LUẬN VĂN: Thực hiện pháp luật về giáo dục và
đào tạo ở tỉnh Bình Định hiện nay
Mở ĐầU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý xã hội bằng pháp luật là phương thức quản lý cơ bản của hầu hết các
nhà nước đương đại trên thế giới. Để quản lý xã hội, đòi hỏi mỗi nhà nước phải xây
dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã
hội. Nhưng điều đó vẫn chưa đủ, vấn đề quan trọng hơn là tổ chức thực hiện như thế
nào để pháp luật đó đi vào cuộc sống thực tiễn, để những quy định của nhà nước
được thực thi trong thực tế nhằm ổn định và phát triển xã hội theo định hướng của
giai cấp cầm quyền.
ở nước ta trong công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi
giáo dục và đào tạo thực sự là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Công tác
thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bình Định đã đạt được nhiều kết quả trên
cả ba phương diện: tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo.
Tuy nhiên, vấn đề thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bình Định
cũng còn những khiếm khuyết và yếu kém, dẫn đến tình trạng chất lượng và hiệu quả
giáo dục còn thấp; những biểu hiện tiêu cực, thiếu kỷ cương trong giáo dục chưa
ngăn chặn kịp thời; công tác quản lý đối với giáo dục và đào tạo còn có những biểu
hiện tùy tiện chưa tuân thủ pháp luật nên có ảnh hưởng đến yêu cầu ổn định, phát
triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh nhà.
Với những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài: “Thực hiện pháp luật về giáo
dục và đào tạo ở tỉnh Bình Định hiện nay ” là vấn đề cần thiết, có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
ở nước ta trong những năm gần đây, vấn đề thực hiện pháp luật đang được đặt
ra và là nhiệm vụ cấp bách của các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi
công dân. Thực hiện pháp luật trên một số lĩnh vực đã có những công trình nghiên
cứu như:
- “Thực hiện pháp luật trong hoạt động của lực lượng Công an nhân dân để
bảo vệ trật tự, an toàn xã hội ở nước ta hiện nay ”, Luận án phó tiến sĩ Luật học của
Đỗ Tiến Triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1996.
- “Thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở ở tỉnh Bình Thuận hiện nay - Thực
trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sĩ Luật học của Lê Trung Quân, Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2004.
Riêng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đã có rất nhiều công trình khoa học
nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau như:
- “Tiếp tục đổi mới và phát triển giáo dục-đào tạo theo tinh thần Nghị quyết
Đại hội IX ”, của GS.VS. Phạm Minh Hạc, Tạp chí Giáo dục số 10, tháng 8-2001.
- “Ngành giáo dục-đào tạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và
triển khai Nghị quyết Đại hội IX ” của Nguyễn Minh Hiển, Tạp chí Cộng sản số 22,
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần
bảo đảm thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bình Định trong giai đoạn
hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về giáo dục và
đào tạo với tư cách là những phương thức để đưa pháp luật về giáo dục và đào tạo
vào cuộc sống thực tiễn, là biện pháp cơ bản để thực hiện mục tiêu giáo dục và
đào tạo mà Đảng và Nhà nước đề ra, góp phần phòng ngừa, hạn chế các vi phạm
pháp luật về giáo dục và đào tạo nói chung và ở tỉnh Bình Định nói riêng.
- Luận cứ sự cần thiết phải đảm bảo vấn đề thực hiện pháp luật về giáo dục và
đào tạo trong phạm vi cả nước nói chung và ở tỉnh Bình Định nói riêng trong giai
đoạn hiện nay.
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bình
Định bao gồm cả những mặt đã làm được, những mặt chưa làm được, xác định
nguyên nhân của những kết quả đạt được và những hạn chế, thiếu sót, từ đó rút rút ra
những kinh nghiệm thực tiễn.
- Trên cơ sở thực trạng thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bình
Định, cùng với những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, luận văn bước đầu
xây dựng các giải pháp nhằm góp phần bảo đảm thực hiện pháp luật về giáo dục và
đào tạo ở tỉnh Bình Định hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo là vấn đề rộng và được thông qua
các hình thức: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng
pháp luật về giáo dục và đào tạo. Nhưng chủ yếu vẫn là hình thức thi hành (chấp
hành) pháp luật và áp dụng pháp luật, do đó thi hành pháp luật và áp dụng pháp luật
được xác định là đối tượng nghiên cứu chính của luận văn.
