LUẬN VĂN: Quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay - Pdf 15



1 LUẬN VĂN:
Quản lý Nhà nước về giáo dục và
đào tạo ở nước ta trong giai đoạn
hiện nay
2


3

B.Nội dung
1.Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về
giáo dục và đào tạo
1.1.Một số khái niệm liên quan
- Quản lý là một khái niệm được xem xét ở hai góc độ :
+ Theo góc độ chính trị xã hội ,quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri
thức với lãnh đạo ,vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù hợp.
Cơ chế đúng hợp ý thì xã hội phát triển ,ngược lại cơ chế sai thì xã hội phát triển
chậm hoặc rối ren.
+ Theo góc độ hành động quản lý được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều
hành.
Theo C.Mác, quản lý, quản lý xã hội là chức năng được sinh ra từ tinh chất
xã hội hoá lao động . Người viết : “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao
động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn ,thì ít nhiều cũng đều cần
một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức
năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận
động của những khí quan độc lập của nó .Một người độc tấu vĩ cầm điều khiển
lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. [14, tr480].
+ Từ cơ sở lý luận trên, ta thấy quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình
xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp
với quy luật khách quan.
- Quản lý nhà nước:
+ Quản lý nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước là sự quản
lý của nhà nước đối với xã hội và công dân .
tạo trong phạm vi toàn xã hội để thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà nước.
Hay: Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là sự quản lý của các cơ
quan quyền lực nhà nước ,của bộ máy quản lý giáo dục từ trung ương đến cơ sở
đói với hệ thống giáo dục quốc dân và các hoạt động giáo dục của xã hội nhằm
nâng cao dân trí ,đào tạo nhân lực ,bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và hoàn thiện
nhân cách cho nhân dân .
1.2. Quan điểm, mục tiêu của Đảng, nhà nước về giáo dục và đào tạo
* Quan điểm : 6

+ Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực rất quan trọng của đời sống xã hội
,nó liên quan đến nhiều lĩnh vực khác cho nên Đảng và nhà nước ta rất chú trọng
phát triển giáo dục và đào tạo .Những năm qua quan điểm của Đảng và nhà nước
chủ yếu tập trung ở nghị quyết trung ương hai khoá VIII(nghị quyết chuyên đề về
giáo dục và đào tạo);kết luận của hội nghị lần thứ sáu ban chấp hành trung ương
Đảng khoá IX;nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng
khoá IX ;văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,X; luật giáo dục sửa đổi
thông qua ngay 14 tháng 6 năm 2005.
Qua các văn kiện này thể hiện một số quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục
và đào tạo như sau:
- Giáo dục và đào tạo nhằm vào xây dựng con người có đầy đủ phẩm chất
để xây dựng và bảo vệ đất nước.
- Giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong giáo dục và đào tạo ,nhất là
chính sách công bằng xã hội .
- Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, cùng với khoa học và công
nghệ, giáo dục và đào tạo là yếu tố quyết định góp phần tăng trưởng kinh tế và
phát triển xã hội .
- Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng , của Nhà nước và của

hoá giáo dục.
- Tính pháp quyền: quản lí Nhà nước là quản lí bằng pháp luật vì vậy quản lí
Nhà nước về giáo dục và đào tạo cũng phải tuân thủ những qui định chung của
pháp luật. 8

- Tính chuyên môn, nghiệp vụ: cán bộ –công chức hoạt động trong lĩnh vực
giáo dục và đào tạo cần được đào tạo có trình độ tương ứng với yêu cầu về tiêu
chuẩn các ngạch chức danh đã dược qui định.
- Tính hiệu lực, hiệu quả , lấy hiệu quả của hoạt động chuyên môn nghiệp vụ
để đánh giá cán bộ công chức ngành giáo dục và đào tạo.
* Đặc điểm của quản lí Nhà nước về giáo dục và đào tạo:
- Đặc điểm kết hợp quản lí hành chính và quản lí chuyên môn trong các hoạt
động quản lí giáo dục và đào tạo : quản lí Nhà nước về giáo dục và đào tạo ở cơ sở
thực chất là triển khai các hoạt động hành chính Nhà nước trong quá trình chỉ đạo các
hoạt động giáo dục ở cơ sở. Đặc điểm hành chính-giáo dục là đặc điểm quan trọng
nhất trong hoạt động quản lí Nhà nước về giáo dục và đào tạo. Chỉ trên cơ sở biết
kết hợp quản lí hành chính và quản lí chuyên môn thì mới có thể chỉ đạo tốt hoạt
động giáo dục và đào tạo.
- Đặc điểm về tính quyền lực Nhà nước trong hoạt động quản lí .Đây là hoạt
động nổi bật của quản lí Nhà nước và quản lí hành chính ở mọi lĩnh vực nói chung ,
đó là tính quyền lực trong hoạt động quản lí :tư cách pháp nhân trong quản lí, công cụ
và phương pháp quản lí và quan hệ thứ bậc trong quản lí.
- Đặc điểm kết hợp Nhà nước- xã hội trong quá trình triển khai quản lí Nhà
nước về giáo dục và đào tạo . Dân chủ hoá và xã hội hoá công tác giáo dục là một
tư tưởng có tính chiến lược và nó có vai trò rất to lớn trong sự phát triển giáo dục
nói chung và quản lí giáo dục nói riêng .
* Nguyên tắc của quản lí Nhà nước về giáo dục và đào tạo:

hệ thống văn bằng ( theo điều 13 , luật giáo dục) . Bên cạnh đó phân cấp rõ ràng
về quản lí giáo dục cho địa phương và tạo điều kiện để cơ sở phát huy chủ động
và sáng tạo . 10

1.4. Vai trò của giáo dục và đào tạo và ý nghĩa của quản lí Nhà nước
về giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
Giáo dục và đào tạo là lĩnh vực rất quan trọng của đời sống xã hội , nó góp
phần quyết định chất lượng cuộc sống của con người và sự phát triển của xã hội .
- Tổ chức UNESCO đã đề cập đến những yếu tố cốt lõi liên quan đến chất
lượng cuộc sống của con người trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của giáo
dục và đào tạo. Theo quan điểm này việc nâng cao phẩm chất con người chủ yếu
thông qua giáo dục - đào tạo , làm cho cá nhân có thể phát triển tối đa tiềm năng
của mình.
Giáo dục đào tạo nâng cao phẩm chất cho tong cá nhân , đồng thời làm cho
xã hội phát triển . Giáo dục và đào tạo là nguồn lực hàng đầu cho phát triển kinh
tế, vì lẽ giáo dục - đào tạo đem lại kiến thức khoa học , trình độ chuyên môn, kĩ
năng, kĩ xảo, đạo đức, tư cách, tinh thần trách nhiệm , kỷ luật lao động, óc tìm tòi,
sáng tạo…cho con người. Song muốn đạt được các yếu tố trên đòi hỏi phải có nền
giáo dục phát triển , mà muốn cho giáo dục phát triển thì yếu tố đầu tiên phải kể
đến là quản lí Nhà nước về giáo dục và đào tạo .
Việt Nam là đất nước có truyền thống giáo dục từ Cách mạng tháng 8 đến
nay, truyền thống đó ngày càng được vun đắp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có tầm
nhìn rất xa đối với giáo dục - đào tạo, coi đây là lĩnh vực quan trọng cho sự phát
triển . Người cho rằng “Vì lợi ích trăm năm phải trồng người” hay “ Một dân tộc
dốt là một dân tộc yếu”.
Ngày nay khoa học và công nghệ có những bước tiến xa so với nền khoa
học công nghệ truyền thống. Muốn nắm bắt được công nghệ mới , con người phải

đồng cố vấn học chính để giúp chính phủ nghiên cứu chương trình cải cách giáo
dục .Song do hoàn cảnh chiến tranh chống thực dân Pháp cho nên đến thang 7
năm 1950 Hội động chính phủ mới thông qua chương trình cảI cách giáo dục và
quyết định thực hiện cuộc cải cách này,với hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm.
- Cải cách giáo dục lần thứ hai :tháng 5 năm 1956 Chính phủ ban hành
chính sách giáo dục phổ thông của nước Việt Nam dan chủ cộng hoà.Hệ thống
giáo dục lúc này gồm :
Cấp I là 4 năm (gồm các lớp từ lớp 1 đến lớp 4, không kể lớp vỡ lòng);
Cấp II gồm 3 năm (từ lớp 5 đến lớp 7);
Cấp III gồm 3 năm (từ lớp 8 đến lớp 10).
- Cải cách giáo dục lần thứ ba:sau khi nước Việt Nam thống nhất, Bộ
chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 14(thang 1 năm 1969)
về việc tiến hạnh cải cách giáo dục nhăm thống nhất cả nước.Hệ thống giáo dục
phổ thông lúc này gồm 12 năm .
Cấp I là 5 năm (gồm các lớp từ lớp 1 đến lớp 5);
Cáp II là 4 năm (gồm các lớp từ lớp 6 đến lớp 9) ; 13

Cấp III là 3 năm (gồm các lớp từ lớp 10 đền lớp 12).Trường cấp III lúc này
là trường Phổ thông trung học.
Hiện nay, theo Luật giáo dục 2005, hệ thống giáo dục nước ta có cấu trúc
hoàn chỉnh như sau :
- Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ em
từ 3 tháng tuổi đền 6 tuổi.
- Giáo dục phổ thông gồm:
Giáo dục tiểu học được thục hiện trong năm năm học,từ lớp 1 đến lớp 5.
Tuổi của học sinh vào học lớp 1 là sau tuổi.
Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong 4 năm học, từ lớp 6 đến lớp

Trải qua một số lần cải cách và hoàn thiện, ngày nay hệ thống quản lý Nhà
nước về giáo dục - đào tạo có thiết chế như sau.
- Chính Phủ thống nhất quản lý nhà nước vế giáo dục và đào tạo. Chính
phủ trình trước Quốc hội trước khi quyết định nhưng chủ trương lớn có ảnh hưởng
đến quyền và nghĩa vụ học tập của người dân trong phạm vi cả nước.
Bộ giáo và đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiên quản lý nhà
nước về giáo dục và dào tạo.
Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục -đào tạo ở
địa phương theo quy định của chính phủ .ở cấp tỉnh có Sở giáo dục và đào tạo,ở
cấp huyên có phòng giáo dục (Sơ đồ 4 - Phụ lục).
2.2. Thành tựu 15

Trong những năm qua nước ta đã gặt hái được nhiều thành tưu trong lĩnh
vực giáo dục và đào tạo. Trong báo cáo của ngân hàng thế giới (WB) ,khi nghiên
cứu về tài chính cho giáo dục ở Việt Nam, đã viết: Việt Nam có một thanh tích
đầy ấn tượng, ngay cả khi so sánh với nhiều nền kinh tế khác, có mức thu nhập
cao hơn.
Thành tựu về giáo dục và đào tạo thể hiện trên một số mặt sau.
Quy mô giáo dục - đào tạo lớn và ngày càng mở rộng. Số học sinh trung
học chuyên nghiệp tăng 15,1%/năm và dạy nghề dài hạn tăng 12%/năm, sinh viên
đại học và cao đẳng tăng 8,4%/năm. Các trường sư phạm từ trung ương đến địa
phương tiếp tục được củng cố và phát triển. Chất lượng dạy nghề có chuyển biến
tích cực ,số trường đại học và cao đẳng liên tục tăng. Bước đầu đã hình thành hệ
thống dạy nghề cho lao động ở nông thôn ,thanh niên dân tộc thiểu số, người tàn
tật,gắn dạy nghề với tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo.
Mạng lưới giáo dục phát triển rộng khắp từ thành thị đến nông thôn. Các
cấp học tạo thành một hệ thông đầy đủ ,thống nhất trong cả nước .Từ giáo dục

Chỉ số phát triển con người (HDI) ở nước ta liên tục tăng. Năm 1992 mới
đạt 0,539, xếp thư 120 trên thế giới thì năm 2001đạt 0,688, xếp thứ 108, vượt lên
12 bậc. chỉ số phát triển giáo dục ở Việt Nam là 0,83 xếp thứ 86 trong 174 nước
thế giới. Trong khu vực Đông Nam á, Việt Nam chỉ thấp hơn so với Philippin và
singapo.ngoài ra Việt Nam còn cao hơn một số nước như Trung Quốc (0,78), Ai
cập (0,59), ấn độ ( 0,47), Pakistan (0,41).
Công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển giáo dục đã được toàn
ngành cũng như từng địa phương quan tâm chỉ đạo trong những năm gần đây .
Cùng với việc chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển phát triển giáo dục 2001-
2010 , kế hoạch phát triển giáo dục vùng đồng băng sông cửu long , vùng tây
nguyên, 6 tỉnh vùng cao nguyên biên giới , quy hoạch mạng lưới các trường cao
đẳng, đại học …nhiều địa phương cũng đã xây dựng được nhiều chiến lược quy
hoạch phát triển giáo dục, quy hoạch phát triển nhân lực. Các quy hoạch này đã có
tác dụng tốt trong việc định hướng phát triển,góp phần tạo căn cứ cho việc xây 17

dựng kế hoạch giáo dục 5 năm và hàng năm của các ngành , địa phương và cả
nước.
Có được những thanh tựu trên là do một số nguyên nhân chủ yếu sau:
Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng công tác giáo dục và đào tạo, coi đây là
quốc sách hàng đầu. Đảng ta cũng có những nghị quyết chuyên đề về giáo dục và
đạo tạo, nhà nước ta đã từng bước thể chế hoá thành các văn bản pháp lý về giáo
dục và đào tạo và đào tạo và đặc biệt đã ban hành luật giáo dục 1998 và luật giáo
dục 2005(sửa đổi), từ đó đi vào quản lý có hiệu quả .
Nguồn ngân sách đầu tư cho giáo dục không ngừng tăng ,luôn cao hơn các
lĩnh vực khác và đang có xu hướng đa dạng hoá các nguồn đầu tư, từ đó tạo điều
kiện cho cơ sở vật chất được cải thiện, số trường lớp ở các cấp học, bậc học không
ngừng tăng .

Cơ sở vật chất – kỹ thuật còn thiếu thốn và xuống cấp nghiêm trọng
(trường, lớp, thư viện và phòng thí nghiêm, trang thiết bị dạy học) cho học sinh,
sinh viên thực tập còn kém chất lượng gây lãng phí cho ngân sách giáo dục.
Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục chậm đổi mới và hoạt động kém hiệu quả
gây kho khăn cho cong tác quản lý giáo dục .Việc phối kết hợp giữa các cơ quan
quản lý còn hạn chế.
Nguyên nhân của những yếu kém trên.
Nền giáo dục nước ta bị ảnh hưởng tiêu cực bởi cơ chế thị trường, việc thi
hành kỷ cương kỷ luật và pháp chế ngành còn chưa nghiêm.Bệnh chạy theo thành
tịch, chủ nghĩa hình thức còn năng nề, dẫn đến đánh giá sai lệch kết quả thực của
giáo dục.
Công tác quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo còn yếu kém, bất cập và
chậm đổi mới. Nặng về kinh nghiêm, thiếu cơ sở lý luận và khoa học. 19

Sự lãnh dạo của đạo của tổ chứ đảng và chính quyền địa phương nhiều
lúc,nhiều nơi còn chưa sát sao và thiếu thường xuyên liên tục.bên cạnh đó có
những nơi lại can thiệp sâu lấn sân vào hoạt động chuyên môn cuả hoạt động giáo
dục và đào tạo gây cản trở công tác phát triển giáo dục.
Sự suy thoái về lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, giáo viên,
giảng viên cũng gây không ít khó khăn cho sự phát triển giáo dục vá đào tạo.
Như vậy cùng với những thành tưu thì nền giáo dục nước ta còn không ít
hạn chế cần khắc phục. Một trong nhũng nguyên nhân quan trong dẫn tới những
hạn chế đó là do sự quản lý của nhà nước về giáo dục đào tạo chưa hiệu quả. Do
vậy việc đưa ra nhũng giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục
và đào tạo là yếu khách quan.
10. Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;
11. Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối
với sự nghiệp giáo dục;
12. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết
khiếu nại, tố cáo và sử lý hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục.
Trên cơ sở nội dung quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo tại điều 99 của luật
giáo dục 2005 cho thấy nhà nước đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển
giáo dục và đào tào của quốc gia. Sự quản lý của nhà nước có thể khái quát thành
một số nội dung sau:
Nhà nước quản lý giáo dục và đào tạo thông qua ban hành và thực thi hệ
thống văn bản pháp luật gôm có:
Luật giáo dục và các văn bản dưới luật cụ thể hoá luật giáo dục.
Cơ cấu khung của hệ thống giáo dục:bậc học, thời gian đào tạo ,tuổi chuẩn
vào lớp đầu, điều kiện học lực,văn bằng tốt nghiệp…
Mạng lưới các trường, danh mục ngành nghề đào tạo, mục tiêu, chương
trình, thời gian đào tạo.
Tuyển sinh, quản lý học sinh, sinh viên, nghiên cưu sinh.
Tiêu chuẩn hoá các chức danh của bộ may giảng dạy,đồng thời định mức
trang thiết bị và cơ sở vật chất của các trường .
Xét duyệt, cho phép phát hành sách giáo khoa và các ấn phẩm giáo dục -
đào tạo.
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch ,chương trình phát triển giáo
dục như cải cách giáo dục;xoá mù chữ; phổ cập tiểu học; sắp xếp lại mạng lưới
các trường;giáo dục miền núi… 22

