LUẬN VĂN:
Tăng cường vai trò nhà nước trong nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Trước thực trạng đó, đặt ra vấn đề khách quan là Nhà nước phải tự đổi mới và
hoàn thiện mình như thế nào? Điều tiết, quản lý và can thiệp vào kinh tế bằng những nội
dung, giải pháp nào để phát huy vai trò, hiệu lực quản lý của Nhà nước, bảo đảm quyền
lực chính trị của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và phát triển nền KTTT đúng
định hướng XHCN
Vì những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề "Tăng cường vai trò nhà nước
trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay"
làm luận văn Thạc sĩ Chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, vấn đề nhà nước và thị trường, vai trò
của nhà nước trong nền KTTT đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu
dưới nhiều góc độ khác nhau. Đặc biệt từ sau cuộc khủng hoảng năng lượng (những
năm 70) và khủng hoảng ở các nước XHCN (Liên Xô và Đông Âu tan rã) đã đặt lại
vấn đề phải nghiên cứu về vai trò nhà nước trong đời sống kinh tế như thế nào để đạt
được hiệu quả. Theo hướng trên, đã có nhiều công trình nghiên cứu nhưng nhìn chung
những kết quả được rút ra đều tập trung vào một số quan điểm:
Thứ nhất: Nhà nước không thể can thiệp vào thị trường (nhà nước tối thiểu, thị
trường tối đa), thị trường có quy luật riêng, "Bàn tay vô hình" của thị trường sẽ tự nó
giải quyết tất cả. ở nơi nào có sự can thiệp của nhà nước thì ở đó thị trường thất bại,
kinh tế không phát triển được.
Thứ hai: Nhà nước hoàn toàn lãnh đạo, quản lý kinh tế bằng các kế hoạch trong
mọi lĩnh vực, mọi ngành kinh tế. Đại diện cho những quan điểm này là những nhà tân
mác xít, họ cổ vũ và khẳng định mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ (kiểu Xô
viết) coi đó là mô hình tối ưu cho sự phát triển.
Thứ ba: Thừa nhận KTTT, đồng thời nhà nước phải can thiệp tối đa bằng các
công cụ điều tiết vĩ mô (nhà nước tối đa). Theo quan điểm này chỉ có nhà nước (bàn tay
hữu hình) mới có khả năng hạn chế và khắc phục những khuyết tật của KTTT, đặc biệt
là trong lĩnh vực xã hội.
Thứ tư: Một quan điểm khác, không nói đến nhà nước tối đa hay tối thiểu, họ
Một là: Hệ thống hóa một cách khái quát các quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin và các lý thuyết hiện đại về vai trò, chức năng của nhà nước trong quản lý kinh tế
và KTTT, từ đó làm rõ và phân tích vấn đề đó ở nước ta.
Hai là: Phân tích thực trạng thực thi quyền lực của Nhà nước Cộng hòa XHCN
Việt Nam trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta.
Ba là: Đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm xác định vai trò Nhà nước
trong nền KTTT ở nước ta hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
Vận dụng lý luận và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan
điểm đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về mối quan hệ chính trị và kinh tế, vai trò
nhà nước trong quản lý kinh tế và kinh tế XHCN; một số lý thuyết của khoa học kinh tế
và khoa học chính trị hiện đại cũng như một số kinh nghiệm nước ngoài để lý giải
những vấn đề thực tiễn đặt ra.
Phương pháp nghiên cứu:
Chủ yếu vận dụng phương pháp lôgíc - lịch sử và các phương pháp khác: Chính
trị học so sánh; xã hội học chính trị, so sánh, thống kê, định lượng
5. Giới hạn nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu vai trò Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong phát
triển nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
(12/1986) đến nay.
6. Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở hệ thống hóa những thành tựu nghiên cứu về quyền lực nhà nước
trong các nền kinh tế, luận văn góp phần làm rõ vai trò quyền lực Nhà nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta.
Đề xuất một số định hướng và giải pháp cho việc tăng cường vai trò Nhà nước
trong nền KTTT theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
thì tất cả những vấn đề chính trị và bất kỳ một thái độ nào cũng đều ảnh hưởng từ vấn
đề kinh tế.
Vì vậy Lênin khẳng định: Trong quá trình phát triển xã hội, kinh tế quyết định
chính trị còn khi hoạch định chính sách thì chính trị phải chiếm hàng đầu, chiếm vị trí
ưu tiên, phải đưa vào các chính sách, các quan hệ giai cấp các lực lượng kinh tế xã hội.