Phạm vi vấn đề nghiên cứu chủ yếu tập trung làm rõ việc thực hiện pháp luật
về giáo dục và đào tạo về các nội dung: Tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước về
và đào tạo ở tỉnh Bình Định - kết quả đã đạt được và những hạn chế, bất cập. Từ đó
khẳng định nhu cầu thực tiễn của việc bảo đảm thực hiện pháp luật về giáo dục và
đào tạo ở tỉnh Bình Định.
Khẳng định, củng cố nhận thức về vị trí, vai trò và ý nghĩa của thực hiện pháp
luật về giáo dục và đào tạo trong việc phát huy tính tích cực, chủ động trong thực
hiện pháp luật, phòng ngừa và giảm thiểu các vi phạm pháp luật để phát triển sự
nghiệp giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài cho đất nước.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý
luận của thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo, từ đó làm phong phú thêm lý
luận chung về Nhà nước và pháp luật. Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho cấp
ủy và chính quyền của tỉnh Bình Định trong việc xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ
chức và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Luận văn cũng có thể là tài
liệu tham khảo của Sở Giáo dục-Đào tạo của tỉnh trong việc nghiên cứu và chỉ đạo
các hoạt động về giáo dục-đào tạo trong phạm vi tỉnh Bình Định.
8. Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.
Chương 1
Cơ sở lý luận của thực hiện pháp luật
về giáo dục và đào tạo
1.1. Quan niệm về thực hiện pháp luật
Để quản lý xã hội, quản lý nhà nước trước hết nhà nước phải quan tâm xây dựng
pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm đảm bảo lợi ích của nhân dân, lợi ích
của Nhà nước. Mục đích đó chỉ có thể đạt được khi mà các chủ thể tự giác thực hiện một
cách nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật. Pháp luật vớiăt cách là những qui tắ xử
về những nội dung cơ bản, đó là: Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm
thực hiện những yêu cầu của pháp luật, thực hiện pháp luật là hoạt động thực tế, hợp
pháp của các chủ thể pháp luật làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện
thực trong cuộc sống. Tuy nhiên, cũng có sự khác nhau trong các định nghĩa trên. Có
định nghĩa nêu thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động, các định nghĩa khác lại
chỉ nêu thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình.
Theo chúng tôi, hiện tượng, quá trình hay quá trình hoạt động đều là những phạm
trù có nội hàm riêng của nó nhưng có cùng mục đích là thực hiện những quy định của
pháp luật, làm cho những quy định ấy trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của
các chủ thể pháp luật, đáp ứng yêu cầu đặt ra của pháp luật trong việc điều chỉnh các
quan hệ xã hội. Tuy nhiên, hoạt động thực hiện pháp luật không chỉ là những hành vi
đơn lẻ, độc lập, cắt khúc mà nó luôn luôn là một quá trình. Vì vậy, về khái niệm thực
hiện pháp luật chúng tôi đồng ý với nội dung cơ bản trong các định nghĩa nêu trên và
sắp xếp lại như sau:
Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các qui định
của pháp luật trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật và
được thực hiện trong thực tế cuộc sống.
1.1.2. Hình thức thực hiện pháp luật
Trong xã hội tồn tại rất nhiều quan hệ xã hội khác nhau, vì vậy các qui phạm
pháp luật rất phong phú, đồng thời chúng cũng xác định quyền, nghĩa vụ thực hiện đối
với các chủ thể khác nhau, vì thế hình thức thực hiện chúng cũng rất đa dạng. Căn cứ
vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, theo tài liệu học tập và nghiên cứu môn
học Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật (tập1) của Khoa Nhà nước và pháp luật
thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước
và pháp luật của Khoa Luật Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Giáo trình Lý luận
Nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội đều cho rằng có bốn hình thức
thực hiện pháp luật nhằm mục đích chuyển tải các qui phạm pháp luật vào cuộc sống
thực tiễn, đó là:
Tuân theo (tuân thủ) pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các
pháp luật và sử dụng pháp luật. Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ, nếu như tuân thủ pháp
luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể thực
hiện pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật là hình thức luôn luôn có sự
tham gia của nhà nước (thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm
quyền).