- Đầu tư cho giáo dục và đào tạo.Ngân sách quốc gia là nguồn cung cấp tài
chính chủ yếu để phát triển giáo dục và đào tạo. Nhà nước tìm các tăng tỷ trọng

3.2.1.Một số giải pháp chung để phát triển giáo dục - đào tạo
- Nâng cao chất lượng giáo dục -đào tạo toàn diện ,đổi mới nội dung
,phường pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục ,đồng
thời thực hiện “ chuẩn hoá ,hiện đại xã hội hoá” giáo dục chuyển dần mô hình
giáo dục hiên nay sang mô hình giáo dục – mô hình xã hội học tập với hệ thống
học tập suốt đời ,đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học ,ngành học ,xây
dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập
mới, linh hoạt hơn để đáp ứng nhu cầu thường xuyên học tập ,tạo ra nhiều khả
năng và cơ hội khác nhau cho người học ,bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo
dục .
- Chăm lo phát triển giáo dục mầm non mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường
lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư ,đặc biệt là ở nông thôn và những vùng còn
khó khăn về kinh tế –xã hội .Chú trọng phát triển giáo dục phổ thông ,khắc phục
tình trạng quá tải thực hiện nghiêm túc chương trình giáo dục và sách giáo khoa
phổ thông bảo toàn tính khoa học cơ bản phù hợp với tâm lý lứa tuổi và điều kiện
cụ thể của Việt Nam.
- Bảo toàn đủ số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở tất cả
các bậc học, ngành học. Hoàn chỉnh mạng lưới các trường sư phạm và các khoa sư
phạm tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, phát huy tính tích cực,
sáng tạo của người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều đồng thời hoàn thiện
hệ thống đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục đi đối với việc cải tiến nội
dung là việc đổi mới phương pháp thi cử nhằm khắc phục những yếu kém và tiêu
cực trong giáo dục - đào tạo.
- Tăng ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo theo nhịp độ tăng trưởng
kinh tế, hiện đại hoá các trường dạy nghề tăng nhanh tỉ lệ lao động có trình độ đào
tạo trong toàn bộ lao động xã hội. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục 24


Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là việc nhà nước thiết lập quyền
lực công để điều hành điều chỉnh toàn bộ hoạt động giáo dục- đào tạo trong phạm
vi toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà nước. Do đó một nền gáo
dục dù phát triển hay chưa phát triển phụ thuộc rất nhiều vào vai trò quản lý của
nhà nước. Để thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo có hiệu quả cần
thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau.
Một là: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý giáo dục
và đào tạo. Vì cán bộ quản lý giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý,
điều hành các hoạt động giáo dục. Nhà nước cần có kế hoạch xây dựng và nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục nhằm phát huy vai trò và trách
nhiệm của của cán bộ quản lý giáo dục,bảo đảm phát triển sự nghiệp giáo dục
đồng thời các cán bộ quản lý giáo dục phải không ngừng học tạp, rèn luyện nâng
cao năng lực quản lý và trách nhiệm cá nhân.
Hai là: Tăng cường công tác dự báo, quy hoạch và xây dựng kế hoạch định
hướng phát triển giáo dục-đào tạo trong chương trình tổng thể phát triển kinh tế-xã
hội của cả nước, của từng ngành và từng địa phương, có chính sách điều tiết quy
mô và cơ cấu giáo dục và đào tạo cho phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế-xã
hội. Khắc phục tình trạng mất cân đối như hiện nay. Gắn xây dựng với sử dụng và
xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào
tạo với cơ quan quản lý nhân lực và việc làm.
Ba là: Hoàn thiện tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý của nhà nước về giáo
dục-đào tạo từ trung ương đến địa phương(Tỉnh, Thành phố, Quận, Huyện). Thực
hiện phân cấp quản lý giáo dục một cách hợp lý giữa trung ương và địa phương
nhằm bảo đảm nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân và nâng
cao tính chủ động của các cơ sở giáo dục- đào tạo địa phương.Đồng thời bảo đảm
tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và thực sự mở rộng dân chủ cho tất cả các đơn vị.
Bốn là: Cùng với việc tăng cường đầu tư cho giáo dục và đáo tạo, nhà nước
phải có biện pháp phân bổ và quản lý ngân sách hợp lý và phù hợp với nhu cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status