LUẬN VĂN: Quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Quản lý Nhà nước về giáo dục và đào
tạo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
a.Phần mở đầu

1.Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về giáo
dục và đào tạo
1.1.Một số khái niệm liên quan
- Quản lý là một khái niệm được xem xét ở hai góc độ :
+ Theo góc độ chính trị xã hội ,quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức với
lãnh đạo ,vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù hợp. Cơ chế đúng
hợp ý thì xã hội phát triển ,ngược lại cơ chế sai thì xã hội phát triển chậm hoặc rối ren.
+ Theo góc độ hành động quản lý được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều hành.
Theo C.Mác, quản lý, quản lý xã hội là chức năng được sinh ra từ tinh chất xã
hội hoá lao động . Người viết : “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động
chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn ,thì ít nhiều cũng đều cần một sự chỉ
đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát
sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí
quan độc lập của nó .Một người độc tấu vĩ cầm điều khiển lấy mình, còn một dàn
nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. [14, tr480].
+ Từ cơ sở lý luận trên, ta thấy quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội
và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật
khách quan.
- Quản lý nhà nước:
+ Quản lý nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước là sự quản lý của
nhà nước đối với xã hội và công dân .
+ Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội để thực hiện quyền lực nhà
nước, là tổng thể và thể chế về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước có trách nhiệm
quản lý công việc hàng ngày của nhà nước ,do các cơ quan nhà nước (lập pháp ,hiến
pháp ,tư pháp ) có tư cách pháp nhân công pháp (công quyền )tiến hành bằng các văn
bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chức năng ,nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà
nước đã giao cho trong việc tổ chức và điều khiển các quan hệ xã hội và hành vi của
công dân .


tạo);kết luận của hội nghị lần thứ sáu ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX;nghị
quyết Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX ;văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,X; luật giáo dục sửa đổi thông qua ngay 14 tháng 6
năm 2005.
Qua các văn kiện này thể hiện một số quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục và
đào tạo như sau:
- Giáo dục và đào tạo nhằm vào xây dựng con người có đầy đủ phẩm chất để
xây dựng và bảo vệ đất nước.
- Giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong giáo dục và đào tạo ,nhất là chính
sách công bằng xã hội .
- Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, cùng với khoa học và công nghệ,
giáo dục và đào tạo là yếu tố quyết định góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển xã
hội .
- Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng , của Nhà nước và của toàn
dân;mọi người, mọi cấp chăm lo cho giáo dục và đào tạo.
- Giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển khinh tế –xã hội, với
khoa học , công nghệ và củng cố quốc phòng an ninh.
- Giữ vững vai trò nòng cốt của các trường công lập sông song với đa dạng hoá
các loại hình giáo dục-đào tạo.
- Chăm lo cho giáo dục và đào tạo là chăm lo cho con người và xã hội phát triển
với các yêu cầu và tiêu chí được xác lập.
- Phát triển giáo dục và đào tạo phải theo nguyên lí :học đI đôI với hành, giáo
dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn , giáo dục nhà trường
kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội .
* Mục tiêu :
Theo luật giáo dục 2005 thì mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát
triển toàn diện , có đạo đức , tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp , trung thành

