hải quan. Đây là một loại chữ ký mã hóa
thông tin đi kèm theo dữ liệu ( hình ảnh, văn bản, video…) nhằm mục đích xác định
người chủ của dữ liệu đó. Ưu điểm của chữ ký điện tử là khả năng xác định nguồn gốc.
Các hệ thống mật mã hóa khóa công khai cho phép mật mã hóa văn bản với khóa bí
mật mà chỉ có người chủ của khóa biết.
Để sử dụng chữ ký số thì văn bản cần phải được mã hóa bằng hàm băm (văn bản được
"băm" ra thành chuỗi, thường có độ dài cố định và ngắn hơn văn bản) sau đó dùng
khóa bí mật của người chủ khóa để mã hóa, khi đó ta được chữ ký số. Khi cần kiểm tra,
bên nhận giải mã (với khóa công khai) để lấy lại chuỗi gốc (được sinh ra qua hàm băm
ban đầu) và kiểm tra với hàm băm của văn bản nhận được. Nếu 2 giá trị (chuỗi) này
khớp nhau thì bên nhận có thể tin tưởng rằng văn bản xuất phát từ người sở hữu khóa
bí mật. Tất nhiên là chúng ta không thể đảm bảo 100% là văn bản không bị giả mạo vì
hệ thống vẫn có thể bị phá vỡ. Bên cạnh đó, loại chữ ký này còn bảo đảm tính toàn vẹn
của văn bản được gửi vì nếu văn bản bị thay đổi thì hàm băm cũng sẽ thay đổi và lập
tức bị phát hiện.Một ưu điểm nữa của việc sử dụng loại chữ ký này rằng nó là bằng
chứng không thể chối nhận trong giải quyết tranh chấp trong giao dịch. Khi ký kết một
các biện pháp tương tự được tiến hành ở các nước và vùng lãnh thổ khác nhau.
Về phía doanh nghiệp: phải nâng cấp hệ thống CNTT trong nội bộ doanh nghiệp và
đào tạo nguồn nhân lực có trình độ để tiếp cận và sử dụng hiệu quả công nghệ điện tử
trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử.
Kết Luận
Tóm lại, Hải Quan Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển mình. Một sự thay
đổi mạnh mẽ trong ngành Hải Quan để đất nước hội nhập tốt trong giai đoạn hiện nay,
góp phần thực hiện chiến lược phát triển của đất nước. Để Hải Quan Việt Nam càng tốt
hơn nữa, đặc biệt hải quan điện tử càng được đưa vào sử dụng rộng rãi, cần một sự hợp
tác tích cực từ nhà nước, hải quan đến doanh nghiệp. Để trong 5 năm tới các Chi Cục
Hải Quan sẽ đạt được mục tiêu đề ra và sẽ đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn.
Trang 20
Nhóm 5 lớp KS10 Quản lý Công
Mơn: Thơng tin trong quản lý hành chính nhà nước Giảng Viên: Dỗn Minh Thắng
Danh sách tổ 5 lớp Quản lý cơng:
STT Họ và tên đệm
Tên Ghi chú Cơng Việc
01 Hoàng Thò Hoài Tổ trưởng
Câu 5, chương 1
02 Triệu Vi Hoàng Hoài
Câu 5, chương 1
03 Lê Xuân Thònh
Câu 5, chương 1
04 Thoungxay Chanthabandith
Câu 5, chương 1
05 Lưu Trường Giang
Câu 12, chương 1
06 Y Klem
Câu 12, chương 1
07 Trần Thò Nga
Trang 22
Nhóm 5 lớp KS10 Quản lý Cơng