Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bình Định hiện nay - Pdf 28

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý xã hội bằng pháp luật là phương thức quản lý cơ bản của hầu
hết các Nhà nước đương đại trên thế giới. Để quản lý xã hội, đòi hỏi mỗi
Nhà nước phải xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đáp ứng yêu
cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nhưng điều đó vẫn chưa đủ, vấn đề
quan trọng hơn là tổ chức thực hiện như thế nào để pháp luật đó đi vào
cuộc sống thực tiễn, để những quy định của Nhà nước được thực thi trong
thực tế nhằm ổn định và phát triển xã hội theo định hướng của giai cấp cầm
quyền.
Ở nước ta trong công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt
Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những
mặt hạn chế, yếu kém: Việc triển khai thực hiện đường lối, chủ trương của
Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa tốt; kỷ luật, kỷ cương
chưa nghiêm, tình trạng thiếu hiểu biết pháp luật, coi thường pháp luật, vi
phạm pháp luật... là một trong những nguyên nhân dẫn đến những khuyết
điểm, yếu kém trong thời gian qua. Do đó, việc đề cao pháp luật, tôn trọng
tính tối cao của pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm
cho pháp luật được thực hiện nghiêm túc là một yêu cầu cấp thiết trong giai
đoạn hiện nay.
Giáo dục và đào tạo là nền tảng phát triển của mọi quốc gia. Trong
thời kỳ đổi mới đất nước, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta đã có
những mặt tiến bộ, nhất là từ khi có Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII)
và Luật Giáo dục (năm 1998) đã thực sự coi phát triển sự nghiệp giáo dục
và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư
cho phát triển, cho nên hệ thống giáo dục quốc dân đã được xây dựng ngày
2
càng hoàn chỉnh, góp phần vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ

Ở nước ta trong những năm gần đây, vấn đề thực hiện pháp luật đang
được đặt ra và là nhiệm vụ cấp bách của các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ
chức xã hội và mọi công dân. Thực hiện pháp luật trên một số lĩnh vực đã
có những công trình nghiên cứu như:
- “Thực hiện pháp luật trong hoạt động của lực lượng Công an nhân
dân để bảo vệ trật tự, an toàn xã hội ở nước ta hiện nay ”, Luận án phó tiến
sĩ Luật học của Đỗ Tiến Triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
năm 1996.
- “Thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở ở tỉnh Bình Thuận hiện
nay - Thực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sĩ Luật học của Lê Trung
Quân, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2004.
Riêng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đã có rất nhiều công trình
khoa học nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau như:
- “Tiếp tục đổi mới và phát triển giáo dục-đào tạo theo tinh thần
Nghị quyết Đại hội IX ”, của GS.VS. Phạm Minh Hạc, Tạp chí Giáo dục số
10, tháng 8-2001.
- “Ngành giáo dục-đào tạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa
VIII) và triển khai Nghị quyết Đại hội IX ” của Nguyễn Minh Hiển, Tạp chí
Cộng sản số 22, tháng 8-2002.
- “Khái niệm giáo dục và vai trò quan trọng của giáo dục qua các thời
kỳ lịch sử ” của Nguyễn Đăng Tiến, Tạp chí Giáo dục, số 36, tháng 8-2002.
- “Nỗ lực phấn đấu toàn diện làm cho giáo dục thực sự là quốc sách
hàng đầu ” của Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí Giáo dục, số 38, tháng 9-2002.
4
- “Tổ chức thực hiện chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 ” của
Tiến sĩ Phạm Văn Kha, Tạp chí Giáo dục, số 53, tháng 3-2003.
- “Một số vấn đề cơ bản cần quan tâm khi triển khai đổi mới giáo dục
bậc tiểu học ” của Đặng Huỳnh Mai, Tạp chí Giáo dục, số 54, tháng 3/2003.
- “Nhận diện một số khó khăn trong quản lý nhà nước đối với giáo
dục nước ta hiện nay ” của PGS.TS. Đặng Quốc Bảo, Tạp chí Giáo dục số

dục và đào tạo vào cuộc sống thực tiễn, là biện pháp cơ bản để thực hiện
mục tiêu giáo dục và đào tạo mà Đảng và Nhà nước đề ra, góp phần phòng
ngừa, hạn chế các vi phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bình
Định.
- Luận cứ sự cần thiết phải đảm bảo vấn đề thực hiện pháp luật về
giáo dục và đào tạo trong phạm vi cả nước nói chung và ở tỉnh Bình Định
nói riêng trong giai đoạn hiện nay.
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở
tỉnh Bình Định bao gồm cả những mặt đã làm được, những mặt chưa làm
được, xác định nguyên nhân của những kết quả đạt được và những hạn chế,
thiếu sót, rút ra những kinh nghiệm.
- Trên cơ sở thực trạng thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở
tỉnh Bình Định, cùng với những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước,
luận văn bước đầu xây dựng các giải pháp nhằm góp phần bảo đảm thực
hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bình Định.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo là vấn đề rộng và được
thông qua các hình thức: tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng
pháp luật và áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo. Nhưng chủ yếu vẫn
là hình thức thi hành (chấp hành) pháp luật và áp dụng pháp luật, do đó thi
6
hành pháp luật và áp dụng pháp luật được xác định là đối tượng nghiên cứu
chính của luận văn.
Phạm vi vấn đề nghiên cứu chủ yếu tập trung làm rõ việc thực hiện
pháp luật về giáo dục và đào tạo về các nội dung: Tổ chức, hoạt động và
quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo.
Trọng tâm của luận văn giới hạn nghiên cứu tình hình từ khi Nhà
nước ban hành Luật Giáo dục (năm 1998) cho đến trước khi Quốc hội
thông qua Luật Giáo dục (sửa đổi, bổ sung). Giới hạn không gian nghiên
cứu ở tỉnh Bình Định.

hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo trong việc phát huy tính tích cực, chủ
động trong thực hiện pháp luật, phòng ngừa và giảm thiểu các vi phạm
pháp luật, để phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số
vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo, do đó làm
phong phú thêm lý luận chung về Nhà nước và pháp luật. Luận văn có thể
là tài liệu tham khảo cho cấp ủy và chính quyền của tỉnh Bình Định trong
việc xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động trong lĩnh vực giáo
dục và đào tạo. Luận văn cũng có thể là tài liệu tham khảo của Sở Giáo
dục-Đào tạo của tỉnh trong việc nghiên cứu và chỉ đạo các hoạt động về
giáo dục-đào tạo trong phạm vi tỉnh Bình Định.
8. Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.
8 9
Chơng 1
Cơ sở lý luận của vấn đề thực hiện pháp luật và thực
hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo

1.1. Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật
Để quản lý xã hội, quản lý nhà nớc, các Nhà nớc luôn quan tâm xây
dựng những quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm đảm
bảo lợi ích của nhân dân, lợi ích của Nhà nớc. Mục đích đó chỉ có thể đạt
đợc khi mà các chủ thể tự giác thực hiện một cách nghiêm chỉnh những quy
định của pháp luật. Pháp luật với ý nghĩa quan trọng của nó không chỉ dừng
lại bằng các đạo luật mà vấn đề vô cùng quan trọng là Pháp luật phải trở

pháp luật [39, tr.344].
Chúng ta thấy rằng, các định nghĩa trên đều có quan niệm tơng đối
đồng nhất về những nội dung cơ bản, đó là: Thực hiện pháp luật là hoạt động
có mục đích nhằm thực hiện những yêu cầu của pháp luật, thực hiện pháp luật
là hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật làm cho những quy
định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống. Tuy nhiên, cũng có sự
khác nhau trong các định nghĩa trên. Có định nghĩa nêu thực hiện pháp luật là
một quá trình hoạt động, các định nghĩa khác lại chỉ nêu thực hiện pháp luật là
hiện tợng, quá trình .
Theo chúng tôi, hiện tợng, quá trình hay quá trình hoạt động đều là
những phạm trù có nội hàm riêng của nó nhng có cùng mục đích là thực hiện
những quy định của pháp luật, làm cho những quy định ấy trở thành những
hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật, đáp ứng yêu cầu đặt ra của
pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, hoạt động thực
hiện pháp luật không chỉ là những hành vi đơn lẻ, độc lập, cắt khúc mà nó
luôn luôn là một quá trình. Vì vậy, về khái niệm thực hiện pháp luật chúng tôi
đồng ý với nội dung cơ bản trong các định nghĩa nêu trên và sắp xếp lại nh
sau:
11
Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các
qui định của pháp luật trở thành những hoạt động thực tế, hợp pháp của các
chủ thể pháp luật và đợc thực hiện trong thực tế cuộc sống
1.1.2. Hình thức thực hiện pháp luật
Các qui phạm pháp luật rất phong phú, đồng thời chúng cũng xác định
quyền, nghĩa vụ thực hiện đối với các chủ thể khác nhau, vì thế hình thức thực
hiện chúng cũng rất đa dạng. Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện
pháp luật, theo tài liệu học tập và nghiên cứu môn học Lý luận chung về Nhà
nớc và pháp luật (tập1) của Khoa Nhà nớc và pháp luật thuộc Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình Lý luận chung về Nhà nớc và
pháp luật của Khoa Luật của Trờng Đại học Tổng hợp Hà Nội và Giáo trình

chủ thể thực hiện pháp luật thực hiện các qui định của pháp luật có sự can
thiệp của Nhà nớc. Ví dụ: Nhà nớc qui định cá nhân, tổ chức kinh doanh
những ngành, nghề mà theo qui định của pháp luật phải nộp thuế thì phải có
nghĩa vụ nộp thuế. Nếu cá nhân, tổ chức kinh doanh đó không thực hiện nghĩa
vụ nộp thuế của mình, thì Nhà nớc thông qua các cơ quan nhà nớc hoặc nhà
chức trách có thẩm quyền sẽ áp dụng pháp luật, ra quyết định cỡng chế bắt
buộc cá nhân, tổ chức đó phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình.
Nh vậy, thì thực hiện pháp luật đợc thực hiện thông qua bốn hình
thức: tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng
pháp luật. Tuy nhiên, hình thức áp dụng pháp luật có sự khác biệt với các hình
thức tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật. Sự khác biệt
này thể hiện ở chỗ, nếu nh tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng
pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể thực hiện pháp luật đều có thể
thực hiện thì áp dụng pháp luật là hình thức luôn luôn có sự tham gia của Nhà
nớc, thông qua các cơ quan nhà nớc hoặc nhà chức trách có thẩm quyền.
1.1.3. Vị trí, vai trò của thực hiện pháp luật
Một yêu cầu quan trọng đặt ra đối với việc xây dựng pháp luật của Nhà
nớc ta là pháp luật phải là cơ sở của việc tổ chức và hoạt động của Nhà nớc,
13
pháp luật phải là công cụ gìn giữ trật tự, kỷ cơng xã hội, pháp luật là phơng
tiện xử sự của mọi công dân. Đờng lối, quan điểm của Đảng, chủ trơng,
chính sách của Nhà nớc, nhu cầu khách quan của xã hội phải đợc phản ánh
thông qua hệ thống pháp luật.
Quản lý xã hội bằng pháp luật nhng vấn đề cơ bản không chỉ Nhà
nớc xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đầy đủ, mà điều quan
trọng hơn cả là pháp luật của Nhà nớc phải đợc mọi thành viên trong xã hội
tôn trọng và chấp hành một cách nghiêm chỉnh và triệt để, pháp luật phải đi
vào cuộc sống, phải biến thành hành động của mọi công dân, mọi tổ chức
trong xã hội.
Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đầy đủ cũng cha đủ vì pháp

luật là hoạt động đa pháp luật vào cuộc sống, biến những qui phạm pháp luật
thành những hành vi, xử sự thực tế, hợp pháp của cá nhân, tập thể trong thực
tiễn xã hội. Nếu không có tổ chức tốt việc thực hiện pháp luật thì ý chí của
Nhà nớc sẽ không đi vào đời sống thực tiễn, pháp luật sẽ không phát huy
đợc hiệu lực, sẽ không đạt hiệu quả trong điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Vị trí, vai trò của thực hiện pháp luật không chỉ thể hiện trong toàn bộ
các hoạt động về pháp luật (xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật bảo vệ
pháp luật) mà nó còn là một mặt quan trọng của nền pháp chế [22, tr.515].
Kết quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật là một trong những tiêu chuẩn để
xác định tính chất của nền pháp chế xã hội chủ nghĩa. Bởi vì pháp chế là một
phạm trù thể hiện những yêu cầu và sự đòi hỏi đối với các chủ thể pháp luật
phải tôn trọng và triệt để thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội. Sự thực
hiện pháp luật là trung tâm của pháp chế.
Xét trong mối quan hệ giữa pháp luật và thực hiện pháp luật, Lênin cho
rằng dù pháp luật có tốt đến đâu thì đó cũng chỉ là khả năng quản lý, khả năng
đấu tranh. Để biến khả năng đó thành hiện thực cuộc sống nhất thiết phải biết
15
sử dụng khả năng đó nh là phơng tiện tổ chức quần chúng thì mới thắng
đợc trật tự xã hội cũ cũng nh mọi biểu hiện vô chính phủ.
Pháp luật Xô - viết rất tốt vì những pháp luật này đã đem lại
cho mọi ngời cái khả năng đấu tranh chống bệnh quan liêu và lề
mề....Thế nhng có ai sử dụng khả năng đó không? Hầu nh không
có một ai ! Không những nông dân, chính cả một số rất lớn đảng
viên cộng sản cũng không biết dùng pháp luật Xô - viết để đấu tranh
chống bệnh lề mề và bệnh quan liêu... [56, tr.214].
Thật vậy, nếu nh không có sự tôn trọng và thực hiện pháp luật một
cách nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác của các chủ thể pháp luật thì sẽ không
có pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nớc do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi
xớng và lãnh đạo, việc xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của

Năm 1866, trong "Chỉ thị về các vấn đề gửi tới các đại biểu Ban Chấp
hành Trung ơng lâm thời", Các Mác đã viết:
Chúng tôi hiểu giáo dục là gồm ba việc sau đây: Một là: trí
dục. Hai là: thể dục - giống nh những điều ngời ta dạy ở các
trờng thể dục và trong luyện tập quân sự. Ba là: dạy kỹ thuật bách
khoa, việc dạy kỹ thuật bách khoa này làm cho các em biết những
nguyên tắc cơ bản của tất cả mọi quá trình sản xuất, đồng thời làm
cho trẻ em và thiếu niên có đợc những kỹ năng sử dụng những
công cụ đơn giản nhất của tất cả các ngành sản xuất [43, tr.22-23].
Từ thế kỷ XX, sự biến đổi về kinh tế - xã hội và sự phát triển mau lẹ về
khoa học kỹ thuật, khái niệm giáo dục đợc nhận thức ngày một sâu sắc hơn,
đầy đủ hơn. Trong sách "Giáo dục học" của Ilina, nhà giáo dục học Xô - viết,
khái niệm giáo dục đợc định nghĩa nh sau: ... giáo dục là một quá trình
17
truyền thụ kinh nghiệm lịch sử - xã hội cho các thế hệ mới nhằm chuẩn bị cho
họ bớc vào cuộc sống xã hội và bớc vào lao động sản xuất [42, tr.6].
ở nớc ta, cố giáo s Hà Thế Ngữ đã nêu ra một định nghĩa nh sau:
Giáo dục là quá trình đào tạo con ngời một cách có mục đích, nhằm chuẩn
bị cho con ngời tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, bằng
cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử-xã hội của
loài ngời [69, tr. 32].
Trong luận văn thạc sĩ Luật của Lê Thị Kim Dung (năm 2004) có nêu:
Giáo dục là hoạt động có mục đích, có chơng trình, tác dộng
vào con ngời thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm
truyền thụ tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỷ năng và lối sống,
chuẩn bị cho đối tợng của giáo dục tham gia lao động, đi vào đời
sống xã hội và nâng cao chất lợng cuộc sống. Giáo dục là hoạt
động tất yếu của phát triển xã hội loài ngời, là một bộ phận cơ bản
của quá trình tái sản xuất mở rộng lao động xã hội. Theo khái niệm
rộng, giáo dục bao gồm cả đào tạo, cung cấp các nguồn nhân lực