chuyên môn thì mới có thể chỉ đạo tốt hoạt động giáo dục và đào tạo.
- Đặc điểm về tính quyền lực Nhà nước trong hoạt động quản lí .Đây là hoạt động
nổi bật của quản lí Nhà nước và quản lí hành chính ở mọi lĩnh vực nói chung , đó là tính
quyền lực trong hoạt động quản lí :tư cách pháp nhân trong quản lí, công cụ và phương
pháp quản lí và quan hệ thứ bậc trong quản lí.
- Đặc điểm kết hợp Nhà nước- xã hội trong quá trình triển khai quản lí Nhà
nước về giáo dục và đào tạo . Dân chủ hoá và xã hội hoá công tác giáo dục là một tư
tưởng có tính chiến lược và nó có vai trò rất to lớn trong sự phát triển giáo dục nói
chung và quản lí giáo dục nói riêng .
* Nguyên tắc của quản lí Nhà nước về giáo dục và đào tạo:
Nguyên tắc của quản lí giáo dục là những lao động cơ bản, những yêu cầu,
những tiêu chuẩn chỉ đạo việc xây dựng và tổ chức hoạt động của các cơ quan quản lí
giáo dục .Hệ thống các nguyên tắc trong quản lí giáo dục và đào tạo được cụ thể hoá
tại sơ đồ 2 – phần phụ lục, trên đây chỉ giới thiệu hai nguyên tắc cơ bản của quản lí
Nhà nước về giáo dục và đào tạo.
- Nguyên tắc kết hợp quản lí theo ngành và quản lí theo lãnh thổ.Mọi cơ sở giáo dục
thực hiện chức năng , nhiệm vụ giáo dục và đào tạo theo sự chỉ đạo ngành dọc nhưng
các cơ sở giáo dục đều đóng trên một địa bàn lãnh thổ nhất định vì vậy cũng phải tuân
thủ sự quản lí hành chính của địa phương theo qui định phân cấp của Nhà nước .
Mọi hoạt động quản lí không thể tách rời sự chỉ đạo theo ngành dọc và theo lãnh thổ
và chúng được coi là một nguyên tắc quan trọng trong quản lí Nhà nước nói chung và
quản lí Nhà nước về giáo dục - đào tạo nói riêng .
- Nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động quản lí Nhà nước về giáo dục
và đào tạo .
Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động chính trị xã hội ở nước
ta, đồng thời cũng là nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy
Nhà nước . Quản lí Nhà nước về giáo dục - đào tạo cũng tuân thủ theo nguyên tắc này

đối với giáo dục - đào tạo, coi đây là lĩnh vực quan trọng cho sự phát triển . Người cho
rằng “Vì lợi ích trăm năm phải trồng người” hay “ Một dân tộc dốt là một dân tộc
yếu”.
Ngày nay khoa học và công nghệ có những bước tiến xa so với nền khoa học
công nghệ truyền thống. Muốn nắm bắt được công nghệ mới , con người phải có trình
độ học vấn do giáo dục - đào tạo cung cấp , từ đó con người sẽ trở thành động lực thúc
đẩy công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước .
Như vậy giáo dục và đào tạo có vai trò rất lớn và có ảnh hưởng đến mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội. Cho nên Nhà nước thống nhất quản lí về giáo dục và đào tạo.
Vì thông qua quản lí Nhà nước về giáo dục và đào tạo , việc thực hiên các chủ trương
chính sách quốc gia nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục, chú ý thực hiện các mục
giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục mới được triển khai , thực hiện có hiệu quả .
Quản lí Nhà nước về giáo dục và đào tạo có thể được coi là khâu then chốt của
then chốt nhằm đảm bảo thực hiên thắng lợi của mọi hoạt động giáo dục và đào tạo,
tiến tới mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
và hoàn thiện nhân cách con người.

2.Thực trạng giáo dục đào tạo và công tác quản lý nhà nước về giáo dục và đào
tạo.
2.1.Quá trình phát triển hệ thống quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở Việt
Nam.
Sau cách mạng tháng tám năm 1945,nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời,cùng với
nó là sự ra đời của một nền giáo dục dân chủ nhân dân.Từ đó đến nay hệ thống giáo
dục nước ta đã trải qua ba cuộc cải cách.

Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong 4 năm học, từ lớp 6 đến lớp 9. Học sinh
vào lớp 6 phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là 11 tuổi .
Giáo dục trung học phổ thông được thiện trong 3 năm học từ lớp 10 đến lớp
12. Học sinh váo học lớp 10 phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là 15 tuổi
.
Giáo dục nghề nghiệp bao gồm:
Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ 3 đến 4 năm học đối với người có
bằng tốt nghiệp trung học cơ sở ,từ 1 đến 2 năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung
học phổ thông.
Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo trình độ sơ cấp, từ một
đền ba năm đối với nghề có trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng.
Giáo dục Đại học bao gồm;
Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tuỳ theo ngành nghề
đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp
trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cùng
chuyên ngành.
Đào tạo trình độ đại học được thực hiện tư 4 đến 6 năm tuỳ theo ngành đào tạo đối với
người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng trung cấp;từ hai năm rưỡi đến
bốn năm học đối với người có bằng trung cấp cùng chuyên ngành; từ một năm rưỡi
đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành.
Đào tạo trình độ Thạc sỹ được thực hiện từ một đến hai năm học đối với người
có trình độ tốt nghiệp đại học.
Đào tạo trình độ Tiến sỹ được thực hiện trong 4 năm học đối với người có bằng tốt
nghiệp đại học, từ hai đến ba năm đối với người có trình độ Thạc sỹ. Trong trường hợp
đặc biệt thời gian đào tạo Tiến sỹ có thể kéo dài theo quy định của Bộ trưởng Bộ giáo
dục và đào tạo.
Trải qua một số lần cải cách và hoàn thiện, ngày nay hệ thống quản lý Nhà
nước về giáo dục - đào tạo có thiết chế như sau.
được nâng cao.
Tổng chi ngân sách đầu tư cho giáo dục đào tạo không ngừng tăng lên cả ở trung ương
lẫn địa phương, tạo điều kiện cho xây dựng cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ làm công
tác giáo dục, năm 2000 đầu tư cho giáo dục trong tổng đầu tư ngân sách của nhà nước
là 15%,năm 2003 là 16% ,năm 2004 đầu tư cho giáo dục tăng 2,7 lần so với năm
1998.Đầu tư cho giáo dục không chỉ có nhà nước mà còn có nhiều nguồn khác “đầu tư
cho giáo dục và đào tạo tăng đáng kể.năm 2005 chi cho giáo dục và đào tạo chiếm
khoảng 18% tổng chi ngân sách nhà nước; đã huy động được nhiều nguồn vốn khác để
phát triển thông qua phát hành công trái giáo dục,đóng góp của dân cư, của doanh
nghiệp,vốn nước ngoài,cơ sở vật chất của ngành đã được tăng cường đặc biệt là ở
vùng núi,vùng đồng bào dân tộc thiểu số “.(2, tr 154).
Các hình thức giáo dục và đào tạo cũng ngày càng được mở rộng và đa dạng
hơn.Việc xã hội hoá giáo dục và đào tạo đã đạt được kết quả ban đầu,nhiêu trường dân
lập tư thục bậc học đại học ,trung học chuyên nghiệp, trung học phổ thông và dạy nghề
được thành lập.
Về quản lý co sự thống nhất trong cả nước,từ chính sách giáo khoa, thời gian của từng
cấp học.Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý không ngừng tăng cả về số lượng và chất
lượng.Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo thống nhất từ
trung ương đến địa phương.
Chỉ số phát triển con người (HDI) ở nước ta liên tục tăng. Năm 1992 mới đạt
0,539, xếp thư 120 trên thế giới thì năm 2001đạt 0,688, xếp thứ 108, vượt lên 12 bậc.
chỉ số phát triển giáo dục ở Việt Nam là 0,83 xếp thứ 86 trong 174 nước thế giới.
Trong khu vực Đông Nam á, Việt Nam chỉ thấp hơn so với Philippin và singapo.ngoài
ra Việt Nam còn cao hơn một số nước như Trung Quốc (0,78), Ai cập (0,59), ấn độ (
0,47), Pakistan (0,41).
Công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển giáo dục đã được toàn
ngành cũng như từng địa phương quan tâm chỉ đạo trong những năm gần đây . Cùng