1.1.3. Vị trí, vai trò của thực hiện pháp luật
Một yêu cầu quan trọng đặt ra đối với việc xây dựng pháp luật của Nhà nước ta
là pháp luật phải là cơ sở của việc tổ chức và hoạt động của nhà nước, pháp luật phải là
công cụ gìn giữ trật tự, kỷ cương xã hội, là phương tiện xử sự của mọi công dân. Đường
lối, quan điểm của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước, nhu cầu khách quan của
đời sống xã hội phải được phản ánh thông qua hệ thống pháp luật.
Quản lý xã hội bằng pháp luật không đơn giản chỉ dừng lại ở việc nhà nước xây
dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đầy đủ, điều quan trọng hơn cả là pháp luật
của nhà nước phải được mọi thành viên trong xã hội tôn trọng và chấp hành một cách
nghiêm chỉnh và triệt để, pháp luật phải đi vào cuộc sống, phải biến thành hành động của
mọi công dân, mọi tổ chức trong xã hội.
Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đầy đủ cũng chưa có thể nói lên điều gì, vì
“pháp luật ở trạng thái đó vẫn là trạng thái “tĩnh” nó có thể tác động đến trật tự pháp luật,
thúc đẩy quá trình phát triển của các quan hệ xã hội nhưng mức độ rất hạn chế và chủ yếu
mới chỉ là thông qua ý thức pháp luật của công dân ở một bộ phận không đáng kể” [89,
tr.225]. Pháp luật chỉ có thể phát huy hết tác dụng và có ý nghĩa thực sự khi nó được tổ
chức thực hiện tốt trong đời sống xã hội, tức là khi các qui định của pháp luật trở thành
những hành vi, cách xử sự thực tế của các cá nhân, tập thể trong cuộc sống hằng ngày.
Trong đời sống xã hội có rất nhiều lĩnh vực khác nhau, đòi hỏi nhà nước phải xây
dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan hệ
xã hội đó. Thực tiễn cho thấy, có rất nhiều văn bản pháp luật phát huy tác dụng tốt, đem
lại hiệu quả thiết thực trong công tác quản lý, nhưng vẫn còn không ít văn bản pháp luật
chưa phát huy được hiệu lực thi hành, không mang lại hiệu quả như mong muốn. Mặt
tồn tại đó có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là do chưa tổ chức tốt việc
pháp luật có tốt đến đâu thì đó cũng chỉ là khả năng quản lý, khả năng đấu tranh. Để
biến khả năng đó thành hiện thực cuộc sống nhất thiết phải biết sử dụng khả năng đó
như là phương tiện tổ chức quần chúng thì mới thắng được trật tự xã hội cũ cũng như
mọi biểu hiện vô chính phủ.
Pháp luật Xô - viết rất tốt vì những pháp luật này đã đem lại cho mọi
người cái khả năng đấu tranh chống bệnh quan liêu và lề mề Thế nhưng có
ai sử dụng khả năng đó không? Hầu như không có một ai ! Không những
nông dân, chính cả một số rất lớn đảng viên cộng sản cũng không biết dùng
pháp luật Xô - viết để đấu tranh chống bệnh lề mề và bệnh quan liêu [44,
tr.214].
Thật vậy, nếu như không có sự tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm
chỉnh, triệt để, chính xác của các chủ thể pháp luật thì sẽ không có pháp chế xã hội chủ
nghĩa.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và
lãnh đạo, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân là một trong những điều kiện đảm bảo sự thành công của sự nghiệp
đổi mới, bởi vì việc yêu cầu tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật, việc thực
hiện nghiêm chỉnh những qui định Hiến pháp và pháp luật của các cơ quan nhà nước,
các tổ chức và mọi công dân là yêu cầu bắt buộc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa.