trung học phổ thông...Vấn đề phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã và
đang đợc toàn xã hội quan tâm. Đảng và Nhà nớc ta đang tập trung và u
tiên hơn trong việc đầu t đối với các vùng khó khăn và thu đợc một số kết
quả, thể hiện tính u việt của chế độ ta trong giáo dục.
Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định
mục tiêu tổng quát của chiến lợc phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010 là đa
đất nớc ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất,
văn hoá và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nớc ta cơ
bản trở thành một nớc công nghiệp theo hớng hiện đại con đờng công
nghiệp hoá-hiện đại hoá của nớc ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với
các nớc đi trớc, vừa có những bớc tuần tự, vừa có những bớc nhảy vọt...
[26, tr.159]. Để đạt đợc các mục tiêu nói trên, giáo dục-đào tạo và khoa học-
19
công nghệ có vai trò quyết định, là nhu cầu bức thiết của đất nớc ta trong giai
đoạn hiện nay.
Chiến lợc phát triển giáo dục 2001-2010 xác định mục tiêu, giải pháp
và các bớc đi theo phơng châm đa dạng hoá, chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội
hoá, xây dựng một nền giáo dục có tính chất thực tiễn và hiệu quả, tạo bớc
chuyển biến mạnh mẽ về chất lợng, đa nền giáo dục nớc ta sớm tiến kịp
các nớc phát triển trong khu vực và trên thế giới, nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực và bồi dỡng nhân tài, góp phần đắc lực thực hiện mục tiêu của chiến
lợc phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2001-2010.
Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nớc ta là phát triển kinh tế đi
đôi với thúc đẩy tiến bộ xã hội. Ngay từ đầu thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà
nớc ta đã kịp thời đổi mới t duy và cách làm giáo dục, đề ra những chủ
trơng chuyển đổi hệ thống giáo dục quốc dân từ mục tiêu phục vụ nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc, theo định hớng xã
hội chủ nghĩa. Từ quan điểm, đờng lối của Đảng về giáo dục và đào tạo, Nhà
nớc ta đã thể chế hóa thành các văn bản pháp luật để tổ chức thực hiện trong

nghệ, có đủ sức mạnh để cạnh tranh trong quá trình phân công lao động quốc
tế. Phát triển giáo dục và đào tạo là biện pháp tốt nhất để phát huy và làm
trờng tồn những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc và làm phong phú thêm
những tinh hoa văn hoá của nhân loại.
Giáo dục và đào tạo là một trong ba lĩnh vực then chốt cần đột phá để
làm chuyển biến tình hình kinh tế-xã hội, tạo bớc chuyển mạnh để phát triển
nguồn nhân lực. Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định: Phát triển giáo dục và
đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện phát huy nguồn lực con ngời-yếu tố cơ
21
bản để phát triển xã hội, tăng trởng kinh tế nhanh và bền vững. Trên cơ sở
đó, Đại hội IX chủ trơng giải quyết dứt điểm những vấn đề bức xúc trong
giáo dục-đào tạo, tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục-
đào tạo; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, tiếp tục nâng cao chất
lọng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phơng pháp dạy và học, hệ
thống trờng lớp, công tác quản lý giáo dục và đào tạo; chăm lo phát triển
giáo dục mần non; củng cố thành tựu xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu
học; đẩy nhanh tiến độ phổ cập trung học cơ sở; coi trọng và đẩy mạnh giáo
dục hớng nghiệp và phân luồng sau trung học cơ sở, tăng nhanh tỉ lệ lao
động đợc đào tạo trong toàn bộ lao động xã hội; mở rộng hợp lý qui mô và
làm chuyển biến rõ nét về chất lợng và hiệu quả giáo dục đại học; đẩy mạnh
xã hội hoá, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo, tạo điều
kiện cho mọi ngời ở mọi lứa tuổi đợc học tập thờng xuyên, học tập suốt
đời, xây dựng một xã hội học tập.
Những quan điểm, chủ trơng của Đảng về giáo dục và đào tạo nêu trên
đã đợc thể chế hóa trong pháp luật về giáo dục-đào tạo và để đi vào cuộc
sống, đợc thực hiện trên thực tế phải làm tốt công tác thực hiện pháp luật. Vì
thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo là thực hiện pháp luật trong một
lĩnh vực cụ thể-lĩnh vực giáo dục và đào tạo cho nên khái niệm thực hiện pháp
luật về giáo dục và đào tạo cũng có đầy đủ các nội dung cơ bản của khái niệm

đối với mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, bảo đảm tính quyền lực của Nhà
nứơc đợc thực thi trong đời sống thực tiễn.
Lĩnh vực giáo dục và đào tạo có ảnh hởng sâu rộng trong đời sống xã
hội. Pháp luật về giáo dục và đào tạo có tác dụng điều chỉnh mọi hành vi của
các chủ thể và bắt buộc các chủ thể có trách nhiệm thực hiện nó. Do đó,pháp
luật về giáo dục và đào tạo còn mang tính xã hội rộng lớn.
23
- Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc xuyên suốt của thực hiện
pháp luật về giáo dục và đào tạo. Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ
đặc biệt của đời sống chính trị-xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nớc, tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nớc, nhân viên của các tổ chức xã
hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách
nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác. Vì lẽ đó nên việc tổ chức và hoạt động
của bộ máy quản lý nhà nớc về giáo dục và đào tạo, tổ chức và hoạt động của
các đơn vị, cơ sở giáo dục phải tuân theo những qui định của pháp luật. Mọi
công dân xử sự với nhau theo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, phải tôn
trọng pháp luật một cách triệt để, phải xử sự đúng theo yêu cầu của pháp luật
nói chung và pháp luật về giáo dục và đào tạo nói riêng. Nguyên tắc này còn
đòi hỏi mọi công dân có trách nhiệm tham gia vào quản lý các công việc của
Nhà nớc bằng các hình thức kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan
quản lý nhà nớc, cơ quan quản lý về giáo dục và đào tạo, cũng nh các cơ sở
giáo dục và đào tạo khác.
- Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo có phạm vi rộng lớn và
chủ thể thực hiện rất đa dạng và phong phú. Mọi tổ chức và cá nhân trong xã
hội đều quan tâm đến giáo dục và đào tạo và chịu sự tác động của pháp luật về
giáo dục và đào tạo. Mặt khác những qui định của pháp luật về giáo dục và
đào tạo đều nhằm phục vụ lợi ích thiết thân của công dân, vì thế, nói chung,
pháp luật về giáo dục và đào tạo đợc các chủ thể pháp luật tự giác thực hiện.
Bên cạnh đó, nó cũng đợc các cấp, các ngành, mọi tổ chức tích cực, chủ động
tham gia chỉ đạo, quản lý, điều hành làm cho giáo dục và đào tạo phát triển theo

1.2.3.1.Hình thức thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo
Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực của đời sống xã hội. Hình thức của
thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo cũng có những nét chung của các
hình thức thực hiện pháp luật, đó là:
25
Tuân theo (tuân thủ) pháp luật về giáo dục và đào tạo là hình thức thực
hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế
không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm. Ví dụ: Điều 63a
Luật Giáo dục năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2005) qui định: Nhà giáo
không đợc có hành vi ảnh hởng xấu đến phẩm chất và nghề nghiệp của nhà
giáo; xúc phạm danh dự, phẩm chất, xâm phạm đến thân thể của ngời học;
gian lận trong tuyển sinh, thi cử và cố ý đánh giá sai kết quả học tập và rèn
luyện của ngời học... [53, tr.43]. Nh vậy đối với nhà giáo phải có trách
nhiệm tuân thủ những qui định trên là đã tuân thủ pháp luật về giáo dục và đào
tạo.
Thi hành (chấp hành) pháp luật về giáo dục và đào tạo là một hình
thức thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo, trong đó các chủ thể pháp luật
thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực. Ví dụ: Điều 74
Luật Giáo dục năm 1998 qui định:
Ngời học có các nhiệm vụ sau đây:
1. Thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chơng trình kế
hoạch giáo dục của nhà trờng, cơ sở giáo dục khác;
2. Kính trọng nhà giáo, cán bộ quản lý, công nhân, nhân viên
của nhà trờng, cơ sở giáo dục khác, tuân thủ pháp luật của nhà
nớc; thực hiện nội qui, điều lệ nhà trờng;
3. Tham gia lao động và hoạt động xã hội phù hợp với lứa tuổi,
sức khoẻ và năng lực;
4. Giữ gìn, bảo vệ tài sản của nhà trờng, cơ sở giáo dục khác;
5. Góp phần xây dựng, bảo vệ phát huy truyền thống của nhà
trờng, cơ sở giáo dục khác [53, tr.46].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status