Tính tốn thiết kế hệ thống xử lý nước thải thủy sản Cơng ty thủy sản Thanh Khiết
MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề
Nguồn gốc mọi sự biến đổi về môi trường sống đang xảy ra hiện nay trên thế
giới cũng như ở nước ta là các hoạt động kinh tế, phát triển của xã hội loài người.
Các hoạt động này một mặt làm cải thiện chất lượng cuộc sống của con người ,
mặt khác lại đang tạo ra hàng loạt khan hiếm, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên
nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường khắp mọi nơi trên thế giới. Vì vậy, bảo
vệ môi trường trở thành vấn đề toàn cầu, là quốc sách của hầu hết các nước trên
thế giới.
Việt Nam đang trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Nền kinh tế thò trường là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi ngành
kinh tế, trong đó có ngành chế biến lương thực, thực phẩm tạo ra các sản phẩm có
giá trò phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu. Tuy nhiên,
ngành này cũng tạo ra một lượng lớn chất thải rắn, khí, lỏng… là một trong những
nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường chung của đất nước. Cùng với ngành
công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm thì ngành chế biến thuỷ sản cũng
trong tình trạng đó. Do đặc điểm công nghệ của ngành, ngành chế biến thuỷ sản
đã sử dụng một lượng nước khá lớn trong quá trình chế biến. Vì vậy, ngành đã
thải ra một lượng nước khá lớn cùng với các chất thải rắn, khí thải. Vấn đề ô
nhiễm nguồn nước do ngành chế biến thuỷ sản thải trực tiếp ra môi trường đang
là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý môi trường. Nước bò nhiễm bẩn sẽ
ảnh hưởng đến con người và sự sống của các loài thuỷ sinh cũng như các loài
động thực vật sống gần đó. Vì vậy, việc nghiên cứu xử lý nước thải ngành chế
biến thuỷ sản cũng như các ngành công nghiệp khác là một yêu cầu cấp thiết đặt
ra không chỉ đối với những nhà làm công tác bảo vệ môi trường mà còn cho tất cả
mọi người chúng ta.
GVHD: Ths.Nguyễn Chí Hiếu
SVTH : Nguyễn Văn Biên Trang 1
Tính tốn thiết kế hệ thống xử lý nước thải thủy sản Cơng ty thủy sản Thanh Khiết
Mục đích đề tài
Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, ẩm ướt cũng như chòu sự chi phối của
các yếu tố như gió, mưa, đòa hình, thổ nhưỡng, thảm thực vật nên tạo điều kiện
hình thành dòng chảy với hệ thống sông ngoài dày đặc. Không kể đến các sông
suối thì tổng chiều dài của các con sông l 41.000 km.
Theo thống kê của Bộ thuỷ sản thì hiện nay chúng ta có hơn 1.470.000 ha
mặt nước sông ngoài có thể dùng cho nuôi trồng thuỷ sản. Ngoài ra còn có
khoảng 544.500.000 ha ruộng trũng và khoảng 56.200.000 ha hồ có thể dùng để
nuôi cá. Tính đến nay cả nước xây dựng được 650 hồ, đập vừa và lớn, 5.300 hồ và
đập nhỏ với dung tích xấp xỉ 12 tỉ m
3
, đặc biệt chúng ta có nhiều hồ thiên nhiên
và nhân tạo rất lớn như hồ Tây ( 10 – 14 triệu m
3
), hồ Thác Bà (3000 triệu m
3
),
hồ Cấm Sơn (250 triệu m
3
).
Mặt khác, chúng ta có bờ biển dài trên 3200 km , có rất nhiều vònh thuận lợi
kết hợp với hệ thống sông ngòi, ao hồ là nguồn lợi to lớn để phát triển ngành
nghề nuôi trồng, đánh bắt và chế biến động thực vật chế biến thuỷ hải sản. Rong
biển và các loài thuỷ sản thân mềm, cá và các loài nhuyễn thể, giáp xác có trong
biển, ao, hồ, sông suối là nguồn protit có giá trò to lớn, giàu các vitamin và các
nguyên tố vi lượng, là nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp, là kho tàng và
tài nguyên vô tận về động vật, thực vật. Biển Việt Nam thuộc vùng biển nhiệt
đới nên có nguồn lợi vô cùng phong phú. Theo số liệu điều tra của những năm
1980- 1990 thì hệ thực vật thuỷ sinh có tới 1300 loài và phân loài gồm 8 loài cỏ
biển và gần 650 loài rong, gần 600 loài phù du, khu hệ động vật có 9250 loài và
phân loài trong đó có khoảng 470 loài động vật nổi, 6400 loài động vật đáy, trên
hơn 1000 chiếc với trọng tải trên 4000 tấn, tàu vận tải lạnh khoảng 28 chiếc, với
tổng trọng tải 6150 tấn. Chế biến nước nắm được duy trì ở mức 150 triệu lít/ năm.
Đối với hàng chế biến xuất khẩu, ngành đang chuyển dần từ hình thức bán
GVHD: Ths.Nguyễn Chí Hiếu
SVTH : Nguyễn Văn Biên Trang 4
Tính tốn thiết kế hệ thống xử lý nước thải thủy sản Cơng ty thủy sản Thanh Khiết
nguyên liệu sang xuất khẩu các sản phẩm tươi sống, sàn phẩm ăn liền và sản
phẩm bán lẻ siêu thò có giá trò cao hơn. Tuy vây, giá trò các mặt hàng đông lạnh
của nước ta chỉ bằng 1/2 hay 2/3 giá trò xuất khẩu các mặt hàng tương tự của
Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan. Hiện nay cả nước có khoảng 168 nhà máy, cơ
sở chế biến đông lạnh với công suất tổng cộng khoảng 100.000 tấn sản phẩm/
năm.
Quy trình công nghệ chế biến hàng động lạnh ở nước ta hiện nay chủ yếu
dừng ở mức độ sơ chế và bảo quản đông lạnh. Chủ yếu là đưa tôm cá từ nơi đánh
bắt về sơ chế, đóng gói, cấp đông, bảo quản lạnh … và xuất khẩu. Về thiết bò, đại
đa số các nhà máy và cơ sở chế biến thuỷ hải sản đông lạnh được xây dựng sau
1975, tập trung vào những năm 80 cho nên còn tương đối mới, trang bò bằng máy
cấp đông kiểu tiếp xúc 2 băng chuyền.
1.2 Tổng quan về Công ty thủy sản Thanh Khiết
1.2.1 Giới thiệu chung về công ty
- Tên cơ sở: Công ty TNHH Thanh Khiết.
- Đòa chỉ: đường Lê Lợi, khu 1, Thò trấn Vónh Châu, Huyện Vónh Châu, Tỉnh
Sóc Trăng.
- Năm thành lập: tháng 10/1997.
- Năm bắt đầu hoạt động : 1998.
- Tình hình sản xuất kinh doanh:
Bảng 2.1. Tình hình sản xuất kinh doanh.
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Sản phẩm Mực, Ghẹ, Cá Tôm, Mực, Ghẹ Tôm
Sản lượng 3080 tấn 2500 tấn 1400 tấn
2
.
• Khu vực chế biến: 227,94m
2
.
• Khu vực cấp đông: 926,40m
2
.
• Khu vực kho lạnh: 261,00m
2
.
• Khu vực sản xuất khác: 1232,00m
2
.
Mô tả hiện trạng điều kiện cơ sở vật chất nhà xưởng và kết cấu: Kết
cấu nhà xưởng khung thép tiền chế, tường xây gạch thu hồi, mái lợp tol mạ kẽm,
xung quanh bên trong ốp gạch men cao 1,25m. Các vách ngăn bằng nhôm, kính.
Nền bằng đá mài màu trắng, trần tấm nhôm sóng. Trang bò các thiết bò lạnh, quạt
thông gió.
1.3.2 Trang thiết bò chính
GVHD: Ths.Nguyễn Chí Hiếu
SVTH : Nguyễn Văn Biên Trang 6
Tính tốn thiết kế hệ thống xử lý nước thải thủy sản Cơng ty thủy sản Thanh Khiết
Bảng 2.2. Trang thiết bò trong công ty.
S
TT
Tên trang thiết bò Nước sản
xuất
Số lượng Năm đưa
vào sử
01
01
01
01
01
2002
2002
2002
2002
1997
1997
Nhận xét chung về hiện trạng hoạt động của các thiết bò: Các loại trang
thiết bò đang hoạt động tốt.
1.3.3 Hệ thống phụ trợ
1.3.3.1 Nguồn nước sử dụng cho khu vực sản xuất
Nguồn nước đang sử dụng: Nước giếng khoan với độ sâu 140m. Phương pháp
đảm bảo chất lượng nước cung cấp cho khu vực sản xuất (kể cả khu vực sản xuất
nước đá)
- Hệ thống có lắng lọc với 01 bể chứa có dung tích 200m
3
.
- Hệ thống khử trùng dùng Chlorine đònh lượng.
1.3.3.2 Nguồn nước đá
- Tự sản xuất: đá vẩy với công suất 15tấn/ngày.
- Mua ngoài: đá cây với công suất 100tấn/ngày.
1.3.3.3 Hệ thống xử lý chất thải
GVHD: Ths.Nguyễn Chí Hiếu
SVTH : Nguyễn Văn Biên Trang 7
Tính tốn thiết kế hệ thống xử lý nước thải thủy sản Cơng ty thủy sản Thanh Khiết
Để giải quyết bài toán ô nhiễm từ các chất thải trong quá trình sản xuất gây
nhà xưởng theo tiêu chuẩn của ngành.
1.4.1.3 Quy trình sản xuất
GVHD: Ths.Nguyễn Chí Hiếu
SVTH : Nguyễn Văn Biên Trang 9
Nguyên liệu
Rửa lần 1
Rửa lần 2
Ngâm
Ngâm, quay
Rửa lần 3
Cân Đông IQF
Xếp khuôn
Bao gói, bảo quản
Mạ băng
Cấp đông
Cân
Tái đông
Bao gói, bảo quản
Mạ băng
Phân cở, hạng
Nước thải ngâm
Nước thải rửa
Nước thải rửa
Nước thải rửa
Nước thải rửa
Sơ chế
Tính tốn thiết kế hệ thống xử lý nước thải thủy sản Cơng ty thủy sản Thanh Khiết
Hình 2.1. Quy trình chế biến tôm vỏ lặt đầu (HLSO) đông lạnh
GVHD: Ths.Nguyễn Chí Hiếu
SVTH : Nguyễn Văn Biên Trang 10
Tính tốn thiết kế hệ thống xử lý nước thải thủy sản Cơng ty thủy sản Thanh Khiết
Tương tự như các công ty chế biến thủy sản khác nói riêng và ngành chế
biến thủy sản nói chung, vấn đề gây ô nhiễm môi trường mà công ty cần quan
tâm trong quá trình sản xuất là ô nhiễm môi trường do khí thải, bụi, mùi, ô nhiễm
môi trường do chất thải rắn và ô nhiễm môi trường do nước thải.
1.5.1 Ô nhiễm do khí thải, bụi, mùi
Ô nhiễm mùi phát sinh từ chất thải rắn, các chất này là phế liệu bỏ ra từ
nguyên liệu chính (đầu tôm, vây cá, xương cá,…). Nếu để lâu ngày sẽ diễn ra quá
trình phân hủy làm phát sinh mùi hôi, ảnh hưởng đến môi trường bên trong và
ngoài nhà máy. Do đó cần xử lý triệt để lượng chất thải rắn phát sinh nhằm hạn
chế ô nhiễm mùi.
Khí thải phát sinh từ nhà máy chủ yếu từ các lò hơi sử dụng dầu DO, máy
phát điện, các máy nén khí của các thiết bò đông lạnh với các loại khí như: NH
3
,
NO
2
, SO
2
, bụi, H
2
S. Tuy vậy mức độ ô nhiễm không lớn và có thể khống chế nếu
công ty thường xuyên quan tâm đến việc bảo quản và sửa chữa trang thiết bò.
1.5.2 Ô nhiễm do chất thải rắn
Với lượng chất thải rắn thải ra ngày càng nhiều trong quá trình sản xuất mà
không có biện pháp xử lý kòp thời thì sẽ gây ô nhiễm mùi, ảnh hưởng đến môi
trường xung quanh. Nhằm tránh hiện tượng này, công ty đã có biện pháp tách
riệng chất thải rắn từ khu vực sản xuất với chất thải sinh hoạt, chất thải rắn từ khu
sản xuất được đưa ra khỏi nhà máy và mang đi xử lý theo quy đònh chung. Chất
thải rắn từ khâu bao bì , đóng gói … và chất thải rắn sinh hoạt được tập trung về vò
C 27 ÷ 33 40
3
BOD
5
mgO
2
/L 767 < 50
4
COD mgO
2
/L 1150 < 100
5
Tổng cặn lơ lửng SS mg/L 300 < 100
6
Tổng Nitơ mg/L 80,45 < 60
7
Tổng Photpho mg/L 9,56 < 6
Nguồn : Phòng thí nghiệm khoa Môi Trường – Trường Đại Học Bách Khoa
TP.HCM ngày 10/06/2010.
Do thời gian làm luận văn và kinh phí có giới hạn nên chỉ có thể khảo sát sự
biến thiên của các thông số như: COD, BOD
5
, SS, pH. Nếu có điều kiện nghiên
cứu tiếp theo sẽ khảo sát thêm hàm lượng Nitơ, Photpho ……
GVHD: Ths.Nguyễn Chí Hiếu
SVTH : Nguyễn Văn Biên Trang 13
Tính tốn thiết kế hệ thống xử lý nước thải thủy sản Cơng ty thủy sản Thanh Khiết
Qua kết quả phân tích nước thải hiện tại của công ty, ta nhận thấy nước thải
của công ty không đạt tiêu chuẩn xã thải vào môi trường. Do vậy, việc thiết kế
trạm xử lý nước thải cho công ty là vấn đề cần thiết và cấp bách.
2.1.2.1 Bể lắng đứng
Bể lắng đứng có dạng hình tròn hoặc hình chử nhật trên mặt bằng. Bể lắng
đứng thường dùng cho các trạm xử lý có công suất dưới 20.000 m
3
/ng.đ. Nước thải
GVHD: Ths.Nguyễn Chí Hiếu
SVTH : Nguyễn Văn Biên Trang 15
Tính tốn thiết kế hệ thống xử lý nước thải thủy sản Cơng ty thủy sản Thanh Khiết
được dẫn vào ống trung tâm và chuyển động từ dưới lên theo phương thẳng đứng.
Vận tốc dòng nước chuyển động lên phải nhỏ hơn vận tốc của các hạt lắng. Nước
trong được tập trung vào máng thu phía trên. Cặn lắng được chứa ở phần hình nón
hoặc chóp cụt phía dưới.
2.1.2.2 Bể lắng ngang
Bể lắng ngang có hình dạng chử nhật trên mặt bằng, tỷ lệ giữa chiều rộng và
chiều dài không nhỏ hơn ¼ và chiều sâu đến 4m. Bể lắng ngang dùng cho các
trạm xử lý có công suất lớn hơn 15.000 m
3
/ ng.đ. Trong bể lắng nước thải chuyển
động theo phương ngang từ đầu bể đến cuối bể và được dẩn tới các công trình xử
lý tiếp theo, vận tốc dòng chảy trong vùng công tác của bể không được vượt quá
40 mm/s. Bể lắng ngang có hố thu cặn ở đầu bể và nước trong được thu vào ở
máng cuối bể .
2.1.2.3 Bể lắng ly tâm
Bể lắng ly tâm có dạng hình tròn trên mặt bằng ,đường kính bể từ 16 đến 40
m (có trưòng hợp tới 60m), chiều cao làm việc bằng 1/6 – 1/10 đường kính bể. Bể
lắng ly tâm được dùng cho các trạm xử lý có công suất lớn hơn 20.000 m
3
/ng.đ.
Trong bể lắng nước chảy từ trung tâm ra quanh thành bể. Cặn lắng được dồn vào
hố thu cặn được xây dựng ở trung tâm đáy bể bằng hệ thống cào gom cặn ở phần
gây tác động với các tạp chất bẩn, biến đổi hoá học, tạo thành các chất khác dưới
dạng cặn hoặc chất hoà tan nhưng không độc hại hoặc gây ô nhiễm môi trường.
Giai đoạn xử lý hoá lý có thể là giai đoạn xử lý độc lập hoặc xử lý cùng với các
phương pháp cơ học, hoá học, sinh học trong công nghệ xử lý nước thải hoàn
chỉnh.
Những phương pháp hoá lý thường được áp dụng để xử lý nước thải là: keo
tụ, tuyển nổi, đông tụ, hấp phụ, trao đổi ion, thấm lọc ngược và siêu lọc …v…v…
2.2.1 Phương pháp đông tụ và keo tụ
Quá trình lắng chỉ có thể tách được các hạt rắn huyền phù nhưng không thể
tách được các chất gây nhiễm bẩn ở dạng keo và hoà tan vì chúng là những hạt
GVHD: Ths.Nguyễn Chí Hiếu
SVTH : Nguyễn Văn Biên Trang 17
Tính tốn thiết kế hệ thống xử lý nước thải thủy sản Cơng ty thủy sản Thanh Khiết
rắn có kích thước quá nhỏ. Để tách các hạt rắn đó một cách có hiệu quả bằng
phương pháp lắng, cần tăng kích thước của chúng nhờ sự tác động tương hổ giữa
các hạt phân tán liên kết thành tập hợp các hạt, nhằm tăng vận tốc lắng của
chúng. Việc khử các hạt keo rắn bằng lắng trọng lượng đòi hỏi trước hết cần
trung hoà điện tích của chúng, thứ đến là liên kết chúng với nhau. Quá trình trung
hoà điện tích thường được gọi là quá trình đông tụ (coagulation), còn quá trình tạo
thành các bông lớn hơn từ các hạt nhỏ gọi là quá trình keo tụ (flocculation).
2.2.1.1 Phương pháp đông tụ
Quá trình thuỷ phân các chất đông tụ và tạo thành các bông keo xảy ra theo
các giai đoạn sau :
Me
3
+ HOH
⇔
Me(OH)
2+
+ H
(SO
4
)
3
.18H
2
O, NaAlO
2
,
Al(OH)
2
Cl, Kal(SO
4
)
2
.12H
2
O, NH
4
Al(SO
4
)
2
.12H
2
O. Thường sunfat nhôm làm chất
đông tụ vì hoạt động hiệu quả pH = 5 – 7.5, tan tốt trong nước, sử dụng dạng khô
hoặc dạng dung dòch 50% và giá thành tương đối rẽ.
Các muối sắt được dùng làm chất đông tụ: Fe(SO)
3
lại các hạt keo do lực đẩy Vanderwalls. Dưới tác động của chất keo tụ giữa các
hạt keo tạo thành cấu trúc 3 chiều, có khả năng tách nhanh và hoàn toàn ra khỏi
nước.
Chất keo tụ thường dùng có thể là hợp chất tự nhiên và tổng hợp chất keo tự
nhiên là tinh bột, ete, xenlulo, dectrin (C
6
H
10
O
5
)
n
và dioxyt silic hoạt tính
(xSiO
2
.yH
2
O).
2.2.2 Tuyển nổi
Phương pháp tuyển nổi thường được sử dụng để tách các tạp chất (ở dạng rắn
hoặc lỏng) phân tán không tan, tự lắng kém ra khỏi pha lỏng. Trong xử lý nước
thải, tuyển nổi thường được sử dụng để khử các chất lơ lửng và làm đặc bùn sinh
học. Ưu điểm cơ bản của phương pháp này so với phương pháp lắng là có thể khử
được hoàn toàn các hạt nhỏ hoặc nhẹ, lắng chậm, trong một thời gian ngắn. Khi
các hạt đã nổi lên bề mặt, chúng có thể thu gom bằng bộ phận vớt bọt.
Quá trình tuyển nổi được thực hiện bằng cách sục các bọt khí nhỏ (thường là
không khí ) vào trong pha lỏng. Các khí đó kết dính với các hạt và khi lực nổi của
tập hợp các bóng khí và hạt đủ lớn sẽ kéo theo hạt cùng nổi lên bề mặt, sau đó
chúng tập hợp lại với nhau thành các lớp bọt chứa hàm lượng các hạt cao hơn
trong chất lỏng ban đầu.
Clorua vôi, thiết bò đònh lượng máng trộn và bể tiếp xúc.
Với Clorua vôi được hoà trộn sơ bộ tại thùng hoà trộn cho đến dung dòch 10
-15% sau đó chuyển qua thùng dung dòch. Bơm đònh lượng sẽ đưa dung dòch
Clorua vôi với liều lượng nhất đònh đi hoà trộn vào nước thải. Trong các thùng
trộn dung dòch, Clorua vôi được khuấy trộn với nước cấp bằng các cánh khuấy
gắn với trục động cơ điện.
GVHD: Ths.Nguyễn Chí Hiếu
SVTH : Nguyễn Văn Biên Trang 20
Tính tốn thiết kế hệ thống xử lý nước thải thủy sản Cơng ty thủy sản Thanh Khiết
2.2.3.3 Phương pháp Ozon hoá
Ozon hoá tác động mạnh mẽ với các chất khoáng và chất hữu cơ, oxy hoá
bằng Ozon cho phép đồng thời khử màu, khử mùi, tiệt trùng của nước. Bằng
Ozon hoá có thể xử lý phenol, sản phẩm dầu mỏ, H
2
S, các hợp chất Asen, thuốc
nhuộm … Sau quá trình Ozon hoá số lượng vi khuẩn bò tiêu diệt đến hơn 99%.
Ngoài ra, Ozon còn oxy hoá các hợp chất Nitơ, Photpho … Nhược điểm chính của
phương pháp này là giá thành cao và thường được ứng dụng rộng rãi trong xử lý
nước cấp.
2.3 Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học
Phương pháp xử lí sinh học là sử dụng khả năng sống, hoạt động của vi sinh
vật để phân huỷ các chất bẩn hữu cơ có trong nước thải. Các vi sinh vật sử dụng
các hợp chất hữu cơ và một số khoáng chất làm nguồn dinh dưỡng và tạo năng
lượng. Trong quá trình dinh dưỡng, chúng nhận các chất dinh dưỡng để xây dựng
tế bào, sinh trưởng và sinh sản vì thế sinh khối của chúng được tăng lên. Quá
trình phân huỹ các chất hữu cơ nhờ vi sinh vật gọi là quá trình oxy hoá sinh hoá.
Phương pháp xử lý sinh học có thể thực hiện trong điều kiện hiếu khí (với sự có
mặt của oxy) hoặc trong điều kiện kỵ khí( không có oxy).
Phương pháp xử lý sinh học có thể ứng dụng để làm sạch hoàn toàn các loại
nước thải chứa chất hữu cơ hoà tan hoặc phân tán nhỏ. Do vậy, phương pháp này
hiếu khí, hồ sinh vật tuỳ tiện (Faculative) và hồ sinh vật yếm khí.
Hồ sinh vật hiếu khí
Quá trình xử lí nước thải xảy ra trong điều kiện đầy đủ oxy, oxy được cung
cấp qua mặt thoáng và nhờ quang hợp của tảo hoặc hồ được làm thoáng cưỡng
GVHD: Ths.Nguyễn Chí Hiếu
SVTH : Nguyễn Văn Biên Trang 22
Tính tốn thiết kế hệ thống xử lý nước thải thủy sản Cơng ty thủy sản Thanh Khiết
bức nhờ các hệ thống thiết bò cấp khí. Độ sâu của hồ sinh vật hiếu khí không lớn
từ 0,5-1,5m.
Hồ sinh vật tuỳ tiện
Có độ sâu từ 1,5 – 2,5m , trong hồ sinh vật tùy tiện, theo chiều sâu lớp nước
có thể diễn ra hai quá trình: oxy hoá hiếu khí và lên men yếm khí các chất bẩn
hữu cơ. Trong hồ sinh vật tuỳ tiện vi khuẩn và tảo có quan hệ tương hổ đóng vai
trò cơ bản đối với sự chuyển hoá các chất.
Hồ sinh vật yếm khí:
Có độ sâu trên 3m, với sự tham gia của hàng trăm chủng loại vi khuẩn kỵ khí
bắt buộc và kỵ khí không bắt buộc. Các vi sinh vật này tiến hành hàng chục phản
ứng hoá sinh học để phân huỷ và biến đổi các hợp chất hữu cơ phức tạp thành
những chất đơn giản dễ xử lý. Hiệu suất giảm BOD trong hồ có thể lên đến 70%.
Tuy nhiên nước thải sau khi ra khỏi hồ vẫn có BOD cao nên loại hồ này chỉ chủ
yếu áp dụng cho xử lý nước thải công nghiệp rất đậm đặc và dùng làm hồ bậc 1
trong tổ hợp nhiều bậc.
2.3.1.2 Cánh đồng tưới - Cánh đồng lọc
Cánh đồng tưới là những khoảng đất canh tác, có thể tiếp nhận và xử lý nước
thải. Xử lý trong điều kiện này diễn ra dưới tác dụng của vi sinh vật, ánh sáng
mặt trời, không khí và dưới ảnh hưởng của các hoạt động sống thực vật, chất thải
bò hấp thụ và giữ lại trong đất, sau đó các loại vi khuẩn có sẳn trong đất sẽ phân
huỷ chúng thành các chất đơn giản để cây trồng hấp thụ. Nước thải sau khi ngấm
vào đất, một phần được cây trồng sử dụng. Phần còn lại chảy vào hệ thống tiêu
nước ra sông hoặc bổ sung cho nước nguồn.
theo tiêu chuẩn BOD đạt 90%. Dùng cho các trạm xử lý nước thải có công suất
dưới 1000 m
3
/ngđ.
Bể lọc sinh học cao tải
Bể lọc sinh học cao tải có cấu tạo và quản lý khác với bể lọc sinh học nhỏ
giọt, nước thải tưới lên mặt bể nhờ hệ thống phân phối phản lực. Bể có tải trọng
10 – 20 m
3
nước thải / 1m
2
bề mặt bể /ngđ. Nếu trường hợp BOD của nước thải
quá lớn người ta tiến hành pha loãng chúng bằng nước thải đã làm sạch. Bể được
thiết kế cho các trạm xử lý dưới 5000 m
3
/ngđ.
GVHD: Ths.Nguyễn Chí Hiếu
SVTH : Nguyễn Văn Biên Trang 24
Tính tốn thiết kế hệ thống xử lý nước thải thủy sản Cơng ty thủy sản Thanh Khiết
2.3.2.2 Bể hiếu khí có bùn hoạt tính – Bể Aerotank
Là bể chứa hổn hợp nước thải và bùn hoạt tính, khí được cấp liên tục vào bể
để trộn đều và giữ cho bùn ở trạng thái lơ lửng trong nước thải và cấp đủ oxy cho
vi sinh vật oxy hoá các chất hữu cơ có trong nước thải. Khi ở trong bể, các chất lơ
lửng đóng vai trò là các hạt nhân để cho các vi khuẩn cư trú, sinh sản và phát
triển dần lên thành các bông cặn gọi là bùn hoạt tính. Vi khuẩn và các vi sinh vật
sống dùng chất nền (BOD) và chất dinh dưỡng (N , P) làm thức ăn để chuyển hoá
chúng thành các chất trơ không hoà tan và thành các tế bào mới. Số lượng bùn
hoạt tính sinh ra trong thời gian lưu lại trong bể Aerotank của lượng nước thải ban
đầu đi vào trong bể không đủ làm giảm nhanh các chất hữu cơ do đó phải sử dụng
lại một phần bùn hoạt tính đã lắng xuống đáy ở bể lắng đợt 2, bằng cách tuần