Nhận thức vấn đề này, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX xác định: “Nhà
nước quản lý xã hội bằng pháp luật, mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân
có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật” [25, tr.132]. Quan điểm, tư tưởng trên của
Đảng ta đã được thể chế hoá trong Hiến pháp năm 1992 và được sửa đổi, bổ sung theo
Nghị quyết số 51/2001/QH10 năm 2001 của Quốc hội. Điều 12 Hiến pháp năm 1992
(sửa đổi, bổ sung năm 2001) qui định:
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghĩa.
Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang
tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ
và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử-xã hội của loài người ” [69, tr. 32].
Trong luận văn thạc sĩ Luật của Lê Thị Kim Dung (năm 2004) có nêu:
Giáo dục là hoạt động có mục đích, có chương trình, tác dộng vào con
người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ tri
thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỷ năng và lối sống, chuẩn bị cho đối tượng
của giáo dục tham gia lao động, đi vào đời sống xã hội và nâng cao chất
lượng cuộc sống. Giáo dục là hoạt động tất yếu của phát triển xã hội loài
người, là một bộ phận cơ bản của quá trình tái sản xuất mở rộng lao động xã
hội. Theo khái niệm rộng, giáo dục bao gồm cả đào tạo, cung cấp các nguồn
nhân lực cần thiết cho từng lĩnh vực kinh tế-xã hội [20, tr.7].
Các định nghĩa, khái niệm về giáo dục, đào tạo nêu trên tuy diễn đạt khác nhau
nhưng có những nội dung cơ bản tương đối đồng nhất, thể hiện ở chỗ hoạt động giáo
dục, đào tạo là hoạt động có mục đích nhằm trang bị tri thức, kinh nghiệm cho con
người tham gia đời sống kinh tế - xã hội.
Tác giả luận văn đồng ý với những nội dung cơ bản đó và cho rằng: Giáo dục và đào
tạo là hoạt động có mục đích, có chương trình nhằm trang bị cho con người những tri thức,
kinh nghiệm lịch sử - xã hội cần thiết và những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp nhất định để
sẵn sàng tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm về sự nghiệp giáo dục. Người chỉ ra
rằng: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn cho dân mạnh nước giàu mọi người Việt Nam
phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể
tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà mà trước hết phải biết đọc, biết viết chữ
quốc ngữ ” [47, tr.3]. Người cũng chỉ cho chúng ta con đường thoát khỏi cảnh yếu hèn
đó là con đường phát triển giáo dục: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu ”. Trong thư
gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập (tháng 9/1945),
Bác đã viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có
bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính
là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu” [47, tr.33]. Tư tưởng Hồ Chí Minh về
và đào tạo, Nhà nước ta đã thể chế hóa thành các văn bản pháp luật để tổ chức thực hiện
trong thực tế: Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001): "Phát triển giáo dục là quốc
sách hàng đầu. Nhà nước và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài " (Điều 35); Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua vào
tháng 12/1998; Nghị định số 43/2000/NĐ-CP ngày 30/8/2000 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục; Nghị quyết số 40/2000/QH10
về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và Nghị quyết 41/2000/QH10 về thực hiện
phổ cập giáo dục trung học cơ sở của Quốc hội khóa X thông qua ngày 09/12/2000
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 xác định mục tiêu, giải pháp và các
bước đi theo phương châm đa dạng hoá, chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, xây dựng
một nền giáo dục có tính chất thực tiễn và hiệu quả, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về
chất lượng, đưa nền giáo dục nước ta sớm tiến kịp các nước phát triển trong khu vực và
trên thế giới, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực
thực hiện mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2001-2010.
Như vậy, pháp luật về giáo dục và đào tạo đã thể chế hoá quan điểm, đường lối,
chính sách của Đảng về giáo dục và đào tạo để đưa quan điểm, đường lối, chính sách
của Đảng vào cuộc sống, trở thành hiện thực trong cuộc sống. Pháp luật về giáo dục và
đào tạo bao gồm cả các quy định trong Hiến pháp, Lụât Giáo dục, các Nghị quyết của
Quốc hội, các văn bản dưới luật nhằm quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thi hành luật.
