LUẬN VĂN:
Đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên trong
thanh niên của các Đảng bộ phường ở thành
phố Đà Nẵng giai đoạn hiện nay mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chỉ thị số 52CT/TƯ ngày 21/01/2002 của Bộ Chính trị khẳng định: kết nạp đảng
Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài: "Đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên
trong thanh niên của các Đảng bộ phường ở thành phố Đà Nẵng giai đoạn hiện nay"
làm luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, trên phạm vi cả nước đã có nhiều công trình, bài báo nghiên cứu về
CTPTĐV của Đảng, về giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức cách mạng cho
thanh niên như: "Xây dựng đội ngũ đảng viên là thanh niên sinh viên ở các trường đại học,
cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội", luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Mỹ Trang, 2001;
về công tác phát triển Đảng có các công trình "Phát triển đảng viên trong sinh viên các
trường đại học công an nhân dân ở phía Bắc trong giai đoạn hiện nay", luận văn thạc sĩ
của Vũ Thế Kỳ, 2001; "Nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên mới trong học
viên hệ đào tạo sĩ quan ở các nhà trường thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân
trong thời kỳ mới", luận văn thạc sĩ của Lê Văn Lương, 2002; "Công tác phát triển đảng
viên mới trong sinh viên đại học ở Đà Nẵng hiện nay", luận văn thạc sĩ của Lê Thưởng,
2001; và "Công tác phát triển Đảng trong sinh viên một số trường đại học ở Hà Nội hiện
nay, thực trạng và giải pháp", luận văn thạc sĩ của Dương Trung ý, 2001.
Riêng về CTPTĐV trong thanh niên ở Đà Nẵng đến nay chưa có công trình nghiên
cứu nào. Cũng tương tự như vậy, vấn đề phát triển đảng viên ở phường trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng chưa được nghiên cứu. Vì vậy, việc nghiên cứu để góp phần thực hiện tốt
nhiệm vụ phát triển đảng viên trong thanh niên của các Đảng bộ phường ở Đà Nẵng là việc
làm cần thiết và cấp bách.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích
Góp phần đẩy mạnh CTPTĐV trong thanh niên của các Đảng bộ phường ở Đà
Nẵng trong giai đoạn mới và phục vụ công tác giảng dạy của bản thân ở khu vực miền
Trung và Tây Nguyên.
* Nhiệm vụ
- Làm rõ vai trò của thanh niên nói chung, thanh niên trên địa bàn phường nói
riêng trong sự nghiệp CNH, HĐH theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Đảng bộ phường tại Đà Nẵng thời kỳ mới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1
Công tác phát triển đảng viên trong thanh niên của các đảng bộ phường ở thành
phố Đà Nẵng -
một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn
1.1. Công tác phát triển đảng viên trong thanh niên của các Đảng bộ phường
ở Thành phố Đà Nẵng - Quan niệm, vai trò và ý nghĩa
1.1.1. Quan niệm của Đảng bộ phường ở Đà Nẵng về công tác phát triển
đảng viên trong thanh niên
Lịch sử tồn tại và phát triển của Đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) chứng minh
rằng, Đảng luôn luôn chú trọng phát triển đảng trong thanh niên. Đây là vấn đề có ý nghĩa cực
kỳ quan trọng, không chỉ đối với tuổi trẻ Việt Nam mà còn liên quan đến sinh mệnh và sức
sống của Đảng. Trong bối cảnh mới đầy biến động và phức tạp trên thế giới, những thời cơ và
thách thức của đất nước ta hiện nay, ĐCSVN vẫn giữ vững được trọng trách lãnh đạo toàn xã
hội vươn lên. Bản thân Đảng đã tự đổi mới, tự chỉnh đốn để ngang tầm với nhiệm vụ quan
trọng của thời cuộc đặt ra. Vì vậy, CTPTĐV trong thanh niên nhằm:
Tăng thêm sinh lực cho Đảng, trẻ hóa đội ngũ, bảo đảm sự kế thừa và
phát triển của Đảng. Làm tốt công tác tạo nguồn để lựa chọn, bồi dưỡng, kết
nạp những người ưu tú có đủ tiêu chuẩn, trong Đoàn thanh niên, trong công
nhân, nông dân, trí thức, chiến sĩ các lực lượng vũ trang chú ý những cơ sở
trọng yếu, những nơi còn ít và chưa có đảng viên. Coi trọng chất lượng, không
chạy theo số lượng, bảo đảm chặt chẽ về nguyên tắc, đồng thời không định
kiến, hẹp hòi phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo Đoàn thanh niên cộng
sản Hồ Chí Minh, coi đây là một nhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng
Đảng. Đặt CTPTĐV trong thanh niên thành chương trình, kế hoạch cụ thể và
chạy theo số lượng đơn thuần.
Bảo đảm chất lượng là yêu cầu xuyên suốt quá trình phát triển đảng viên mới.
Đây là một chuỗi các công đoạn đòi hỏi tổ chức Đảng mà trực tiếp là các cơ sở đảng và
các chi bộ phải quan tâm chỉ đạo công phu, chu đáo ngay từ khi tạo nguồn như tuyên
truyền, giáo dục, lựa chọn đến các khâu kết nạp và giúp đỡ đảng viên dự bị trở thành
đảng viên chính thức. Quá trình đó phải được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ theo đúng
Điều lệ Đảng và hướng dẫn của Trung ương. Trong CTPTĐV phải luôn coi trọng chất
lượng, lấy tiêu chuẩn đảng viên làm cơ sở, phải có kế hoạch, biện pháp cụ thể, không hạ
thấp yêu cầu về chất lượng, chạy theo số lượng, nhưng cũng không có thái độ hẹp hòi,
định kiến, bảo thủ, cầu toàn, không tích cực tạo điều kiện phát triển đảng viên mới. Lênin
cho rằng: "Chúng ta cần có những đảng viên mới không phải là để quảng cáo mà là để
làm việc thật sự. Những người đó, chúng ta kêu gọi họ vào hàng ngũ của chúng ta, đảng
ta mở rộng cửa để đón những người lao động" [11, tr. 256].
Sức mạnh của Đảng phụ thuộc vào chất lượng đảng viên. Người được xét kết nạp
vào Đảng phải có đủ tiêu chuẩn đảng viên, số lượng chỉ có ý nghĩa khi bảo đảm chất lượng.
Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay khi cơ cấu, thành phần và độ tuổi của ĐNĐV còn mất
cân đối thì Đảng cần có một số lượng đảng viên phù hợp để hoàn thiện tổ chức, thực hiện
vai trò lãnh đạo của Đảng. Với ý nghĩa đó, số lượng đảng viên có quan hệ chặt chẽ với
chất lượng đảng viên. Giải quyết mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng chung trong
toàn Đảng đã là khó khăn, phức tạp, lâu dài thì đối với các đảng bộ phường (nói chung) ở
Đà Nẵng nói riêng lại càng nan giải. Bởi vì, do lịch sử để lại nhiều đảng viên giai đoạn
cách mạng trước tiên phong, gương mẫu, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nay chuyển sang giai
đoạn cách mạng mới nhiều đảng viên do điều kiện hoàn cảnh mới, đòi hỏi năng lực mới,
không phát huy được vai trò của mình. Thậm chí có một bộ phận tụt hậu. Bộ phận này
cũng đã được các cấp ủy Đảng giải quyết dần dần bằng nhiều cách hợp lý, hợp tình.
Nhưng dù có giải quyết thế nào thì theo qui luật 10 đến 15 năm nữa số này sẽ hết. Trong
khi đó hướng kết nạp đảng viên mới hiện nay là chú trọng vào đối tượng nam, nữ thanh
niên ưu tú để "trẻ hóa" ĐNĐV thì ở phường lại gặp rất nhiều khó khăn cả về số lượng lẫn
chất lượng. Do vậy, một vấn đề đặt ra đối với các cấp đảng bộ phường ở Đà Nẵng là trên
vô sản", "đội hậu bị của đảng" để gắn với thanh niên. Vào năm 1853, khi "đảng của Mác"
đã khẳng định được vị trí của mình trên vũ đài chính trị, trong cuộc đấu tranh quyết liệt
chống lại đạo luật đặc biệt của Bítxmác, Ăngghen đã viết: Chính thế hệ trẻ là nguồn bổ sung
dồi dào nhất cho đảng. Luận thuyết của Mác - Ăngghen luôn khẳng định lực lượng quần
chúng nhân dân đông đảo cần được tập hợp, tổ chức và giáo dục, sao cho những biến đổi
tư tưởng của họ bắt kịp với thời đại, đi đúng quỹ đạo của dòng thác cách mạng đang cuộn
chảy.
Phát triển sáng tạo những luận điểm của Mác và Ăngghen trong điều kiện lịch sử
mới, V.I.Lênin đã coi thanh niên là "nguồn sinh lực chiến đấu của cách mạng". Người chỉ
rõ: "Há chẳng phải trong đảng cách mạng của chúng tôi, thanh niên chiếm ưu thế tuyệt
đối là một điều tự nhiên sao? Chúng tôi là đảng của những người đổi mới, mà thanh niên
luôn đi theo đổi mới. Chúng tôi là đảng đấu tranh chống chế độ cũ thối nát mà thanh niên
luôn đi đầu" [12, tr. 210]. Có thể nói, đây là luận điểm thể hiện rõ nhất, trực tiếp nhất vai
trò của thanh niên trong đấu tranh cách mạng. Với quan điểm này Lênin khẳng định,
thanh niên là một bộ phận quan trọng, hùng hậu của cách mạng, là đội hậu bị của Đảng
cộng sản, là đội quân xung kích trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, là thế hệ kế tục sự
nghiệp cách mạng của các thế hệ đi trước và các thế hệ thanh niên sẽ nối tiếp nhau xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Lênin khẳng định:
Chúng ta biết rằng, hiện giờ có hàng chục, hàng trăm ngàn quân hậu
bị là thanh niên công nông , hoàn cảnh của chúng ta càng khó khăn, thì họ
càng xích gần lại với chúng ta đông đảo hơn, với tinh thần hy sinh quên mình
cao hơn. Những quân hậu bị đó làm cho chúng ta hoàn toàn tin chắc
rằng chúng ta đã có được nguồn lực lượng hậu bị mà chúng ta có thể khai
thác lâu dài, với qui mô to lớn [15, tr. 338].
Lênin tin tưởng việc tham gia vào bộ máy lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước
trong chế độ mới sẽ có lực lượng thanh niên. Họ sẽ hoạt động với cách thức mới hơn và hiệu
quả cao hơn. Người viết: "Nếu chúng tôi làm việc không quá gấp, thì trong vài năm nữa
chúng tôi sẽ có một số thanh niên đông đảo có khả năng làm thay đổi bộ máy của chúng
tôi" [16. tr. 360-363]. Đó chính là sự thể hiện cao nhất vai trò, vị trí, sự đóng góp của
giáo dục đạo đức, đến những mục tiêu, phương hướng, hình thức, biện pháp thiết thực để
giáo dục thanh niên nhằm biến nguồn sinh lực dồi dào của tuổi trẻ dưới dạng tiềm năng
trở thành hiện thực. Theo Người, giáo dục thanh niên không thể tách rời với những cuộc
đấu tranh cải tạo, xây dựng xã hội. Nhiệm vụ của thanh niên to lớn, vai trò càng vẻ vang
thì phẩm chất, năng lực càng phải cao. Phẩm chất và năng lực đó nhất thiết phải thông qua
con đường giáo dục và rèn luyện mới có. Bác nhắc nhở: giáo dục và rèn luyện thanh niên
là trách nhiệm của Đảng, Chính phủ, các tổ chức của thanh niên, của gia đình và toàn xã hội.
Trong đó, Đoàn thanh niên là tổ chức chính trị của thanh niên do Đảng lập ra, là người đại
diện cho thanh niên, là hạt nhân đoàn kết, giáo dục và phát huy vai trò xung kích của
thanh niên. Đoàn thay mặt Đảng tập hợp và rèn luyện thanh niên, tổ chức thanh niên đấu
tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong mối quan hệ giữa Đoàn với Đảng và Nhà
nước, Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng về đường lối chính trị thì thanh niên theo Đảng chỉ huy,
nhưng việc làm thì thanh niên độc lập; trong mọi công việc, đảng viên và đoàn viên thanh
niên phải gương mẫu để lôi cuốn nhân dân cùng tiến bộ; mọi công việc đều vì lợi ích của
nhân dân mà làm.
Trong di chúc để lại, Người nêu bật vấn đề thanh niên với những đánh giá và căn
dặn của mình:
Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái
xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần chăm lo giáo dục
đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ
nghĩa xã hội, vừa "hồng" vừa "chuyên". Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời
sau là một việc rất quan trọng và cần thiết [21, tr. 498].
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta hết sức coi trọng và đánh giá cao vai trò của
thanh niên trong sự nghiệp cách mạng. Điều đó được công nhận ngay từ Đại hội Đảng lần
thứ nhất (28/3/1935): "Thanh niên lao động Đông Dương là một lực lượng cách mạng rất
lớn, vị trí thanh niên trong các phong trào dân tộc giải phóng trước năm 1930 rất quan
trọng. Trong thời kỳ cao trào 1930-1931, thanh niên lao động rất hăng hái tham gia các
cuộc bãi công, biểu tình vũ trang, bạo động, thiết lập chính quyền Xô viết" [2, tr. 253].
Trong các thời kỳ khó khăn của cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn khẳng định: "Một
hùng hậu" [5, tr. 80], "Thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân
tố quyết định sự thành bại của cách mạng" [5, tr. 82].
Trong suốt tiến trình lịch sử dân tộc ta, thanh niên Việt Nam đã thể hiện vai trò
cực kỳ to lớn của mình. Có biết bao thanh niên đã xả thân vì nước, góp phần làm nên
những kỳ tích trong lịch sử đấu tranh gìn giữ nền độc lập, tự do cho Tổ quốc. Họ luôn có
mặt trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc yêu cầu theo
lời dạy của Bác Hồ: "không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển,
quyết chí cũng làm nên" [18, tr. 95].
Trong thực tế cuộc sống hiện nay, thanh niên là những người góp phần tạo ra cục
diện mới của đất nước. "Quân đội bảo vệ Tổ quốc là từ thanh niên, lực lượng lao động và
phát triển đất nước cũng là thanh niên; trong lao động sáng tạo, tiếp thu thành tựu khoa
học công nghệ mới, thanh niên đóng vai trò chủ lực" [22, tr. 37]. "Thành công và phát
triển hay để đất nước tiếp tục trì trệ trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu chủ yếu là do
thanh niên quyết định" [22, tr. 40].
Tóm lại, trong lịch sử và hiện tại giành, giữ chính quyền và xây dựng chủ nghĩa xã
hội, Mác, Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn nhấn mạnh và đánh giá cao vai
trò của thanh niên. Đồng thời cũng luôn chỉ rõ con đường duy nhất để thanh niên xứng
đáng với vai trò vẻ vang của mình là phải không ngừng học tập và rèn luyện đạo đức
cách mạng, tức là thanh niên phải phấn đấu trở thành người cộng sản chân chính.
1.1.2.2. ý nghĩa công tác phát triển trong thanh niên ở các Đảng bộ phường
Phát triển ĐNĐV trẻ về tuổi đời, có trí tuệ cao phẩm chất tốt, dồi dào về thể lực,
trong sáng về đạo đức là nhiệm vụ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng:
Một là, là nền tảng của Đảng, các Đảng bộ phường trực tiếp đưa đường lối của
Đảng đến với quần chúng và lãnh đạo, tổ chức quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối
ấy. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới các Đảng bộ phường cần phải tăng thêm số đảng
viên trẻ, thông qua đó Đảng hoạt động "ăn sâu", "bám chắc" rộng rãi trong các khu dân
cư, nắm bắt thông tin, dư luận, tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu chính đáng của quần chúng
để phản ánh và tham gia cùng cấp ủy Đảng, chính quyền cấp trên kịp thời điều chỉnh, bổ
thức, trí tuệ cao, thể lực dồi dào. Có như vậy quần chúng và cán bộ ở cơ sở mới thực sự
yên tâm và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng bộ.
Bốn là, làm tốt CTPTĐV trong thanh niên trên địa bàn dân cư sẽ có cơ sở tạo
nguồn cán bộ cho Đảng, chính quyền và các đoàn thể ở phường.
Làm tốt CTPTĐV ở các Đảng bộ phường là quá trình xây dựng một lực lượng kế
tục sự nghiệp vẻ vang của Đảng và bảo đảm chắc chắn cho sự thành công của cách mạng
nước ta. Quá trình đó sẽ làm cho Đảng ta trưởng thành về mọi mặt nâng cao sức chiến
đấu, làm cho Đảng luôn phát triển, tăng cường ảnh hưởng của Đảng đến các đối tượng
dân cư ở phường vốn đa dạng, phức tạp hiện nay.
1.2. Những yếu tố tác động đến công tác phát triển đảng viên của các Đảng
bộ phường ở Đà Nẵng
1.2.1. Tình hình, đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội các phường ở
Đà Nẵng và nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ phường hiện nay
1.2.1.1. Tình hình, đặc điểm các phường
Là một trọng điểm của vùng kinh tế miền Trung, Đà Nẵng liền kề với khu kinh tế
mở Chu Lai, khu công nghiệp Dung Quất. Với lợi thế về cơ sở hạ tầng như đường sá, cầu
cống, bến cảng, sân bay, nhà ga, bệnh viện, trường học tương đối tốt; có cảng nước sâu
tiếp nhận tàu vận tải và tàu du lịch cỡ lớn, có sân bay quốc tế, quốc lộ 14 B với cảng Tiên
Sa, đầu mối của đường xuyên á, nối liền biển Đông nước ta với Lào, Thái Lan và các
nước Đông Nam á. Đà Nẵng lại nằm giữa quần thể di sản văn hóa thế giới gồm cố đô
Huế, phố cổ Hội An và khu di tích Mỹ Sơn, nên có nhiều lợi thế so sánh và điều kiện để
phát triển kinh tế - xã hội, nhất là phát triển công nghiệp, cảng biển, thương mại dịch vụ,
du lịch và nhiều ngành nghề truyền thống khác.
Ngày 1/1/1997 Đà Nẵng đi vào hoạt động theo cơ chế mới trực thuộc Trung
ương, tiếp đó ngày 23/10/1997, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt qui hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội. Điều 1 của Quyết định đã xác định rõ mục tiêu và định hướng phát
triển kinh tế - xã hội thành phố đến năm 2010:
Thành phố Đà Nẵng là một trong những trung tâm vùng kinh tế trọng
điểm miền Trung và của cả nước. Từng bước phát triển thành phố trở thành
Bằng nhiều hình thức và phương cách, trong 5 năm qua thành phố đã tạo việc
làm cho 7.780 vạn người, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm ổn định cho 1,55 vạn
lao động trong các thành phần kinh tế. Năm 2001, thành phố đã cơ bản xóa hộ đói, và
giảm số hộ nghèo xuống còn 5,1% (theo chuẩn mới), đời sống dân cư thành thị được
nâng lên đáng kể, đặc biệt là các hộ chính sách có mức sống trung bình so với khu vực.
Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ngày một nâng cao, cuộc vận động "Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" được các tầng lớp nhân dân đồng tình
hưởng ứng và đạt kết quả tốt.
Công tác vận động quần chúng, cải cách hành chính, xây dựng chính quyền, xây
dựng Đảng thường xuyên được tăng cường. Qui chế dân chủ được triển khai đến các loại
hình cơ sở; thực hiện cơ chế "một cửa" trong các dịch vụ bước đầu đạt kết quả tốt. Việc
tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được tổ chức tốt (không có tồn đọng). Vai
trò, chất lượng và hiệu quả quản lý của chính quyền các cấp được nâng cao.
Những thành tựu đổi mới của Đà Nẵng trong gần 6 năm qua là kết quả của quá
trình nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố, đã và đang
tạo ra thế và lực mới để Đà Nẵng tiếp tục phát triển. Tuy nhiên, sự phát triển đó chỉ mới
bước đầu, chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của Đà Nẵng. Muốn trở thành trung
tâm công nghiệp, thương mại dịch vụ, du lịch, văn hóa, khoa học kỹ thuật của miền
Trung, các Đảng bộ phường Đà Nẵng phải giải quyết một số vấn đề chủ yếu sau:
1.2.1.2. Nhiệm vụ chính trị của các Đảng bộ phường
Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ XVIII (tháng 2 năm 2001) đề ra phương
hướng chung là:
Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, quán triệt phương châm "phát
triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt", tăng cường khối đoàn kết thống
nhất, phát huy cao độ nội lực kết hợp khai thác mọi nguồn lực bên ngoài, tận dụng mọi
thời cơ thuận lợi để phát triển nhanh và bền vững, phấn đấu xây dựng Đà Nẵng giàu về
kinh tế, phát triển về văn hóa và khoa học công nghệ, đảm bảo quốc phòng - an ninh, hệ
thống chính trị vững mạnh, dân trí ngày càng được nâng cao, cảnh quan thiên nhiên, môi
trường đô thị lành mạnh, sạch đẹp, vươn lên xứng đáng là một trong những trung tâm
đó chiếm số đông là chi bộ tổ dân phố. Các Đảng bộ phường ở Đà Nẵng phân bố không
đều giữa 5 quận nội thành.
Biểu 1.1: Phân bố Đảng bộ, chi bộ và số đảng viên
ở các quận trong thành phố
Quận
Tổng số Đảng
bộ cơ sở
(phường)
Tổng số
Chi bộ
Tổng số
đảng viên
1. Hải Châu
2. Sơn Trà.
3. Thanh Khê.
4. Liên Chiểu.
5. Ngũ Hành Sơn
12
7
8
3
3
211
98
121
49
54
4.498
1.574
2.373
sức lao động.
Trên địa bàn phường ở Đà Nẵng, hiện tại có ba lực lượng cán bộ: cán bộ đương
chức ở phường, cán bộ hưu trí và cán bộ thuộc các cơ quan đơn vị do cấp trên quản lý cư trú
ở phường. Đội ngũ cán bộ công tác tại phường hiện nay gồm các đối tượng như: cán bộ theo
qui định tại Nghị định 09/1998/NĐ-CP; cán bộ cấp phó Mặt trận và cấp phó các đoàn thể;
cán bộ chuyên trách về: xóa đói giảm nghèo, dân số - kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và
chăm sóc trẻ em, văn hóa thông tin; cán bộ hợp đồng (hiện có 206, trong đó 188 do quận,
huyện, phường, xã hợp đồng và trả lương từ ngân sách của quận, huyện, xã, phường).
Tổng số cán bộ phường, xã theo Qui định 09/1998/NĐ-CP có mặt đến cuối năm 2002 là
983 người. So với trước đây, đội ngũ này đều được trẻ hóa, chất lượng ngày càng được
nâng cao, số đông được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý nhà nước, lý luận
chính trị. Cụ thể:
- Học vấn: Trung học cơ sở: 3%; Trung học phổ thông: 79,8%.
- Chuyên môn: Đại học 9,8%; cao đẳng, trung cấp: 18,4%; sơ cấp: 0,8%.
- Lý luận chính trị: cao cấp: 4,15%; trung cấp: 41,1%; sơ cấp: 10,9%.
- Quản lý nhà nước: trung cấp 27,2%; bồi dưỡng: 17,7%.
Riêng đối với cán bộ thuộc 4 chức danh chuyên môn ở phường (Tư pháp - Hộ
tịch, Văn phòng - Thống kê tổng hợp, Địa chính, Tài chính - Kế toán) được thành phố tạo
điều kiện bồi dưỡng kiến thức luật, quản lý nhà nước, tin học nhằm đáp ứng tiêu chuẩn
theo qui định. Đến nay đã có 106/186 cán bộ đủ tiêu chuẩn về chuyên môn (tỷ lệ 57%).
Tuy vậy, ĐNĐV là cán bộ ở phường có tuổi đời bình quân cao, phần lớn là cán bộ, bộ đội
nghỉ hưu, trình độ mọi mặt còn bất cập so với yêu cầu thực tiễn. Nhiều cán bộ ngại học
tập, không muốn tham gia công tác Đảng, đoàn thể xảy ra khá phổ biến ở phường, cơ
quan, đơn vị hành chính sự nghiệp. Một số đảng viên thiếu tinh thần trách nhiệm, đùn
đẩy, né tránh những công việc phức tạp, không kiên quyết đấu tranh bảo vệ chân lý, lẽ
phải. Đặc biệt nghiệm trọng là tình trạng đảng viên ở phường có chức, có quyền, nắm
tiền, nắm luật pháp, được giao xử lý các công việc liên quan đến sản xuất và đời sống của
dân đã cửa quyền, gây phiền hà, sách nhiễu, đòi hối lộ, đút lót khiến nhân dân oán thán,
ngại và xa lánh cơ quan nhà nước.
kiên, có hoài bão vươn lên góp sức xây dựng quê hương nhưng vốn sống còn ít, đa số phụ
thuộc gia đình, chưa thể tự lập thân, lập nghiệp, thiếu từng trải nên cách nhìn nhận nhiều
vấn đề, giải quyết nhiều sự việc, lựa chọn nhiều giá trị không đúng với chuẩn mực đạo
đức xã hội. Không ít trường hợp xảy ra mâu thuẫn, xung đột giữa các thế hệ trong gia đình.
Bởi ảnh hưởng lối sống của chế độ cũ chưa hẳn mất đi một cách dễ dàng trong tâm trí một số
người, nhất là những người gắn bó với chế độ Mỹ - Ngụy. Các phường như An Hải Tây,
Mân Thái, Thọ Quang, An Hải Đông, Phước Mỹ, Thuận Phước trước đây là nơi cư trú
của nhiều gia đình sĩ quan, binh lính, thương phế binh và công chức ngụy quyền Sài Gòn.
Trong đó, như An Hải Đông có 407 hộ với 2.705 nhân khẩu, An Hải Tây hơn 2.000 nhân
khẩu thường xuyên nhận đô la từ Mỹ gửi về.
- Về học vấn - điều kiện cơ bản để vào đời:
Đối tượng này chủ yếu dừng lại ở tốt nghiệp phổ thông trung học, thậm chí thấp
hơn. Phần lớn chưa có việc làm ổn định, chưa được đào tạo nghề, sống phụ thuộc vào gia
đình; ít được tiếp xúc với khoa học - công nghệ; lao động chủ yếu trong các ngành nghề
phổ thông, kinh tế gia đình; tư nhân, cá thể chính vì vậy, nhu cầu, nhận thức và nguyện
vọng của đối tượng thanh niên này cũng khác với các đối tượng thanh niên khác. Điều họ
quan tâm, chi phối nhất là việc làm, thu nhập của bản thân. Họ quan tâm đến thu nhập
nhiều hơn là chọn nghề mình hứng thú và trong thực tế họ biết rằng mình không có nhiều
cơ hội để lựa chọn nghề mình thích.
- Đặc điểm nổi bật, dễ nhận thấy nhất ở thanh niên nói chung, thanh niên Đà
Nẵng nói riêng là sự tiếp bước truyền thống yêu nước, lòng nhân đạo, một lòng tin theo
Đảng, sẵn sàng góp sức mình cho công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước, quê hương.
Đà Nẵng xưa cũng như nay đã sinh ra nhiều nhà văn hóa, anh hùng dân tộc, Đà
Nẵng là chiến trường ác liệt trong thời kỳ chống Mỹ, biết bao người đã ngã xuống mảnh
đất này để giữ lấy độc lập, tự do của dân tộc, bình yên cho quê hương, để nền văn hóa
Việt Nam trường tồn với lịch sử nhân loại. Chính trong gian khó đó, một phần đã tôi
luyện nên con người Đà Nẵng với những đức tính như cần cù, chịu khó, trung thực, kiên
cường, tiết kiệm Không có nhiều nơi như Đà Nẵng, thanh niên được thừa hưởng tất cả
những truyền thống quí báu mà cha, anh để lại, đó chính là hành trang, là cội nguồn sức
2001 tổng số đảng viên 25516 đồng chí, trong đó số có trình độ cao đẳng, đại học là
8.815 người (34,5%) tăng 4,1% so với 1997. Thạc sĩ và tiến sĩ là 253 đồng chí (1,38%)
tăng 0,68%, về lý luận chính trị, số có trình độ cử nhân chính trị là 394, cao cấp 1.994
đồng chí (7,8%), tăng 1,84%. Cơ cấu ĐNĐV toàn đảng bộ:
Biểu 2.1: Tình hình đảng viên qua các năm 1997 - 2001
Năm
Tổng số
đảng
viên
Mới kết
nạp
Dưới 30
tuổi
Còn sinh
hoạt
đoàn
Trên 60
tuổi
Hưu,
mất sức
Công tác
ở xã,
phường
1997
21361 752 1040 850 4391 8115 557
1998