minh. Cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung ,quy mô giáo dục chuyên nghiệp, nhất là
đào tạo công nhân kỹ thuật còn quá nhỏ ,phương thức đào tạo còn có những lạc hậu
điều này dẫn đến làm mất cân đối về cơ cấu trình độ trong đội ngũ lao động ở nhiều
ngành sản xuất, không đáp ứng được yêu cầu thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nước.
Những biểu hiện tiêu cực thiếu kỷ cương trong giáo dục - đào tạo vẫn có chiều
hướng gia tăng.Vấn đề công bằng trong giáo dục và đào tạo chưa được thực hiện tốt.
Con em gia đình nghèo còn gặp nhiều khó khăn khi học lên cao. Động cơ học tập của
một bộ phận sinh viên ,học sinh trung học chưa tốt, đặc biệt có những biểu hiện suy
thoái về đạo đức ,mờ nhạt về lý tưởng. đội ngũ giáo viên nhìn chung thiếu và không
đồng bộ về cơ cấu. Phương pháp giảng dạy còn cổ điển và lạc hậu,quản lý giáo dục
còn yếu kém,chưa tạo ra những hiệu lực cao trong điều hành cả ở vĩ mô và vi mô.
Cơ sở vật chất – kỹ thuật còn thiếu thốn và xuống cấp nghiêm trọng (trường,
lớp, thư viện và phòng thí nghiêm, trang thiết bị dạy học) cho học sinh, sinh viên thực
tập còn kém chất lượng gây lãng phí cho ngân sách giáo dục.
Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục chậm đổi mới và hoạt động kém hiệu quả gây
kho khăn cho cong tác quản lý giáo dục .Việc phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý
còn hạn chế.
Nguyên nhân của những yếu kém trên.
Nền giáo dục nước ta bị ảnh hưởng tiêu cực bởi cơ chế thị trường, việc thi hành
kỷ cương kỷ luật và pháp chế ngành còn chưa nghiêm.Bệnh chạy theo thành tịch, chủ
nghĩa hình thức còn năng nề, dẫn đến đánh giá sai lệch kết quả thực của giáo dục.
Công tác quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo còn yếu kém, bất cập và
chậm đổi mới. Nặng về kinh nghiêm, thiếu cơ sở lý luận và khoa học.
Sự lãnh dạo của đạo của tổ chứ đảng và chính quyền địa phương nhiều
lúc,nhiều nơi còn chưa sát sao và thiếu thường xuyên liên tục.bên cạnh đó có những
nơi lại can thiệp sâu lấn sân vào hoạt động chuyên môn cuả hoạt động giáo dục và đào

giáo dục;
8. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục;
9. Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học , công nghệ trong
lĩnh vực giáo dục;
10. Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;
11. Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối với
sự nghiệp giáo dục;
12. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu
nại, tố cáo và sử lý hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục.
Trên cơ sở nội dung quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo tại điều 99 của luật giáo
dục 2005 cho thấy nhà nước đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển giáo dục và
đào tào của quốc gia. Sự quản lý của nhà nước có thể khái quát thành một số nội dung
sau:
Nhà nước quản lý giáo dục và đào tạo thông qua ban hành và thực thi hệ thống
văn bản pháp luật gôm có:
Luật giáo dục và các văn bản dưới luật cụ thể hoá luật giáo dục.
Cơ cấu khung của hệ thống giáo dục:bậc học, thời gian đào tạo ,tuổi chuẩn vào
lớp đầu, điều kiện học lực,văn bằng tốt nghiệp…
Mạng lưới các trường, danh mục ngành nghề đào tạo, mục tiêu, chương trình,
thời gian đào tạo.
Tuyển sinh, quản lý học sinh, sinh viên, nghiên cưu sinh.
Tiêu chuẩn hoá các chức danh của bộ may giảng dạy,đồng thời định mức trang
thiết bị và cơ sở vật chất của các trường .
Xét duyệt, cho phép phát hành sách giáo khoa và các ấn phẩm giáo dục - đào
tạo.
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch ,chương trình phát triển giáo dục
như cải cách giáo dục;xoá mù chữ; phổ cập tiểu học; sắp xếp lại mạng lưới các

cứu của đề tài ,tác giả đưa ra những giải pháp riêng để nâng cao chất lượng quản lý nhà
nước về giáo dục - đào tạo.
3.2.1.Một số giải pháp chung để phát triển giáo dục - đào tạo
- Nâng cao chất lượng giáo dục -đào tạo toàn diện ,đổi mới nội dung ,phường pháp dạy
và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục ,đồng thời thực hiện “ chuẩn
hoá ,hiện đại xã hội hoá” giáo dục chuyển dần mô hình giáo dục hiên nay sang mô
hình giáo dục – mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời ,đào tạo liên tục,
liên thông giữa các bậc học ,ngành học ,xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho
mọi người và những hình thức học tập mới, linh hoạt hơn để đáp ứng nhu cầu thường
xuyên học tập ,tạo ra nhiều khả năng và cơ hội khác nhau cho người học ,bảo đảm sự
công bằng xã hội trong giáo dục .
- Chăm lo phát triển giáo dục mầm non mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường lớp
mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư ,đặc biệt là ở nông thôn và những vùng còn khó
khăn về kinh tế –xã hội .Chú trọng phát triển giáo dục phổ thông ,khắc phục tình trạng
quá tải thực hiện nghiêm túc chương trình giáo dục và sách giáo khoa phổ thông bảo
toàn tính khoa học cơ bản phù hợp với tâm lý lứa tuổi và điều kiện cụ thể của Việt
Nam.
- Bảo toàn đủ số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở tất cả các
bậc học, ngành học. Hoàn chỉnh mạng lưới các trường sư phạm và các khoa sư phạm
tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, phát huy tính tích cực, sáng tạo của
người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều đồng thời hoàn thiện hệ thống đánh giá
và kiểm định chất lượng giáo dục đi đối với việc cải tiến nội dung là việc đổi mới
phương pháp thi cử nhằm khắc phục những yếu kém và tiêu cực trong giáo dục - đào
tạo.
- Tăng ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo theo nhịp độ tăng trưởng kinh
tế, hiện đại hoá các trường dạy nghề tăng nhanh tỉ lệ lao động có trình độ đào tạo trong
toàn bộ lao động xã hội. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục và đào tạo xây

xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà nước. Do đó một nền gáo dục dù
phát triển hay chưa phát triển phụ thuộc rất nhiều vào vai trò quản lý của nhà nước. Để
thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo có hiệu quả cần thực hiện một số
giải pháp chủ yếu sau.
Một là: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý giáo dục và
đào tạo. Vì cán bộ quản lý giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành
các hoạt động giáo dục. Nhà nước cần có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục nhằm phát huy vai trò và trách nhiệm của của cán bộ
quản lý giáo dục,bảo đảm phát triển sự nghiệp giáo dục đồng thời các cán bộ quản lý
giáo dục phải không ngừng học tạp, rèn luyện nâng cao năng lực quản lý và trách
nhiệm cá nhân.
Hai là: Tăng cường công tác dự báo, quy hoạch và xây dựng kế hoạch định
hướng phát triển giáo dục-đào tạo trong chương trình tổng thể phát triển kinh tế-xã hội
của cả nước, của từng ngành và từng địa phương, có chính sách điều tiết quy mô và cơ
cấu giáo dục và đào tạo cho phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Khắc phục
tình trạng mất cân đối như hiện nay. Gắn xây dựng với sử dụng và xây dựng mối quan
hệ chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo với cơ quan quản lý
nhân lực và việc làm.
Ba là: Hoàn thiện tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý của nhà nước về giáo dục-
đào tạo từ trung ương đến địa phương(Tỉnh, Thành phố, Quận, Huyện). Thực hiện
phân cấp quản lý giáo dục một cách hợp lý giữa trung ương và địa phương nhằm bảo
đảm nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân và nâng cao tính chủ
động của các cơ sở giáo dục- đào tạo địa phương.Đồng thời bảo đảm tính tự chủ, tự
chịu trách nhiệm và thực sự mở rộng dân chủ cho tất cả các đơn vị.
Bốn là: Cùng với việc tăng cường đầu tư cho giáo dục và đáo tạo, nhà nước
phải có biện pháp phân bổ và quản lý ngân sách hợp lý và phù hợp với nhu cầu từng
địa phương, từng ngành học,bậc học đáp ứng nhu cầu ngân sách đầu tư cho giáo dục