Từ đó, có thể khái quát rằng: Pháp luật về giáo dục và đào tạo là hệ thống các
qui phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các
quan hệ xã hội về giáo dục và đào tạo, bảo đảm phát triển vững chắc sự nghiệp giáo
dục và đào tạo, thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài cho đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.2.2. Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo
1.2.2.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo
Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo là thực hiện pháp luật về một lĩnh
vực trong xã hội mà cụ thể, đó là giáo dục và đào tạo. Giáo dục và đào tạo có vai trò rất
quan trọng trong việc tạo ra những con người Việt Nam phát triển toàn diện, những
người lao động có đạo đức, có tri thức, có khả năng thích ứng nhanh chóng với sự phát
Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích làm
cho các qui phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo đi vào cuộc sống, trở thành những hành
vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong
thực hiện pháp luật, phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các vi phạm pháp
luật để phát triển vững chắc sự nghiệp giáo dục và đào tạo, thực hiện mục tiêu nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
1.2.2.2. Đặc điểm của thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo
Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ngoài những đặc điểm của thực hiện
pháp luật nói chung, còn có những đặc điểm mang tính chất đặc thù. Những đặc điểm đặc
thù của thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo được qui định bởi vị trí, vai trò của nó
trong đời sống xã hội.
- Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo vừa mang tính quyền lực nhà nước
vừa mang tính xã hội rộng lớn.
Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích
làm cho những qui phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo đi vào cuộc sống. Các qui
phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo là những qui tắc xử sự chung do nhà nước ban
hành và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ về giáo dục và đào tạo phát triển
theo định hướng nhất định.
Các qui phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo là những qui tắc xử sự của mọi
công dân, của các nhà chức trách có thẩm quyền, là những qui định về nội dung chương
trình, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động, về bộ máy quản lý nhà nước, là những
qui định về địa vị pháp lý của các chủ thể khác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Do
đó nó có tính bắt buộc thực hiện đối với mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, bảo đảm
tính quyền lực của nhà nước được thực thi trong đời sống thực tiễn.
Lĩnh vực giáo dục và đào tạo có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội. Pháp
luật về giáo dục và đào tạo có tác dụng điều chỉnh mọi hành vi của các chủ thể và bắt
buộc các chủ thể có trách nhiệm thực hiện nó. Do đó, pháp luật về giáo dục và đào tạo
còn mang tính xã hội rộng lớn.
pháp luật. Trong những yêu cầu đặt ra trong xây dựng pháp luật về giáo dục và đào tạo,
vấn đề trọng tâm là đề ra các biện pháp nhằm thực hiện yêu cầu đó. Vì vậy, việc thực
hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo là nhằm thực hiện các mục tiêu mà giáo dục và
đào tạo đặt ra, đó là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri
thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công
dân, đáp ứng nhu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo luôn có sự kết hợp giữa nhà trường,
gia đình và xã hội.
Để pháp luật về giáo dục và đào tạo phát huy hết hiệu lực, hiệu quả cần có sự kết
hợp hài hoà giữa nhà trường, gia đình và xã hội, trong đó các cơ quan quản lý nhà nước, đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt trong thực hiện pháp luật về
giáo dục và đào tạo. Trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý có vai trò đặc biệt quan trọng, làm nòng cốt để nâng cao chất lượng giáo dục. Do đó,
Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm và xây dựng được một đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục đông đảo, phần lớn có đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn. Tuy
nhiên, so với yêu cầu của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ mới đòi hỏi phải có sự quan
tâm nhiều hơn nữa để đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tránh được những hạn
chế và bất cập, vươn lên thực hiện tốt nhiệm vụ của ngành, thực sự làm nòng cốt trong việc
thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo.