"Không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó không thể
nào giữ được sự thống trị của mình và do đó cũng không thể hoàn thành nhiệm vụ của
mình trong sản xuất" [21, tr. 350].
Sự tác động của chính trị vào kinh tế thể hiện thông qua vai trò hoạt động của
nhà nước - các thể chế và các chính sách của nhà nước. Sự tác động đó luôn diễn ra theo
hai hướng:
- Nếu sự tác động cùng chiều sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Nghĩa là, nhà nước trước hết bằng các thể chế chính trị tạo ra các quan hệ kinh
tế phù hợp với sự phát triển của LLSX. Nhà nước nắm bắt các quy luật phát triển của
nền kinh tế, tạo môi trường pháp lý và hoạch định các chính sách để phát huy các mặt
tích cực của các xu hướng tích cực, đồng thời loại bỏ những mặt, những nhân tố tiêu
cực cản trở sự tác động của các quy luật kinh tế.
- Sự tác động của nhà nước theo hướng ngược chiều sẽ dẫn tới kìm hãm sự phát
triển kinh tế - xã hội.
Nghĩa là, nhà nước duy trì các quan hệ kinh tế lỗi thời, không còn phù hợp với
sự phát triển của LLSX hoặc bảo vệ lợi ích của giai cấp phản động chống lại lợi ích của
giai cấp đang lên, lợi ích của nhân dân lao động. Hoạt động bất chấp quy luật khách
quan của kinh tế - xã hội.
Nhà nước với chức năng kinh tế, có vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, vai trò đó được phát huy và thực hiện có hiệu quả hay
không là phụ thuộc vào bản chất của từng chế độ chính trị và bản chất giai cấp của từng
nhà nước.
Các nhà nước (chủ nô, phong kiến, tư sản) đều bằng cách này hay cách khác
kiểm soát các hoạt động kinh tế của xã hội, đặt ra những chính sách, luật lệ nhằm giữ
kinh tế có nhiều thành phần tồn tại, tác động đan xen với nhau, trong đó thành phần
kinh tế XHCN thậm chí chưa thắng lợi hoàn toàn. Vì vậy việc nhà nước XHCN quản lý
nền kinh tế nhiều thành phần là một tất yếu của thời kỳ quá độ. Chính Mác đã chỉ rõ:
Không một hình thức kinh tế nào, biến đi trước khi nó còn phục vụ được cho các lực
lượng sản xuất mà nó đã dọn khoảng đất trống cần thiết cho sự phát triển của các lực
lượng sản xuất ấy; Ngược lại, không một hình thức kinh tế nào có thể ra đời trước khi
xuất hiện đầy đủ các tiền đề vật chất cần thiết cho nó. Vì kết cấu nền kinh tế của thời kỳ
quá độ lên CNXH còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế nên hệ thống các quy luật kinh tế
hoạt động trong thời kỳ này rất đa dạng. Bên cạnh những quy luật kinh tế XHCN mới
hình thành nhưng chưa phát huy đầy đủ tác dụng của nó, vẫn còn những quy luật tương
ứng với các thành phần kinh tế không XHCN còn hoạt động và phát huy tác dụng, tác
động đến nền kinh tế quốc dân với mức độ khác nhau.
Vì vậy trong quá trình quản lý nền kinh tế, nhà nước XHCN phải tính đến việc
vận dụng toàn bộ hệ thống các quy luật đó sao cho phù hợp, có lợi cho CNXH. Một mặt
tạo ra những điều kiện vật chất và xã hội để các quy luật kinh tế XHCN phát huy ngày
càng đầy đủ tác dụng của mình - là nhân tố chủ đạo; mặt khác, chủ động vận dụng các
quy luật kinh tế khác, hướng theo quỹ đạo của CNXH. Đây là việc khó khăn, phức tạp,
dễ phạm sai lầm "tả" hoặc "hữu khuynh". Do đó đòi hỏi nhà nước XHCN phải có bản
lĩnh, có khả năng tổ chức quản lý giỏi, biết tìm ra những hình thức, phương pháp mới
phong phú, đa dạng để hướng các thành phần kinh tế đi theo quỹ đạo của CNXH.
Từ thực tiễn nước Nga, khi chấm dứt nội chiến và chuyển sang thời bình, Lênin
đã nghiêm khắc rút ra những bài học của chính sách "cộng sản thời chiến", phê phán
những khuynh hướng tư tưởng chủ quan, nóng vội (muốn lập tức quốc hữu hóa, quốc
doanh hóa, hạn chế không sử dụng các hình thức kinh tế quá độ đang còn tồn tại và còn
tác dụng đối với việc phát triển LLSX), dẫn đến hậu quả nghiêm trọng: Kinh tế không
phát triển và gây sự bất bình của nhân dân đối với chính quyền Xô viết Theo Lênin -
quá trình chuyển từ thời chiến sang thời bình "không những chỉ liên quan đến những cơ
sở của công cuộc kiến thiết kinh tế mà còn liên quan đến các cơ sở của những mối quan
hệ giữa các giai cấp còn tồn tại trong xã hội chúng ta". "Vấn đề này là vấn đề cần giải
sản có khả năng tiến hành ở bên dưới việc trao đổi tự do với nông dân, Lênin còn cho
rằng "hoặc là những quan hệ kiểu ấy hoặc là không có gì hết" [21, tr. 82].
Vấn đề CNTB nhà nước, vấn đề mà "ngay cả Mác cũng không viết một lời nào"
là một đóng góp quan trọng của Lênin trong quá trình phát triển chủ nghĩa Mác về xây
dựng CNXH trong điều kiện còn lạc hậu về kinh tế kỹ thuật. Đây cũng chính là một chỉ
dẫn quý báu của Lênin về việc sử dụng quyền lực nhà nước của giai cấp vô sản trong
phát triển kinh tế.
Trong điều kiện nước Nga sau Cách mạng tháng Mười, Lênin coi CNTB nhà
nước là thành phần kinh tế cao hơn, đứng trên thành phần kinh tế XHCN. Vấn đề khác
nhau của CNXH và CNTB nhà nước chính là vấn đề chính trị, tức là vấn đề giai cấp
cầm quyền. Lênin nêu vấn đề, mà theo Người là "chân lý": "tốt hơn là nên trước hết hãy
thực hiện CNTB nhà nước để rồi sau đó, đi đến CNXH" [23, tr. 326]. Đó là một trong
những nhiệm vụ mấu chốt của nhà nước vô sản. Để đánh tan những hoài nghi, phê phán
cách hiểu kinh viện về CNTB nhà nước, Lênin giải thích rằng "CNTB nhà nước mà
chúng ta nói đó là một thứ CNTB mà chúng ta có thể hạn chế, có thể quy định giới hạn,
CNTB nhà nước đó gắn liền với nhà nước, mà nhà nước chính là công nhân, chính là bộ
phận tiên tiến của công nhân, là đội tiền phong, là chúng ta" [23, tr. 102]. Khi thực hiện
CNTB nhà nước Lênin coi trọng "sự lãnh đạo chính trị của giai cấp vô sản". Sự lãnh
đạo này phải hướng vào giải quyết những nhiệm vụ mấu chốt, cấp thiết nhất. Mà trong
một nước tiểu nông thì đó là "phục hồi ngay những LLSX của kinh tế nông dân" [21, tr.
263]. Trong lĩnh vực này những ý kiến của Lênin đặc biệt có giá trị phương pháp luận
cho các Đảng cộng sản ở các nưóc nông nghiệp. Trong các nước ấy, cũng như ở nước
Nga "tìm cách ngăn cấm, triệt để chặn đứng mọi sự phát triển của sự trao đổi tư nhân,
không phải là quốc doanh, tức là của thương mại, tức là của CNTB, một sự phát triển
không thể tránh được khi có hàng triệu người sản xuất nhỏ. Chính sách ấy là một sự dại
dột và tự sát đối với đảng nào muốn áp dụng nó. Dại dột, vì về phương diện kinh tế,
chính sách ấy là không thể nào thực hiện được; tự sát, vì những đảng nào định thi hành
một chính sách như thế, nhất định sẽ bị phá sản" [21, tr. 267].
Để thực hiện được các nhiệm vụ "quy định", "giới hạn" CNTB nhà nước, Lênin
kiện mới, nhà nước phải tăng cường quyền lực của mình không phải bằng các mệnh
lệnh hành chính quan liêu mà phải bằng các thể chế kinh tế - chính trị, công cụ để quản
lý kinh tế. Phải có kế hoạch, chiến lược, hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế
hợp lý, đúng đắn để quản lý chứ không phải can thiệp vào các quá trình hoạt động kinh
tế như trong thời chiến
Tóm lại, Lịch sử phong trào XHCN thế giới đã chứng minh tính đúng đắn của
chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của nhà nước XHCN trong phát triển kinh tế. Mặc dù
ngày nay hệ thống XHCN đã tan rã do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ở đây chúng ta
không đề cập đến, nhưng mô hình phát triển kinh tế thống nhất và có kế hoạch của Liên
Xô và của các nước XHCN trước những năm tám mươi của thế kỷ XX đã đưa lại những
kinh nghiệm thành công mẫu mực về nhà nước XHCN quản lý nền kinh tế.
Những luận điểm này đã mang lại nhiều thành công trong thực tiễn của nhà
nước XHCN lãnh đạo, quản lý nền KTTT như: Thời kỳ NEP của Liên Xô, giai đoạn
đầu của mô hình kinh tế tự quản ở Nam Tư; những thành quả to lớn trong chính sách cải
cách mở cửa của Trung Quốc; và đổi mới ở Việt Nam.
Chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn của các nước xây dựng CNXH chỉ ra rằng,
nhà nước XHCN có thể sử dụng các hình thức quản lý quá độ, hỗn hợp, trong đó có thể
sử dụng các quan hệ thị trường để quản lý và phát triển nền kinh tế.
Tuy nhiên, nhà nước quản lý nền kinh tế XHCN như thế nào, còn là vấn đề
chưa có câu trả lời cuối cùng và vấn đề đó còn tùy thuộc vào điều kiện từng nước và bối
cảnh chung của thế giới. Nhưng không thể phủ nhận vai trò đặc biệt của nhà nước
XHCN trong phát triển nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong nền KTTT định hướng
XHCN hoặc thị trường XHCN.
1.1.2. Vài nét về một số lý thuyết và kinh nghiệm thế giới về vai trò chức
năng nhà nước đối với sự phát triển kinh tế
Các tác giả nổi tiếng là Ađam Smít và Đavit Ricarđô do đánh giá quá cao vai
trò của lao động, đất đai và mậu dịch tự do, nên chủ trương nền kinh tế phải được điều
khiển bởi "bàn tay vô hình". Các ông chưa đánh giá đúng vị trí của nhà nước trong đời
sống kinh tế. Lý thuyết của các ông là cơ sở cho chủ nghĩa tự do cũ và mới. Chủ nghĩa
Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm 80 của thế kỷ XX,
KTTT mất uy thế trước kinh tế kế hoạch hóa (đặc biệt theo mô hình Xô viết). Cuộc tổng
khủng hoảng đầu những năm 70 đã làm tăng mối hoài nghi về KTTT. Nhiều nước, đặc
biệt là các nước mới giành được độc lập dân tộc, các nước đang phát triển lựa chọn con
đường phát triển phi thị trường, hướng theo con đường kế hoạch hóa tập trung kiểu Xô
viết. Một số nước kết hợp mô hình KTTT với mô hình Xô viết tạo ra mô hình hỗn hợp.
Giai đoạn từ những năm 80 đến nay, sau khi khắc phục được khủng hoảng, các
nền KTTT có bước phát triển mới trên cơ sở thay đổi cơ cấu, đầu tư công nghệ cao, có
sự tham gia điều tiết của nhà nước. Lúc này các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã
bộc lộ những nhược điểm cơ bản, lâm vào khủng hoảng, thậm chí phải chấp nhận sụp
đổ để cải tạo lại. Đó là thất bại của việc tuyệt đối hóa vai trò nhà nước trong phát triển
kinh tế. KTTT đã chứng minh được ưu thế và sức sống của mình. Ngày nay, hầu hết các
nước trên thế giới hoặc là đang tồn tại và phát triển KTTT hoặc là chuyển đổi nền kinh
tế của mình sang KTTT.
Hiện nay vấn đề tham gia của nhà nước vào đời sống KTTT đã trở thành vấn đề
không tranh cãi. Vấn đề là nhà nước tham gia như thế nào, ở lĩnh vực gì mà thôi ở đây
chúng ta thấy câu trả lời là không đơn nghĩa.
Nhìn chung, các nhà khoa học và quản lý đều nhất trí cho rằng, trong nền
KTTT, nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Nhà nước như là người điều tiết thị
trường bằng cách tạo những khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động kinh tế; xây dựng
những điều kiện cho cạnh tranh hợp pháp; chống độc quyền; xây dựng chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội trong tổng thể; tham gia khắc phục những thất bại của thị trường.
Nghiên cứu một số lý thuyết, chúng ta có thể rút ra một số vấn đề: Nhìn chung
các lý thuyết cổ điển đều cho rằng thị trường là nhân tố chính của sự phát triển, trong đó
nhấn mạnh những yếu tố sản xuất trực tiếp như vốn, đất đai và tích lũy có ý nghĩa quyết
định. Tuy nhiên các lý thuyết này chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển thấp, chủ yếu dựa
vào lao động cơ bắp, vốn, tài nguyên.
Một số lý thuyết hiện đại đã thấy được tầm quan trọng của khoa học kỹ thuật,
thị trường và nhà nước. Nhưng còn tuyệt đối hóa KTTT, hoặc khoa học kỹ thuật, hay
ở các nước Đông Bắc á, chính phủ không những đặt ra chuẩn mực rõ ràng cho
những can thiệp có lựa chọn mà còn giám sát được các hoạt động của thị trường trong
khi chi phí cho những can thiệp này đều không quá cao. Trên thực tế, sự can thiệp có
lựa chọn buộc các chính phủ dựa vào quản lý kinh tế vĩ mô một cách thận trọng. Ví dụ
các giải pháp chính phủ đưa ra và thực hiện là: Thực hiện đầu tư cao luôn đạt 20% GDP
và phân bổ nguồn vốn hợp lý, tập trung vào các ngành có hiệu quả kinh tế cao, đầu tư
lớn vào con người (nguồn nhân lực), tài chính ổn định và bảo đảm.
Ngoài ra các chính phủ, điển hình nhất là chính phủ Nhật Bản đã tạo ra những
cuộc chạy đua kết hợp với sự cạnh tranh trên cơ sở thị trường với những lợi ích hợp tác
giữa khu vực nhà nước với tư nhân (các nước Nhật Bản, Hàn Quốc đã phát triển các cơ
cấu thể chế trong đó các công ty cạnh tranh với nhau để giành giữ phần thưởng có giá
trị kinh tế. Nhật thực hiện các cuộc thi đấu trên cơ sở thị trường, ngăn cấm độc quyền.
Nhà nước Nhật Bản cho rằng, thà tạo ra cạnh tranh giữa một số ít công ty cân sức còn
hơn để một công ty lớn cạnh tranh với nhiều đối thủ nhỏ, đây là một nguyên tắc có thể
nhận thấy ở thi đấu thể thao theo hạng cân). Thực chất, nhà nước tổ chức các cuộc thi
đấu và đưa ra các luật lệ và trọng tài.
Thực hiện nguyên tắc ổn định kinh tế vĩ mô và chính sách gia tăng xuất khẩu,
Chính phủ các nước này đã rất tôn trọng các giải pháp chính sách chính thống - đặc biệt
là duy trì mức thâm hụt ngân sách ở mức có thể bù đắp được, đồng thời đẩy mạnh xuất
khẩu. Do đó lạm phát luôn luôn được kiểm soát, quản lý được nợ trong nước và nước
ngoài. Bằng cách lập ra các tổ chức kiểm soát như: Ban Tiền tệ ở Singapo, dựa vào luật
lệ cân bằng ngân sách ở Inđônêxia, hệ thống tỷ giá hối đoái ở Thái Lan Các nước này
đã duy trì mức thâm hụt ngân sách ở mức có thể quản lý được, lạm phát ở mức thấp và
ổn định trong suốt thời kỳ tăng trưởng đã không gây mất ổn định kinh tế vĩ mô (tỷ lệ
lạm phát trung bình từ 1961 - 1991 ở Hồng Công 8,8%; Inđônêxia: 12,4%; Hàn Quốc
12,2%; Malaixia 3,4%; Singapo 3,6%, Đài Loan 6,2%; Thái Lan 5,6%) [16, tr. 184].
Cùng với duy trì lạm phát ở mức thấp, họ đã kiểm soát tốt nợ nước ngoài (ví dụ như ở
Hàn Quốc: Năm 1984, là con nợ đứng thứ 4 thế giới. Từ năm 1986, chính phủ Hàn
Quốc đã theo đuổi một chính sách giảm nợ tích cực dựa vào các khoản dự trữ ngày càng
những điều đó đã bảo đảm được sự tăng trưởng gắn kết với công bằng xã hội, hạn chế
những thất bại của thị trường
Để làm được việc đó, các HPAEs đã tập trung xây dựng một nhà nước mạnh có
đủ năng lực để tạo môi trường pháp lý cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Bước
đầu tiên là tuyển dụng những công chức công minh, tài giỏi, trung thực, có khả năng
vạch ra chiến lược có tính khả thi. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và hoạch định
các chính sách bám sát với quyền lợi của các khu vực, các lực lượng kinh tế.
Xin nêu một ví dụ có tính chất kinh nghiệm về xây dựng một nhà nước mạnh -
hệ thống pháp lý mạnh ở một số nước ASEAN (Inđônêxia, Singapo, Malaixia, Thái
Lan, Philippin).
Sau khi thoát khỏi sự thống trị của đế quốc phương Tây, giành được độc lập dân
tộc, các nước này bước vào xây dựng đất nước. Nhưng qua nhiều thập kỷ, kết quả mà
họ thu được không như mong muốn. Đến những năm cuối thập kỷ 70, họ ý thức được
rằng muốn phát triển KTTT thì trước hết phải tạo môi trường chính trị ổn định. Do đó
họ tập trung xây dựng một nhà nước mạnh và hệ thống pháp luật kinh tế một cách đồng
bộ. Bộ máy nhà nước được xây dựng trên cơ sở tập trung quyền lực, lấy hiệu quả trong
hoạt động làm tiền đề thúc đẩy sự phát triển. Bằng việc tập trung quyền lực, nhà nước
đồng thời đưa ra những thể chế và hoạch định chính sách phù hợp, đưa vào bộ máy
chính quyền những cán bộ am hiểu và thạo nghiệp vụ chuyên môn, tích cực loại trừ các
quan chức tham nhũng. Nhờ đó nhà nước kiểm soát được các quan hệ kinh tế - xã hội,
huy động được các nguồn lực trong xã hội hướng vào việc phát triển đất nước.
Hệ thống pháp lý của các HPAEs luôn được điều chỉnh phù hợp với thực tiễn
của nền kinh tế và những biến chuyển của xã hội. Nhờ hệ thống các văn bản pháp luật
đồng bộ có tính khả thi, nhà nước đã thu hút được các nguồn đầu tư trong và ngoài nước
và cũng qua đó nhà nước kiểm soát, điều chỉnh được nguồn đầu tư sao cho quyền lợi
người lao động và môi trường sinh thái trong nước được bảo vệ.
Để có một nhà nước mạnh, các HPAEs đã tập trung trí tuệ cao độ cho các hoạt
động của nhà nước thông qua cơ chế đào tạo sử dụng và nuôi dưỡng nhân tài. Đây là nội
cùng với việc tự do hóa kinh tế và giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước trong những
năm cải cách, kinh tế Mỹ la tinh khởi sắc, đạt mức tăng trưởng GDP hàng năm từ 3 -
5%.
Mặc dầu vậy những thành công của KTTT ở Mỹ la tinh phải chịu những trả giá
cao về mặt xã hội. Sự phân hóa giàu nghèo hết sức lớn, Mỹ la tinh là nơi còn tồn tại
nhiều bất công trong quá trình cải cách. ở nhiều nước, KTTT đã tạo ra sự bất ổn xã hội,
tạo điều kiện cho các chế độ độc tài lên cầm quyền. Điển hình của nước trả giá đắt về xã
hội cho thị trường theo chủ nghĩa tự do là Chi-Lê. ở đất nước này 6.677 tổ chức công
đoàn và 34.000 đoàn viên công đoàn phải chịu đàn áp hoặc cấm hoạt động. Những
thành quả xã hội của nhân dân lao động Chi-Lê hầu như bị phá vỡ. Cho
đến những năm cuối thế kỷ XX có 40% cư dân Chi-Lê sống ở mức nghèo khổ
[27, tr. 20].
ở các nước Đông Âu và Liên Xô cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội của mô hình
CNXH hành chính nhà nước (nhà nước quản lý nền kinh tế bằng kế hoạch tập trung
thống nhất theo phương pháp hành chính quan liêu) đã buộc các nước này phải tiến
hành các cuộc cải cách kinh tế. Nội dung những cuộc cải cách này là chuyển nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền KTTT. ở các nước này khi hệ thống
cung cấp của nhà nước không cung cấp đủ hàng hóa và dịch vụ, người dân đã bắt đầu
tìm đến thị trường mà trước hết là thị trường chợ đen. Và cũng chính lúc này quyền lực
nhà nước suy giảm. Cho đến đầu những năm 90, các cuộc cải cách theo hướng KTTT ở