C.KếT LUậN

Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là quản lý theo ngành do một cơ quan Trung
ương đại diện cho nhà nước là Bộ giáo dục và đào tạo thực hiện. Đó là việc xây dựng
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế và chính sách phát triển giáo dục- đào tạo của
đất nước và của thời đại cũng như tổ chức thực hiện thành công các vấn đề đó, nhằm
nâng cao không ngừng trình độ dân trí của dân và tạo cho đất nước một đội ngũ nhân
lực có trình độ cao, bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại
hoá đất nước.Vì vậy bất kể một quốc gia và vùng lãnh thổ nào cũng quan tâm phát
triển giáo dục và đào tao trong đó khâu đột phá là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
về giáo dục và đào tạo.
Quản lý giáo dục và đào tạo thể hiện vai trò rất quan trọng của nhà nước đối với sự
phát triển nền giáo dục của quốc gia.Để thực hiện tốt nội dung quản lý giáo dục và đào
tạo,vấn đề đặt ra là phải định rõ quyền hạn, trách nhiệm quản lý của Bộ giáo dục và
đào tạo, của các Bộ liên quan và của Uỷ ban Nhân dân Tỉnh, Thành phố, các Huyện,
Quận và cơ sở giáo dục về khâu quy hoạch, kế hoạch,tổ chức và cán bộ, tài chính,
thanh tra và kiểm tra.Mặt khác phải tổ chức tốt sự phối hơp giữa các cơ quan nhà
nước,mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, mọi gia đình và mọi
người cùng với ngành giáo dục và đào tạo chăm lo xây dựng sự nghiệp giáo dục- đào
tạo theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, xây dựng môi trường giáo
dục kết hợp nhà trường,gia đình và xã hội.
DANH MụC TàI LIệU THAM KHảO.


b. Nội dung 2
1. Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về giáo dục và
đào tạo 2
1.1. Một số khái niệm liên quan 2
1.2. Quan điểm, mục tiêu của Đảng, Nhà nước về giáo dục - đào tạo 3
1.3. Tính chất, đặc điểm và nguyên tắc quản lý Nhà nước về giáo dục -
đào tạo 4
1.4. Vai trò của giáo dục và đào tạo và ý nghĩa của quản lý Nhà nước về giáo dục - đào
tạo trong giai đoạn hiện nay 6
2. Thực trạng giáo dục và đào tạo và công tác quản lý Nhà nước về giáo dục - đào
tạo 8
2.1. Quá trình phát triển hệ thống quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo ở Việt
Nam 8
2.2. Thành tựu 10
2.3. Một số yếu kém cần khắc phục 12
3. nội dung và giải pháp quản lý Nhà nước về giáo dục - đào tạo cần quan tâm,
giải quyết 14
3.1. Nội dung quản lý Nhà nước về giáo dục - đào tạo 14
3.2. Giải pháp đổi mới quản lý Nhà nước về giáo dục - đào tạo trong giai đoạn hiện
nay 16
c. Kết luận 20
Danh mục tài liệu tham khảo 21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status