1.2.3. Hình thức và nội dung thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo
1.2.3.1. Hình thức thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo
Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực của đời sống xã hội. Hình thức của thực hiện
pháp luật về giáo dục và đào tạo cũng có những nét chung của các hình thức thực hiện
pháp luật, đó là:
Tuân theo (tuân thủ) pháp luật về giáo dục và đào tạo là hình thức thực hiện
pháp luật về giáo dục và đào tạo, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến
hành những hành vi mà pháp luật ngăn cấm. Ví dụ: Điều 63a Luật Giáo dục năm 1998
(sửa đổi, bổ sung năm 2005) qui định: “Nhà giáo không được có hành vi ảnh hưởng xấu
học tại các trường, cơ sở giáo dục và nghiên cứu khác.
áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo là một hình thức thực hiện pháp luật về
giáo dục và đào tạo, trong đó nhà nước (thông qua các cơ quan hoặc nhà chức trách) tổ
chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những qui định của pháp luật về giáo dục và
đào tạo, hoặc tự mình căn cứ vào những qui định của pháp luật về giáo dục và đào tạo
để ban hành các quyết định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt những quan hệ pháp
luật cụ thể trong lĩnh vực giốa dục và đào tạo. Ví dụ: Điều 104 Luật Giáo dục năm 1998
qui định việc phong tặng danh hiệu nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú: “Nhà giáo, cán
bộ quản lý giáo dục, cán bộ nghiên cứu giáo dục có đủ tiêu chuẩn theo qui định của
pháp luật thì được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú”
[55, tr.55].
Khi nhà giáo có đủ tiêu chuẩn trên, Nhà nước có trách nhiệm áp dụng pháp luật
theo những nội dung qui định này để phong tặng các danh hiệu cho nhà giáo.
1.2.3.2. Nội dung thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo
Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo là hoạt động có mục đích nhằm thực
hiện các qui định của pháp luật về giáo dục và đào tạo, đưa các qui phạm pháp luật này vào
thực tiễn cuộc sống, biến nó thành những hành vi xử sự thực tế góp phần phát huy tính tích
cực, chủ động trong thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo. Pháp luât về giáo dục và
đào tạo được thực hiện trong đời sống xã hội thông qua các hình thức tuân thủ pháp luật, thi
hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. Các qui phạm pháp luật về giáo
dục và đào tạo của nước ta hiện nay được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật (Hiến
pháp 1992 (Sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật, Nghị quyết, Nghị định, Chỉ thị, Thông tư,
Quyết định ) của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, với nội dung rất rộng, liên quan
đến tất cả các mặt của lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Tuy vậy, có thể khái quát nội dung của
pháp luật về giáo dục và đào tạo bao gồm ba vấn đề chủ yếu:
- Tổ chức hệ thống giáo dục và đào tạo;
- Hoạt động giáo dục và đào tạo;
- Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo.
Như vậy, nội dung thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo cũng bao gồm 3
Nội dung này bao gồm những qui định chung về nhiệm vụ, quyền hạn của các nhà
trường thể hiện ở Điều 53 Luật Giáo dục năm 1998.
c) Thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo
Thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là quá trình hoạt
động của các chủ thể trong việc thực hiện các qui định của pháp luật bao gồm: Xây
dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo
dục; ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật về giáo dục; ban
hành Điều lệ nhà trường; ban hành qui định về tổ chức và hoạt động của các cơ sở giáo
dục khác; qui định mục tiêu, chương trình nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu
chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản, in và phát hành
sách giáo khoa, giáo trình; qui chế thi cử và cấp bằng; tổ chức bộ máy quản lý giáo dục;
tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục;
huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục; tổ chức,
quản lý công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ trong ngành giáo dục; tổ chức, quản
lý công tác quan hệ quốc tế về giáo dục; qui định việc tặng các danh hiệu vinh dự cho
những người có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục; thanh tra, kiểm tra việc chấp
hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp
luật về giáo dục.
Những nội dung về quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo nói trên được qui định
tại Điều 86 Luật Giáo dục năm1998.
Để thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, Luật Giáo
dục xác định các chủ thể quản lý và những nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể đó tại
Điều 87 Luật Giáo dục năm 1998:
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục.
Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh
hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước, những chủ
trương về cải cách nội dung chương trình của cả một bậc học, cấp học; hàng năm báo
cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục và thực hiện ngân sách giáo dục;
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý