Cơ chế hiện tại về quản lý rủi ro và bảo trợ xã hội ở Việt Nam potx - Pdf 15

23
Nhóm hành động chống đói nghèo: Giảm nguy cơ bị tổn thơng và thực hiện công tác bảo trợ xã hội
Cơ chế hiện tại về quản lý rủi ro và bảo trợ xã hội ở Việt Nam
chơng trình XĐGN quốc gia làm hạn chế giá trị
của các chơng trình thành phần đối với ngời
nghèo và dễ bị tổn thơng (xem phần dới)
37
. Đặc
biệt, cần phải làm cho chơng trình XĐGN quốc
gia có qui mô thực sự rộng lớn: hiện tại, mặc dù có
nhiều chơng trình thành phần, nhng phần lớn các
quỹ XĐGN đợc dùng để cấp tín dụng và phát triển
cơ sở hạ tầng. Không may thay, có rất ít phân tích
về hiệu quả của các chơng trình XĐGN để từ đó
đa ra các kết luận xác định yếu tố nào thành công
cần phải mở rộng và tái tạo và yếu tố nào không
thành công, cần điều chỉnh một cách bền vững. Một
trờng hợp minh họa cho luận điểm này là Qũy
Xúc tiến Việc làm Quốc gia (QXTVL). Cơ sở của
các ý kiến đóng góp thờng xuyên về sự thành công
của chơng trình này - giả định mỗi khoản vay tạo
ra một việc làm - là quá đơn giản. Một khoản ngân
sách đáng kể đã đợc chi cho chơng trình này
(1.165 tỷ đồng trong các năm 1992-1999) do vậy,
rất cần thiết phải đánh giá định kỳ để kiểm tra hiệu
quả chi phí của các thành tựu đạt đợc
38
. Chính phủ
gần đây đã cam kết tiến hành đánh giá các chơng
trình này
39

mức lãi suất trợ cấp cho các khoản vay làm cho ngân
hàng khó đa ra một mức lãi suất hấp dẫn cho tiền
gửi. Một số cam kết gần đây của Chính phủ cho
thấy môi trờng tài chính vi mô có thể đợc cải
thiện trong trung hạn
41
.
Phòng chống, giảm bớt và đối phó với tai họa
Đặc biệt ở một số vùng nh duyên hải miền trung
và đồng bằng sông Cửu Long, nơi thiên tai thờng
xuyên xảy ra, thì các biện pháp phòng chống và đối
phó với tai họa (ở cấp địa phơng và ở mức tự hỗ trợ
tập thể của các cộng đồng chịu ảnh hởng của lũ
Khung 6: Các chơng trình thành phần của
Chơng trình XĐGN quốc gia
Định canh định c, tái định c và các khu kinh
tế mới (Bộ NNPTNT)
Phát triển cơ sở hạ tầng ở các xã nghèo và tái
định c (UBDTMN)
Khuyến khích sản xuất nông nghiệp và phi
nông nghiệp (Bộ NNPTNT)
Dịch vụ khuyến nông, lâm ng nghiệp (Bộ
NNPTNT) và tạo thu nhập (Bộ LĐTBXH)
Đào tạo cán bộ cho chơng trình XĐGN (Bộ
LĐTBXH và UBDTMN)
Hỗ trợ cho hộ gia đình dân tộc thiểu số có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (UBDTMN)
Tín dụng và tiết kiệm cho ngời nghèo (Ngân
hàng phục vụ ngời nghèo)
Giáo dục cho ngời nghèo (Bộ GDĐT) Y tế

mỗi cách đều có thuận lợi và khó khăn của nó. Nộp
phí bảo hiểm theo phơng thức tự nguyện thông
qua hệ thống thuế có lợi thế là cục thuế đã có các
thông tin về diện tích và việc sử dụng đất; nhng vì
là công việc thêm vào công việc chính của họ nên
cán bộ thu thuế phải làm việc quá sức, và thu gộp
phí bảo hiểm với thuế làm cho ngời nông dân
không muốn nộp. Nộp phí bảo hiểm thông qua
ngân hàng tơng đối dễ dàng, nhng lại rất hạn
chế đối với những vùng (đặc biệt là đồng bằng sông
Cửu Long) nơi mà đại đa số nông dân đều vay tiền
của ngân hàng. Nộp phí bảo hiểm trực tiếp cho các
đại lý của công ty bảo hiểm lại phải chịu chi phí cao
(do chi phí đi lại) và hiệu quả thấp, và Bảo Việt vẫn
cha có đủ nhân viên có trình độ để lãnh trách
nhiệm phục vụ phức tạp này. Các cộng đồng thảo
luận về quản lý rủi ro trong bối cảnh cuộc sống ở
nông thôn tha thiết muốn có các công cụ bảo hiểm
có thể giúp họ đối phó với vụ mùa thất bát tốt hơn.
Sự thu hút cũng bị hạn chế: năm 2000, có 315.200
hộ gia đình nông dân và 206.000 hécta (3,4%) trong
số 6 triệu hécta đợc canh tác ở Việt Nam đợc
mua bảo hiểm. Sự đánh giá không chính xác và sự
hợp tác mỏng manh giữa Bảo Việt và chính quyền
địa phơng dẫn đến sự không hiệu quả
42
.
Các điều tiết thị trờng lao động (kể cả lao động trẻ em)
Việt Nam đã đề ra các mục tiêu kỳ vọng về tăng
trởng công nghiệp. Để theo đuổi các mục tiêu này,

cho công nhân có tay nghề thấp. Mức lơng ở các
công ty nớc ngoài cao hơn nhiều, khoảng từ 78%
đến 89% mức lơng trung bình ở khu vực t nhân.
Việc bắt buộc áp dụng mức tiền công tối thiều cũng
không chặt chẽ, nhng hầu hết các công ty có vốn
đầu t nớc ngoài đợc điều tra đều có vẻ tuân theo
qui tắc lao động. Về lý thuyết, những yêu cầu này
có thể ảnh hởng tiêu cực đến lợi thế cạnh tranh và
việc làm của Việt Nam. Trong thực tế, một nghiên
cứu năm 2000 đã kết luận rằng Tuy nhiên, có một
số ít nhà đầu t tỏ ra có phàn nàn về chi phí lao
động [mà] chi phí lao động chỉ là một phần của
cái xác định tính cạnh tranh. Có vẻ nh có nhiều
khả năng để thực hiện những cải cách tiết kiệm chi
phí hơn là những cải cách dẫn đến giảm sức mua
của công nhân tiền công lao động ở Việt Nam
vẫn rất thấp và hấp dẫn so với các tiêu chuẩn quốc
tế
44
. Các qui tắc lao động ở khu vực đầu t nớc
ngoài do đó dờng nh tạo ra một mức sàn hiệu quả
42
Trong 5 năm qua, chi phí cho bảo hiểm vụ mùa (14,4 tỷ đồng) vợt quá mức thu (13,05 tỷ đồng): Silver 2001
43
Manyin và những ngời khác 2001.
44
Belser 2000, tr. 18-22
25
Nhóm hành động chống đói nghèo: Giảm nguy cơ bị tổn thơng và thực hiện công tác bảo trợ xã hội
Cơ chế hiện tại về quản lý rủi ro và bảo trợ xã hội ở Việt Nam

thay đổi công nghệ; và một nửa tháng lơng cho
mỗi năm làm việc cho các trờng hợp bị thiên tai
hoặc ngừng kinh doanh. Tuy nhiên, việc giãn thợ
hàng loạt cần phải đợc thảo luận và đợc công
đoàn chấp thuận. Các tranh chấp về chấm dứt hợp
đồng lao động giữa công đoàn và chủ lao động cần
một qui trình phân xử phức tạp; qui trình hiện tại để
giải quyết các tranh chấp giữa cá nhân ngời lao
động và chủ lao động đơn giản hơn rất nhiều. Trong
thực tế, hầu hết các công ty ở khu vực t nhân đều
tránh các cản trở đối với sự linh hoạt điều chỉnh lao
động bằng cách ký hầu hết các hợp đồng lao động
ngắn hạn (từ 6 tháng đến một năm). Do đó trờng
hợp duy nhất có vẻ nh luật lao động cản trở các
quyết định lao động là các quyết định đối với công
ty nớc ngoài tham gia liên doanh với doanh nghiệp
nhà nớc: ở đây, việc hiểu rõ luật Lao động vẫn còn
rất hạn chế và mơ hồ, rất có thể cản trở một số đầu
t nớc ngoài vào liên doanh
45
.
Trong tơng lai, điều kiện làm việc có thể sẽ là một
vấn đề của pháp chế bảo trợ lao động. Các yêu cầu
pháp lý đợc hình thành nhng ở mức nghiên cứu
nhỏ cho thấy là điều kiện làm việc ở các doanh
nghiệp t nhân thờng không đáp ứng đợc các
yêu cầu này. Tuy nhiên, việc cỡng chế thi hành có
hiệu quả hơn đòi hỏi phải tăng số lợng nhân viên
thanh tra và các biện pháp cho phép ngời lao động
có thể kiên quyết đòi thực hiện quyền lợi của họ

45
Belser 2000, tr. 23-26
46
Edmond và Turk 2002; Quỹ Nhi đồng Anh 1997.
26
Nhóm hành động chống đói nghèo: Giảm nguy cơ bị tổn thơng và thực hiện công tác bảo trợ xã hội
Cơ chế hiện tại về quản lý rủi ro và bảo trợ xã hội ở Việt Nam
nghèo) phải đợc miễn phí y tế theo quy định đa
ra đầu những năm 1990. Nhng không rõ là ngời
nghèo có thực sự đợc miễn phí y tế hay không,
đặc biệt là tiền thuốc, và tỷ lệ miễn rất khác nhau
giữa các cơ sở y tế. Có thể, vấn đề đó đã đợc nhận
thấy nên từ năm 2000, một phơng án mới đã đợc
áp dụng thực hiện thông qua hệ thống Bảo hiểm y
tế Việt Nam (xem Khung 7). Việc cấp thẻ y tế miễn
phí cho ngời nghèo áp dụng từ năm 2000 có triển
vọng là cách thức tốt để cải thiện khả năng tiếp cận
dịch vụ y tế. Tuy nhiên, vẫn có những vấn đề nhất
định. Chỉ có 4 triệu ngời nhận đợc thẻ y tế miễn
phí (trong khi đó, Tổng cục thống kê/Ngân hàng
thế giới ớc tính có 28 triệu ngời nghèo trong đó
11 triệu ngời là cùng cực). Những ngời muốn
yêu cầu dịch vụ y tế sử dụng thẻ y tế miễn phí
thờng đợc điều trị sau những ngời trả bằng tiền
mặt đặc biệt ở những vùng khó khăn. Và thậm chí,
họ còn phải trả một số phí (chính thức hoặc không
chính thức) khi sử dụng dịch vụ.
Nhu cầu khẩn thiết là phải đánh giá lại phơng thức
làm sao để đảm bảo cho ngời nghèo đợc tiếp cận
dịch vụ y tế mà họ cần. Khó khăn về tài chính hạn

trong 5 năm đầu tiên khi Cơ quan Bảo hiểm Y tế
Việt Nam (BHYT) đợc thành lập năm 1993,
nhng từ đó tới nay thì không hề mở rộng.
Chơng trình BHYT gồm hai thành phần: i)
chơng trình bảo hiểm y tế bắt buộc trớc tiên
nhằm bảo hiểm cho ngời lao động khu vực
công đang làm việc và đã về h; và ii) chơng
trình tự nguyện cho các đối tợng còn lại.
Chơng trình tự nguyện đa ra hai hình thức:
hình thức bảo hiểm thấp thanh toán chi phí điều
trị nội trú và hình thức bảo hiểm cao thanh toán
cho các chi phí điều trị ngoại trú và các chi phí
thuốc men khác. Năm 1998 chơng trình bảo
hiểm bắt buộc có 77% dân số tham gia trong
khi chơng trình bảo hiểm tự nguyện chỉ có 5%.
Hơn 90% số ngời đăng ký vào chơng trình
bảo hiểm tự nguyện là học sinh vì các trờng bị
chính quyền địa phơng yêu cầu đăng ký mua
bảo hiểm cho học sinh của trờng. Chơng trình
này cho đến nay mới chỉ đạt đợc ở mức hạn
chế trong việc các nhóm khác, đặc biệt là các
nhóm ở nông thôn đăng ký bảo hiểm: năm 1998,
diện bảo hiểm trong nhóm giàu nhất đạt 28,7%
còn nhóm nghèo nhất chỉ là 5,8%. Diện bảo hiểm
rất khác nhau giữa các tỉnh (từ 3,7% đến 38%).
Mức đóng góp cho chơng trình bảo hiểm bắt
buộc là 3% mức lơng cơ bản (1% do ngời lao
động đóng, và 2% do chủ lao động đóng). Các
thành viên của chơng trình bảo hiểm tự nguyện
nộp tiền bảo hiểm hàng năm ở các mức rất khác

nớc.
Ai là ngời đợc hởng lợi từ chơng trình
bảo trợ xã hội của nhà nớc?
Không thể đa ra một phân tích toàn diện về việc
phân bổ nguồn hỗ trợ của bảo trợ xã hội và giảm
nghèo đợc cấp cho ngời lao động. Tuy nhiên, có
thể đa ra các phân tích từng phần, dựa trên số liệu
ĐTMSDC năm 1998 cho phép xác định phạm vi phân
bổ hỗ trợ của các chơng trình xã hội đợc chọn sử
dụng của Chính phủ và các tổ chức phi chính phủ
(xem bảng 5). Tóm lại, trong số các chơng trình
có các dữ liệu nhận trợ cấp thì nguồn thu nhập xã
hội đáng kể nhất là từ các quỹ bảo hiểm xã hội,
không có gì là ngạc nhiên khi quỹ đã chi trả nhiều
hơn mức ở mức trung bình và tri chả cho một tỷ lệ
lớn hộ gia đình ở nhóm tiêu dùng cao trong năm
nhóm tiêu dùng, và số lợng ngời hởng lợi và
mức hỗ trợ cho mỗi hộ gia đình giảm một cách đáng
kể đối với các nhóm tiêu dùng còn lại. Phụ cấp xã
hội hay trợ cấp xã hội của tất cả các loại (thông
thờng, khẩn cấp và cứu đói) hơi có xu hớng thụt
lùi, ít chênh lệch hơn giữa năm nhóm dân c về
mức trợ cấp và mức trợ cấp lớn nhất lại là cho nhóm
giữa, còn nhóm nghèo nhất lại nhận đợc mức trợ
cấp bình quân theo đầu ngời thấp nhất. Trợ cấp
của chơng trình xóa nghèo và sự hỗ trợ của các tổ
chức phi chính phủ thì ngợc lại, đợc dành cho
nhóm nghèo nhất nhng còn quá nhỏ so với số
lợng quá lớn của nhóm này
48

chức nói chung để phục vụ nuôi trồng kinh
doanh và không phục vụ cho các hộ nông dân
qui mô nhỏ có trình độ và đất đai hạn chế. Tài
liệu hớng dẫn thì phức tạp, đầy các biệt ngữ
khoa học khó hiểu, và đòi hỏi ngời đọc phải
biết tiếng Kinh (Việt). Thiếu tiếp cận với dịch
vụ khuyến nông đầy đủ cũng ảnh hởng đến
tình trạng mức sống trong chăn nuôi gia súc gia
cầm nh lợn, gà, vịt ảnh hởng đến việc
trồng cây ăn quả. Một nông dân nghèo tham
gia khóa học khuyến nông phàn nàn rằng họ
không dạy cho chúng tôi một chút nào về công
nghệ: chúng tôi phải tự tìm lấy từ đài báo, từ
bạn bè hoặc bằng cách học tập những ngời đã
thành công. Thiếu khuyến nông có thể ảnh
hởng nghiêm trọng đến các hộ gia đình sống
cách biệt với xã hội.
48
Nhóm làm việc về vấn đề nghèo 1999; van de Walle 2001.

Bảng 5: Mức trợ cấp tiêu dùng của bảo trợ xã hội / các chơng trình xoá đói giảm nghèo, tính theo năm nhóm tiêu dùng
Nhóm tiêu
dùng
Bảo hiểm xã hội Trợ cấp xã hội Cấp học bổng Các chơng trình giảm
nghèo
Hỗ trợ của các tổ chức
phi chính phủ
Phần trăm Mức độ
hởng lợi
trung bình

849.509
9,6%
182.875
1,9%
97.684
1,3% 46.692 0,3% 112.667
2 9,1%
745.967
9,4%
181.074
0,8%
96.500
2,1% 76.190 1,2% 42.333
1 Nghèo
nhất
9,5%
731.642
11,6%
196.422
1,1%
105.273
6,4% 41.438 0,5% 206.000
Bình quân tất
cả các nhóm
11,2%
867.366
9,6%
194.156
2,4%
120.875

chỉnh mức tiêu dùng cho phù hợp với toàn bộ nguồn
tài chính. Kết quả tổng quan rất phức tạp. Việc
phân bổ các quỹ trung ơng cho các chơng trình
chống nghèo đói đã có tiến bộ trong việc u tiên
các tỉnh nghèo. Tuy nhiên, cách thức mà tổ chức
hành chính tỉnh phân bổ các quỹ này cho các huyện,
và các huyện phân bổ cho các xã, không nhằm mục
đích có lợi cho ngời nghèo. Hơn nữa, các quỹ
trung ơng thờng chỉ có vai trò thứ yếu so với các
quỹ đợc các tỉnh và các cấp dới tỉnh lập ra. Các
tỉnh giàu có thờng lập ra nhiều quỹ hơn các tỉnh
nghèo, và các huyện giàu cũng lập ra nhiều quỹ
hơn các huyện nghèo. Kết quả thực là làm ngời
nghèo ở huyện giàu vẫn tốt hơn làm ngời nghèo ở
huyện nghèo
49
.
Yếu tố quan trọng thứ ba trong bất cứ đề cập nào về
việc ai là ngời đợc hởng lợi từ các chơng trình
của nhà nớc có liên quan đến địa vị của ngời di
c. Những ngời di c tự nguyện đến thành phố
thấy rất khó xin đợc đăng ký hộ khẩu, mà không
có đăng ký này họ bị coi là không có đủ điều kiện
để hởng các dịch vụ xã hội tại địa phơng đó (nh
trẻ con đi học không mất tiền, chăm sóc sức khỏe,
vv.). Năm 1996 ớc tính có khoảng một triệu ngời
không đăng ký hộ khẩu sống ở thành phố Hồ Chí
Minh
50
. Ngoài việc tạo ra một nhóm không thuộc bảo

đột biến, điều ngụ ý rằng không nên phê phán các
chơng trình bảo trợ xã hội vì đã nhằm nhóm mục
tiêu không tốt nếu chỉ đơn thuần dựa trên thực tế là
những ngời đợc hởng lợi chính lại là nhũng
ngời không nghèo, vì họ có thể đã phản ứng một
cách hiệu quả với các đột biến và điều này đã ngăn
các hộ không nghèo khỏi rơi vào tình trạng nghèo.
Tuy nhiên, căn cứ vào dữ liệu có sẵn đó, Van de
Walle kết luận rằng không có ngời nghèo nào,
mà cũng không có ngời nào chịu tác động của các
đột biến xấu tỏ ra đã tìm kiếm sự hỗ trợ từ các chơng
trình phúc lợi xã hội. Xem xét vấn đề này từ khía
cạnh khác (khi nêu câu hỏi rằng phần nào của
chơng trình giảm nghèo đầy ấn tợng từ năm 1993
đến 1998 có thể đợc coi là do tác động của trợ cấp
xã hội), Van de Walle thấy rằng trợ cấp có ảnh
hởng không đáng kể đến nghèo: những khoản
trợ cấp này chỉ giúp cho khoảng 1% dân số thoát
khỏi nghèo đói và chỉ bảo trợ cho khoảng 1% dân
số khỏi rơi vào tình trạng nghèo đói. Về mặt thống
kê mà nói, ảnh hởng ở cấp này không khác mấy
với con số 0
51
.
49
Van de Walle 1998
50
Van de Walle 1998, tr.26
51
Những thanh toán này giúp đợc khoảng 1% dân số thoát nghèo, và giúp 1% dân số không lâm vào cảnh nghèo: Van de Walle 2001, tr. 23-5

sông Cửu Long (lũ lụt)
và miền núi (lũ tại địa
phơng, đất lở)
Kiểm soát lũ/ cơ sở hạ tầng thủy lợi
Sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu
Các dịch vụ khuyến nông chất lợng
Trồng rừng / trồng cây ở hộ gia đình / quản
lý rừng
Qui hoạch và quản lý vùng đồng bằng cửa
sông do nớc lũ tạo nên (khoanh vùng, cơ sở
hạ tầng giao thông)
Trồng tre dọc hai bờ sông

Xây dựng những ngôi nhà chắc chắn hơn (chống
chịu đợc lũ lụt): chính phủ cấp kinh phí cho các gia
đình nghèo, hớng dẫn và cho các hộ khác vay
Xây dựng cơ sở cộng đồng vững mạnh hơn (trờng
học, phòng khám) ở những vùng hay bị thiên tai
Giáo dục phòng chống tai họa ở các trờng học
Nâng cấp các hệ thống dự báo tai họa sớm
Các chơng trình bảo hiểm tai họa
Đa dạng hóa: nông nghiệp (sờn đồi cũng nh đất
trồng lúa) và phi nông nghiệp
Sử dụng nhiều loại giống tăng
trởng nhanh
Hỗ trợ: cung cấp lơng thực và các
vật dụng cần thiết
Các khoản vay (tiêu dùng, cơ cấu lại
sản xuất)
Các hỗ trợ t nhân

Các dịch vụ cứu chữa bệnh chất lợng cao
Bảo hiểm y tế
Miễn phí khám chữa bệnh cho ngời nghèo
Vay mợn tiền và lơng thực của họ
hàng, những ngời cho vay li hoặc
ngân hàng
Không cho trẻ em đi học, chuyển
sang đi làm để có thu nhập
Giảm tiêu dùng
Các hỗ trợ t nhân
Thành viên làm ra
nhiều thu nhập cho hộ
gia đình bị chết (tổn
thất về thu nhập / lao
động cộng với chi phí
mai táng
Tất cả các hộ gia
đình làm kinh tế
Các dịch vụ phòng chống bệnh tật và giáo
dục y tế
Vệ sinh và cung cấp nớc sạch
Các chiến dịch về an toàn (ví dụ: an toàn
giao thông)
Duy trì luật pháp và trật tự trị an
Trợ cấp cho ngời sống sót
Bảo hiểm nhân thọ
Tiết kiệm
Bảo hiểm ma chay
Vay mợn tiền hoặc lơng thực của
họ hàng, ngời cho vay li hoặc


Bảng 6 : Khái quát các chiến lợc quản lý rủi ro và rủi ro tiềm năng ở Việt Nam (tiếp)
Kinh doanh thất bại
Tất cả các hộ làm kinh tế Tiếp cận thông tin thị trờng
(dài hạn, kể cả giáo dục và
xóa mù chữ cho dân tộc
thiểu số ở Việt Nam)
Cố vấn về quản lý kinh
doanh
Tiết kiệm
Bảo hiểm
Đa dạng hóa các nguồn thu nhập
Vay mợn tiền bạc và lơng thực
của họ hàng, ngời cho vay lihoặc
ngân hàng
Không cho trẻ em đi học, chuyển
sang lao động để có thu nhập
Giảm tiêu dùng
Các hỗ trợ t nhân
Giá cả đầu vào và sản
phẩm thay đổi (nh cà
phê, đờng)
Tất cả các hộ tham gia sản xuất
hoặc cung cấp dịch vụ cho thị
trờng, đặc biệt là những ngời
không có lựa chọn cách kiếm
sống nào khác (nh những ngời
không canh tác mùa vụ) và nhng
ngời sản xuất cung cấp cho thị
trờng quốc tế

nhiều thu nhập cho hộ
gia đình)
Tất cả các hộ gia đình, đặc biệt là
các hộ ở thành phố lớn (và các
vùng trồng thuốc phiện trớc
đây?)
Giáo dục và thúc đẩy hiểu
biết về quyền của phụ nữ
Bắt buộc thực thi luật đ
đợc cải thiện và rõ ràng
Giáo dục y tế
Kiểm soát ma túy
Các dịch vụ chữa trị /phục hồi Vay mợn tiền bạc và lơng thực
của họ hàng, ngời cho vay lihoặc
ngân hàng
Không cho trẻ em đi học, chuyển
sang lao động để có thu nhập
Giảm tiêu dùng
Các hỗ trợ t nhân
Thất nghiệp
Khu vực thành thị (nh ngời lao
động trong các DNNN)
Duy trì sự ổn định của kinh
tế vĩ mô
Quản lý hiệu quả việc cổ
phần hóa DNNN
Thị trờng lao động linh hoạt (nh yêu cầu giảm bớt
các hạn chế về việc c trú)
Trợ cấp thất nghiệp
Tiết kiệm

trong chính sách và chơng trình nhằm góp phần
giảm bớt tình trạng dễ bị tổn thơng và hỗ trợ hiệu
quả hơn cho ngời nghèo kinh niên. Nền tảng của
tất cả những đề xuất này là hai mục tiêu chính:
Thứ nhất, nâng cao yếu tố bảo vệ của các chơng
trình bảo trợ xã hội/giảm nghèo của Chính phủ
Việt Nam, cụ thể là bảo vệ chống lại những rủi
ro riêng lẻ (để đạt đợc kết quả, cần có các sắp
xếp thể chế hiệu quả hợp lý giữa các cơ cấu
ngang chính phủ, tổ chức quần chúng và cộng
đồng trong việc khắc phục rủi ro toàn diện của
thiên tai);
Thứ hai, thay đổi dần trọng tâm của hệ thống
bảo trợ xã hội hạt nhân, (bảo hiểm xã hội và các
chơng trình hỗ trợ xã hội, hiện đang chiếm
mức tiêu dùng lớn nhất trong tổng tiêu dùng
dành cho bảo trợ xã hội), nhằm mang lại nhiều
lợi ích hơn cho ngời nghèo và nhóm có thu
nhập trung bình, chứ không phải cho các nhóm
trung lu. Mục tiêu thứ hai này rất nhạy cảm về
mặt chính trị
52
.
Khái quát hơn, điều quan trọng cần xác định tình
trạng dễ bị tổn thơng là trọng tâm chơng trình
nghị sự về chính sách. Điều này yêu cầu mọi đề
xuất chính sách phải có phân tích về tình trạng dễ
bị tổn thơng, tập trung vào những ngời dễ bị ảnh
hởng tiêu cực của cải cách và giúp xác định các
biện pháp làm giảm bớt hoặc bù đắp cho những đột

. Việc xác định các
nhu cầu dựa trên cơ sở này sẽ quyết định mức vốn
trung ơng chuyển cho địa phơng sao cho vốn từ
trung ơng sẽ tập trung có hiệu quả hơn cho các xã
nghèo có nhu cầu cần vốn nhất.
Có nhiều lý do giải thích tại sao lại tồn tại hệ thống
hiện tại mà theo đó một phần lớn tổng nguồn vốn
chơng trình đợc huy động từ địa phơng và theo
đó tiêu chí hợp lệ đợc điều chỉnh cho phù hợp với
nguồn lực sẵn có. Hệ thống phân quyền này, trên
cơ sở tiến hành xác định mục tiêu ở cấp địa phơng,
đợc xem là phù hợp với xã hội ít biến động và ít có
những bất bình đẳng về địa lý, hầu hết mọi ngời
đều yên vị trong suốt cuộc đời và do đó cán bộ địa
phơng có đầy đủ thông tin về tình trạng nghèo và
dễ bị tổn thơng của ngời dân vùng đó. Khi mức
độ biến động tăng lên trong nền kinh tế thị trờng,
thì hệ thống này sẽ ngày càng trở lên không hiệu
quả trong việc xác định ngời nghèo và ngời dễ bị
tổn thơng, đặc biệt ở những vùng có tình trạng
Phần IV: Đạt các mục tiêu
52
van de Walle 1998 tr. 32-4.
53
Báo cáo chi tiêu công 2000 của Chính phủ và các nhà tài trợ; van de Walle 2001.
54
Van de Walle 1998 tr. 24.
34
Nhóm hành động chống đói nghèo: Giảm nguy cơ bị tổn thơng và thực hiện công tác bảo trợ xã hội
Đạt các mục tiêu

thể chi trả đợc cho các hộ gia đình nghèo là trọng
tâm của việc giảm tình trạng dễ bị tổn thơng. Cam
kết tức thì của chính phủ đối với vấn đề này mà
có lẽ bắt đầu ở các xã nghèo nhất đã đợc xác
định có thể có tác động đáng kể lên khả năng
ngời nghèo đối phó với loại rủi ro phổ biến và làm
suy yếu con ngời này. Loại bỏ các chi phí cho
ngời nghèo (thông qua các chính sách miễn phí
hiệu quả, có thể là sử dụng một biện pháp khác tốt
hơn thẻ y tế miễn phí) là một phần của giải pháp.
Cải cách lại việc cấp tài chính để có thể thanh toán
cho các trạm y tế xã, có thể trên cơ sở trực tiếp theo
đầu ngời, có thể hỗ trợ các dịch vụ y tế ở cấp này
nơi phần lớn ngời nghèo khám chữa bệnh và đảm
bảo ngời có thẻ y tế miễn phí cũng đợc cung cấp
dịch vụ y tế công bằng nh ngời những ngời trả
nhập c (chủ yếu ở thành thị)
55
. Bên cạnh đó, còn
có tình trạng do khuyến khích ngời dân không
theo đuổi các cơ hội kinh tế, nên những hạn chế
của hệ thống hiện tại sẽ bắt đầu cản trở đến tăng
trởng kinh tế.
Một cách để đảm bảo có sự đối xử bình đẳng hơn ở
các cấp chính quyền địa phơng khác nhau đòi hỏi
yêu cầu quan tâm rõ ràng trong các kế hoạch giảm
nghèo đói của xã, huyện hoặc tỉnh đến tình trạng
dễ bị tổn thơng và cần đa ra những hớng dẫn
phù hợp về cách tiến hành phân tích tình trạng dễ bị
tổn thơng này. (Có cơ hội đề thực hiện việc này

chịu đợc sức tàn phá của gió và lũ lụt; bảo hiểm
55
Nhóm làm việc về vấn đề nghèo 1999 trang 126; van de Walle 1998.
56
Ngân hàng Thế giới và các tổ chức khác 2000 tr. 88-9; IFRCRCS 2001.
57
NDM Partnership 2001.
35
Nhóm hành động chống đói nghèo: Giảm nguy cơ bị tổn thơng và thực hiện công tác bảo trợ xã hội
Đạt các mục tiêu
bằng tiền mặt. Các thử nghiệm về đồng tài trợ bảo
hiểm y tế phức tạp hơn ở Trung Quốc có thể rất
đáng học hỏi: ở vùng thành thị Trung quốc, ngời
ta đã đạt đợc thành công đáng kể trong mở rộng
phạm vi và tính bền vững của bảo hiểm bằng cách
sử dụng kết hợp tài khoản tiết kiệm cá nhân, một
nguồn quỹ do ngời sử dụng lao động tài trợ với
khoản bảo hiểm của chính sách bảo hiểm y tế, với
mức giới hạn chi trả cụ thể của từng loại trong từng
trờng hợp cụ thể (xem Khung 9).
Việc nâng cao tiêu chuẩn chăm sóc toàn diện thông
qua đầu t vào vật chất và đào tạo cũng có ý nghĩa
vô cùng quan trọng. Việc nâng cao khả năng tiếp
cận với dịch vụ y tế và giáo dục có chất lợng qua
cơ sở hạ tầng nông thôn để giảm tình trạng xa xôi
hẻo lánh có lẽ là dễ dàng hơn xây các trạm y tế xã
hay trờng học. Các chơng trình nhằm mục tiêu
phát triển con ngời nh chơng trình
PROGRESA ở Mê xi cô - cũng có thể giúp giảm
nhu cầu tạo thu nhập, tài sản và tiết kiệm do bị mất

lao động lu động và linh hoạt và cho phép những
ngời lao động di c đến các trung tâm thành thị
với các quyền lợi và bảo đảm nh những ngời dân
khác (xem Khung 10). Sẽ cần phải có thêm các
nguồn lực bổ sung.
Khung 9: Nguồn tài chính cho bảo hiểm Y tế
ở Trung Quốc
Tại Trung Quốc, phí bảo hiểm thực thanh thực
chi của các chơng trình bảo hiểm bắt buộc ở
các khu vực thành thị hiện nay đạt mức khá cao
8-9% tổng mức lơng. Trong một thử nghiệm
nhằm làm cho các quỹ này trở lên hiệu quả hơn,
hai thành phố đã áp dụng một hệ thống theo đó
một nửa khoản đóng góp của công nhân đợc
nộp vào các tài khoản tiết kiệm cá nhân, trong
khi một nửa khoản đóng góp kia của công nhân
nộp vào các quỹ đóng góp. Khi ngời công nhân
bị bệnh, các chi phí y tế khác của họ trớc hết
sẽ đợc thanh toán bằng tài khoản cá nhân của
họ và các khoản tiết kiệm cá nhân khác. Tuy
nhiên, nếu chi phí trong một năm cụ thể vợt
quá trị giá có trong tài khoản cá nhân cộng thêm
5% tổng lơng của ngời lao động, thì phần vợt
này sẽ đợc quỹ đóng góp (do ngời sử dụng
lao động tài trợ) chi trả. Nếu chi phí y tế vợt
quá mức trần (bằng 5 lần mức thu nhập hàng
năm của ngời lao động), thì chúng sẽ đợc
một chính sách bảo hiểm y tế bổ trợ chi trả.
Trông có vẻ phức tạp, nhng hệ thống này đã
thành công trong việc nâng cao nhận thức của

. Một chơng trình
nh vậy sẽ là lựa chọn rất hấp dẫn cho chiến lợc
tiết kiệm mà ngời nghèo sử dụng khi thiếu các lựa
chọn: chẳng hạn nh mua gia súc hoặc vàng.
Việc tiếp tục cho vay với lãi suất thấp hơn lãi suất
thị trờng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn, Ngân hàng dành cho Ngời nghèo và
rất nhiều các chơng trình đặc biệt đang nhận đợc
sự hỗ trợ mạnh mẽ của Chính phủ. Tuy nhiên, nhiều
nghiên cứu đã cho thấy những hạn chế của chính
sách này và đã đề nghị cần nghiên cứu lại lãi suất
của các khoản cho vay nh là công cụ dự báo trớc
cần thiết trong việc cung cấp các công cụ tiết kiệm.
Tiết kiệm có ý nghĩa vô cùng quan trọng: việc Chính
phủ mong muốn cung cấp dịch vụ tiết kiệm cho
ngời nghèo, chẳng hạn nh thông qua các bu
cục, nh đề nghị trong Chiến lợc CPRGS, là một
bớc đi rất tích cực
61
. Sự phát triển của lĩnh vực tài
chính vi mô tự duy trì và hiệu quả cần gắn với cải
cách ngân hàng rộng lớn hơn bằng phơng thức
tích cực và sáng tạo nâng cao tầm với của dịch vụ
và xây dựng khuôn khổ pháp luật phù hợp cho các
tổ chức và hoạt động tài chính nhỏ.
Xây dựng các công cụ bảo hiểm vừa khả năng và
hiệu quả.
Đối với một số nhóm dân c và một số dạng rủi ro,
chơng trình bảo hiểm là một hình thức bảo vệ hiệu
quả chống lại rủi ro thu nhập giảm hoặc tiêu dùng

ngời dân có thể yêu cầu hởng trợ cấp trên cơ
sở các tổ chức bảo hiểm xã hội mới đợc thành
lập chứ không phải các loại hình khác. Tuy
nhiên, thay đổi này sẽ diễn ra từ từ. Các hạn
chế này sẽ tồn tại lâu hơn ở các thành phố lớn
nh Thợng Hải, Bắc Kinh và Quảng Châu là
những nơi đã phải gánh chịu sức ép về dịch vụ
xã hội do tốc độ tăng trởng nhanh và quy mô
lớn gây ra. Và những ngời không ở đây chỉ có
thể xin nhập hộ khẩu nếu họ đã có nhà hợp
pháp và một nguồn thu nhập ổn định.
Nguồn: Báo Viet Nam News Thứ năm ngày 30
tháng 8 năm 2001
59
Một số công cụ tiết kiệm đợc đa ra (nh thông qua Bu điện và Hội Liên hiệp Phụ nữ), song quy mô của các công cụ này còn khá nhỏ.
60
Nhóm làm việc về vấn đề nghèo 1999 tr. 114; McCarty 2001.
61
Bộ LĐTBXD 2001 tr. 17.
62
Haughton et al 2001 tr. 15.
37
Nhóm hành động chống đói nghèo: Giảm nguy cơ bị tổn thơng và thực hiện công tác bảo trợ xã hội
Đạt các mục tiêu
Việt Nam cần thuyết phục thêm nhiều hộ gia đình
nữa đầu t vào quản lý rủi ro bằng cách bảo hiểm.
Bảo hiểm y tế và bảo hiểm mùa màng cần đợc u
tiên, chúng cho thấy tầm quan trọng của bệnh tật
và mất mùa (kể cả mất mùa do thiên tai) là các nhân
tố đẩy các hộ gia không nghèo vào nghèo đói. Xét

ngời sử dụng lao động (nh không đợc làm tăng
chi phí lao động đến mức làm tăng tỷ lệ thất nghiệp).
Mức trợ cấp phải đảm bảo cung cấp một khoản thu
nhập thay thế hiệu quả, cho phép những ngời lao
động bị sa thải có thể đối phó với thời kỳ thất nghiệp
mà không phải bán tài sản hoặc từ bỏ không đầu t
vào dinh dỡng, giáo dục và y tế; nhng mức trợ
cấp này cũng không đợc quá cao để không khuyến
khích ngời lao động nhanh chóng quay trở lại làm
việc. Phối hợp thanh toán các khoản trợ cấp với các
chính sách thị trờng năng động (nh yêu cầu ngời
hởng trợ cấp tham gia vào các trung tâm việc làm)
là một phần của giải pháp này.
Khung 11: Bảo hiểm Y tế: Kinh nghiệm của
Tổ chức phi Chính phủ và CBO
Về cơ bản, có 3 lý do giải thích tại sao ngời lao
động trong khu vực phi chính thức thích các
chơng trình bảo hiểm nhóm hơn là tự chi và tài
trợ. Thứ nhất, bằng các khoản đóng góp thờng
xuyên, có thể khắc phục những vấn đề nợ nần
do tiền viện phí lớn. Thứ hai, tiềm lực tài chính
nhóm có thể cho phép ngời điều hành đàm
phán để có đợc các dịch vụ chất lợng cao
hơn hoặc có giá trị hơn của t nhân. Thứ ba,
Bảo hiểm nhóm có thể sẽ sẵn sàng chi vào các
hoạt động tuyên truyền y tế và phòng ngừa
nhằm giảm bớt chi phí chữa bệnh. Có sự khác
nhau cơ bản giữa các chơng trình Loại I (bảo
hiểm cho những biến cố ít xảy ra nhng có chi
phí cao, nh nằm viện) và Loại II (bảo hiểm cho

tài sản.
63
Howell 2001.
38
Nhóm hành động chống đói nghèo: Giảm nguy cơ bị tổn thơng và thực hiện công tác bảo trợ xã hội
Tiến hành phân tích chi tiết hệ thống an sinh xã
hội và đánh giá Chơng trình xoá đói giảm nghèo
Tiêu dùng của Chính phủ Việt Nam vào bảo trợ xã
hội và giảm nghèo có mục tiêu là tơng đối cao đặc
biệt khi so với tiêu chuẩn của các nớc Đông nam
á. Mặc dầu bức tranh tiêu dùng thì khá rõ rệt và các
số liệu Khảo sát mức sống dân c cung cấp chi tiết
cho phạm vi và mức độ trợ giúp xã hội, nhng quả
thực là ngời ta biết rất ít về kết quả - về cái gì có
hiệu quả và cái gì không có hiệu quả. Các đánh giá
chính xác có thể giúp xác định thông lệ tốt nhất và
đem lại bài học cho xây dựng chính sách và chơng
trình: Chính phủ đã tuyên bố rằng những đánh giá
này sẽ đợc thực hiện. Hớng cấp vốn vào các
chơng trình có hiệu quả và cải cách các chơng
trình không có hiệu quả có thể đem lại tác động
tích cực lớn cho giảm nghèo và khả năng dễ bị tổn
thơng.
Xây dựng các chơng trình hớng vào các nhóm
đặc biệt dễ bị tổn thơng trong các hộ gia đình.
Hầu hết các chơng trình và chính sách chính thức
đều tập trung vào hộ gia đình (miễn học phí là ngoại
lệ đáng chú ý)
64
. Cần xây dựng các chơng trình

trọng tâm trong cung cấp cơ sở hạ tầng nhằm giảm
nghèo đói
Với điều kiện địa hình của Việt nam và mối quan
hệ chặt chẽ quan sát thấy giữa sự cô lập vật chất với
nghèo đói và tình trạng dễ bị tổn thơng, không có
gì ngạc nhiên khi Chính phủ đầu t mạnh vào cung
cấp cơ sở hạ tầng (đặc biệt là đờng xá, điện khí
hoá, cơ cấu thủy lợi và cơ cấu viễn thông) làm công
cụ giảm nghèo đói
65
. Tuy nhiên, nói chung phơng
thức cung cấp cơ sở hạ tầng có xu hớng sử dụng
khá nhiều vốn. Trong khi có khả năng xây dựng cơ
sở hạ tầng sử dụng nhiều lao động để tạo việc làm
và thu nhập cho những nhóm dân c nghèo, đặc
biệt trong thời kỳ nông nhàn. Các chơng trình này
cần đợc xây dựng để có thể tự định hớng bằng
cách xây dựng mức lơng chỉ thu hút những ngời
nghèo không có các cơ hội khác sinh lợi hơn. Các
chơng trình này cần đợc xây dựng và quản lý
cẩn trọng để chúng tạo ra việc làm có lơng nâng
cao an sinh và mang lại cơ sở hạ tầng chất lợng
cao và cần đợc bổ sung cùng các chính sách khác
nhằm giúp đỡ ngời nghèo là những ngời không
thể lao động hoặc là những ngời lao động nghèo.
Tuy nhiên, có rất nhiều ví dụ về các chơng trình
đạt đợc sự cân bằng này(Khung 12) ở các nớc và
Việt Nam cần xem xét cẩn trọng lợi ích khi chấp
nhận phơng thức này cho việc xây dựng cơ sở hạ
tầng

phơng thức bảo trợ xã hội bền vững dựa trên các
công trình công cộng.
Điều quan trọng cần thấy rằng CTĐBVL là một
phần trong nhóm các cộng cụ bảo trợ xã hội và
giảm nghèo. Mặc dù nó không đa đợc nhiều
ngời nghèo thoát khỏi ngỡng nghèo, song nó
đã giảm bớt mức độ nghèo, nâng cao và ổn đinh
thu nhập của những hộ gia đình có thu nhập thấp
hơn ngỡng nghèo. Phụ nữ, là những nhóm dân
c đẳng cấp thấp, đã đợc hởng lợi từ chơng
trình này. Chơng trình này cũng khá hiệu quả về
mặt chi phí và đợc xác định có mục tiêu tốt: với
hầu hết các chơng trình công trình công cộng,
mức lơng đợc ấn định ở mức thấp sao cho
chơng trình đó tự định hớng,
chỉ thu hút những ngời không có các cơ hội khác.
Điều này dờng nh thực hiện đợc, chỉ với
khoảng 90% số ngời hởng lợi không phải là
ngời nghèo. Tuy nhiên, là một chơng trình dựa
trên cơ sở việc làm, CTBĐVL không thể mang lại
bảo trợ xã hội cho một số nhóm dân c trong số
những ngời nghèo. Cần có các biện pháp bảo trợ
xã hội khác đối với ngời già, ngời mắc bệnh
và ngời tàn tật.
ảnh hởng cấp hai khá phức tạp, nhng dờng
nh trong đó cũng có ảnh hởng tích cực. Việc
bảo đảm mức lơng của CTĐBVL đã tạo ra áp lực
gia tăng mức lơng trong nông nghiệp, mặc dù
quy mô ảnh hởng này khác nhau đáng kể giữa
các vùng. Mặc dù tính bền vững của cơ sở hạ

Nhóm hành động chống đói nghèo: Giảm nguy cơ bị tổn thơng và thực hiện công tác bảo trợ xã hội
Phần V. Các hàm ý về phân bổ nguồn lực
Phần này xác định các hàm ý của những đề xuất
nêu trên về nguồn tài chính cho các cơ chế bảo trợ
xã hội của Chính phủ Việt Nam, tập trung vào thay
đổi mức độ quan trọng của vốn đối với các yếu tố
khác nhau cấu thành bảo trợ xã hội. Cách dễ nhất là
đa ra ớc tính chi phí khi đề xuất mở rộng các
chơng trình hiện tại, khi chi phí hiện tại có thể
tăng lên do tăng phạm vi triển khai; tuy nhiên độ tin
cậy của các ớc tính chi phí của các đề xuất cho
những công cụ mới sẽ giảm đi.
Khái quát về nguồn tài chính hiện tại dành
cho Bảo trợ xã hội
Điểm đầu tiên cần nhắc lại có liên quan đến các
nguồn lực dành cho các biện pháp giảm tình trạng
dễ bị tổn thơng đó là i) phần lớn các chi phí quản
lý rủi ro do hộ gia đình và cộng động chi trả và ii)
phân tích việc phân phối các khoản trợ cấp chính
thức của nhà nớc cho thấy những ngời hởng lợi
lại là những ngời khá sung túc (các cá nhân và hộ
gia đình có mức tiêu dùng bình quân đầu ngời
thuộc nhóm trung lu) chứ không phải những ngời
tơng đối nghèo.
Khoản tiêu dùng dành cho các dịch vụ và chơng
trình bảo trợ an sinh xã hội đã tăng lên trong những
năm 90, đạt 10,3 tỷ đồng vào năm 1998. Tỷ lệ tổng
ngân sách nhà nớc dành cho bảo trợ xã hội đã tăng
lên đạt gần 14% vào năm 1997. Hơn 90% ngân sách
của lĩnh vực này là do ngân sách trung ơng đóng góp

Có nhiều lĩnh vực tiêu dùng của Chính phủ nằm
ngoài phần ngân sách bảo trợ xã hội của Bộ
LĐTBXH phục vụ các mục đích bảo trợ xã hội và
phải đợc tính đến khi phân tích nguồn vốn của
bảo trợ xã hội. Nguồn vốn dành cho chăm sóc sức
khoẻ cơ bản (kể cả các chính sách ngời sử dụng
trả phí, bảo hiểm y tế do Bảo hiểm y tế Việt Nam
cấp, và các cơ chế vốn cho dịch vụ cấp xã) cần đợc
xem xét trong bất cứ đánh giá đầy đủ nào về các hệ
quả chính sách phân bổ tổng nguồn lực cho việc
nâng cao bảo trợ xã hội, cũng nh việc bảo hiểm vụ
mùa của Bảo Việt và các cơ chế đảm bảo khả năng
tiếp cận với giáo dục cơ bản của trẻ em ở các hộ gia
đình nghèo. Với rất nhiều các tổ chức nhà nớc có
vai trò trong bảo trợ xã hội sẽ gây khó khăn cho
việc phân tích chính xác tổng nguồn lực cần thiết.
Ước tính chi phí cần thiết cho các chính sách
và chơng trình đề xuất
Trọng tâm của việc phân tích sâu hơn là phát triển
các nguyên tắc hớng dẫn những ngời ra quyết
định cân bằng các chơng trình bảo trợ xã hội đợc
đa ra. Các nguyên tắc đó là:
68
UN và Bộ LĐTBXH 1999 tr. 40-1.
69
UN và Bộ LĐTBXH 1999 pp. 42-3.
41
Nhóm hành động chống đói nghèo: Giảm nguy cơ bị tổn thơng và thực hiện công tác bảo trợ xã hội
Các hàm ý về phân bổ nguồn lực
Tập trung vào những nhu cầu u tiên của những

bảo trợ xã hội linh hoạt.
Để tiến hành hình thức phân tích này đòi hỏi phải
có thông tin nhiều hơn, và tốt hơn, về ngân sách và
tiêu dùng của rất nhiều yếu tố cấu thành an sinh xã
hội và XĐGN. Nó cũng yêu cầu nghiên cứu các
ảnh hởng chơng trình và hiệu quả chi phí, là
những yếu tố hiện nay còn thiếu.
42
Nhóm hành động chống đói nghèo: Giảm nguy cơ bị tổn thơng và thực hiện công tác bảo trợ xã hội
Phần VI: Giám sát
Để giám sát tiến trình của mục tiêu bao trùm trong
chính sách bảo trợ xã hội giảm nghèo cùng cực
và nâng cao kinh nghiệm khách quan và chủ quan
về an sinh - đòi hỏi phải chú ý đến một số chỉ số
trung gian của tiến trình bên cạnh 3 mục tiêu chính
đợc nêu trong Phần II. Phần cuối này sẽ đa ra
một số chỉ số để xem xét.
Các chỉ số trung gian đợc lựa chọn
Có thể đa ra rất nhiều chỉ số đầu vào, tiến trình và
kết quả về tình trạng dễ bị tổn thơng và cung cấp
bảo trợ xã hội để bổ trợ tính toán tổng hợp về tình
trạng dễ bị tổn thơng đợc xác định trên cơ sở xác
suất hộ gia đình rơi vào nhóm dân c có mức tiêu
dùng thấp hơn (nh từ nhóm không nghèo trở thành
nhóm nghèo hoặc từ nhóm nghèo chung trở thành
nghèo lơng thực). Do có những vấn đề về phơng
pháp trong việc đa ra định nghĩa đầy đủ về nghèo
(nh đã trình bày ở Phần I nêu trên), nên những chỉ
số trung gian này có lẽ có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng ở trong báo cáo này (xem Khung 13).

nớc cung cấp các dịch vụ đó.
Các nghiên cứu hoàn cảnh cũng sẽ có hiệu quả khi
phản ứng một cách linh hoạt trớc những vấn đề về
tình trạng dễ bị tổn thơng mới nổi lên ở các địa
điểm hoặc giữa các nhóm dân c nhất định: ví dụ
Khung 13: Danh sách sơ bộ các chỉ tiêu trung
gian về tình trạng dễ bị tổn thơng
Các chỉ số về rủi ro thiên tai: số lợng hàng
năm các gia đình mất chỗ ở, diện tích canh
tác và trị giá mùa màng tổn thất, ớc tính số
nhà bị phá huỷ hoặc tổng tổn thất về tài sản,
v.v.v.
Tỷ lệ thiếu việc làm (ở thành thị và nông thôn)
Biến động giá cả hàng hoá của một số mặt
hàng chính, đặc biệt là những hàng hoá do
ngời nghèo hoặc ngời ngời gần nghèo làm
ra: con số tuyệt đối và cách tính mức biến động
Số ngày bị bệnh tật
Số lợng việc làm tốt ở khu vực chính thức
đợc tạo ra (số liệu này có thể rút ra từ cuộc
điều tra lao động hàng năm của BLĐTBXH
cũng nh cuộc điều tra ĐMT đợc tiến hành
hai năm một)
Tỷ lệ hộ gia đình làm nông nghiệp phụ thuộc
vào một hoạt động chiếm từ 75% tổng thu nhập
trở lên
Tỷ lệ dân số đợc bảo trợ xã hội và tính hiệu
quả
Percentage of population covered by health
insurance, broken down by ethnicity and

tình trạng tiêu dùng của các hộ gia đình. Các cuộc
điều tra này có nhiều u điểm so với ĐTMSDC.
Khoảng cách thời gian giữa các cuộc điều tra ngắn
hơn một cách đáng kể (là hai năm thay cho năm
năm). Quy mô mẫu sẽ lớn hơn khoảng năm lần so
với quy mô mẫu của ĐTMSDC năm 1998, cho phép
phân chia nhỏ hơn (theo tỉnh, theo nghề nghiệp,
theo hình thức sở hữu một số tài sản nhất đinh, v v)
và do đó có nhiều chi tiết và độ tin cậy hơn khi
phân tích mối quan hệ giữa các biến số hộ gia đình
với những thay đổi trong tình hình mức sống của
hộ. Điều này cho phép kiểm tra định lợng nhiều ý
kiến hơn về nguyên nhân và hậu quả của tình trạng
dễ bị tổn thơng.
Tuy nhiên, cũng có một số vấn đề ở trong phơng
thức mới này. Do hệ thống mới này không phối hợp
với số liệu panel của ĐTMSDC, nên sẽ không thể
nhận thấy những thay đổi trong tình trạng hộ gia
đình trong các năm 1998 đến 2002: giai đoạn 1998-
2002 trở thành điểm mù khi theo dõi những biến
động thực tế trong hộ gia đình và năm 2002 trở
thành năm gốc mới. Thứ hai, số liệu panel từ hai
cuộc điều tra không đợc chuyển sang cuộc điều
tra tiếp theo nên các cuộc điều tra này thực tế sẽ
cung cấp một loạt các nghiên cứu panel trong khoảng
2 năm một chứ không phải một nghiên cứu panel
dài hạn
70
.
Cơ sở thông tin cho xây dựng các chỉ số trung gian

and Pacific). Bản thảo sửa đổi để tham vấn: Tháng
1 năm 2001
ADB 2001. Quốc gia hoá các mục tiêu phát triển
quốc tế về xoá đói giảm nghèo cho Việt Nam:
Đảm bảo quản trị quốc gia có hiệu quả để xoá
đói giảm nghèo (Ensuring good governance for
poverty reduction). Chiến lợc thực hiện các
mục tiêu phát triển của Việt Nam. Dự thảo tham
vấn.
ADB và WHO 2001. Quốc gia hoá các mục tiêu
phát triển quốc tế về xoá đói giảm nghèo cho Việt
Nam: Cải thiện tình trạng sức khoẻ và giảm
những bất bình đẳng về y tế (Improving health
status and reducing inequalitie). Chiến lợc thực
hiện các mục tiêu phát triển của Việt Nam. Dự
thảo tham vấn.
AMCHAM 2001 Tài liệu tham khảo về quyền của
ngời lao động ở Việt Nam (Reference paper
on workers rights in Vietnam). Phòng Thơng
mại Mỹ ở Việt Nam: Bản thảo, Tháng hai năm
2001.
Bộ LĐTBXH 1999 Thống kê hệ thống an sinh xã
hội ở Việt nam (Statistics on social safety net in
Vietnam). Nhà xuất bản Lao động xã hội: Hà
nội; tháng 11 năm 1999.
Bộ LĐTBXH 2001 Chiến lợc xoá đói giảm nghèo
2001-2010 (Poverty Alleviation Strategy 2001-
2010). CHXHCN Việt Nam/Bộ LĐTBXH: Hà
nội: tháng 5 năm 2001. .
Bộ LĐTBXH/Aduky Pty. Ltd 1998 Các nhóm dễ

poverty: a methodology and estimates for the
Philippines). Phòng Kinh tế, Đại học Columbia và
EASPR, Ngân hàng Thế giới: bản thảo sơ bộ: tháng
6 năm 2001.
CHXHXNVN 2001 Chiến lợc giảm nghèo tạm
thời (The Interim Poverty Reduction Strategy
Paper). Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
Hà Nội: Tháng Bảy năm 2001.
CHXHXNVN 2002 Chiến lợc toàn diện cho xoá
đói giảm nghèo và tăng trởng (The
Comprehensive Poverty Reduction and Growth
Strategy) (CPRGS). Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam: Hà Nội: Tháng Năm năm 2002.
CHXHXNVN-Nhóm làm việc của các nhà tài trợ
về Đánh giá chi tiêu công PER 2000. Việt Nam:
quản lý nguồn lực công tốt hơn. Đánh giá tiêu
dùng công năm 2000 (Vietnam: managing
public resources better. Public expenditure review
2000). Tập 2: Phụ lục. Tháng 12 năm 2000.
Coudel, A., K. Ezemenari, M. Grosh và L. Sherburne-
Benz 2001 Bảo trợ xã hội (Social protection).
Chơng dự thảo cho cẩm nang về Giảm nghèo
đói và Bảo trợ Xã hội (PRSP): tháng 4 năm 2001;
http://www.
Cox, Donald 2001 Hỗ trợ t nhân giữa các hộ gia
đình ở Việt Nam: ví dụ rút ra từ vòng thứ nhất và
thứ hai của Điều tra Mức sống Dân c Việt Nam
(Private inter-household transfers in Vietnam:
evidence from the first and second rounds of the
45

và ActionAid Việt Nam: Hà nội: tháng 3 năm
2000.
Deichmann, Joel, Dominique Haughton, Nguyễn
Phong và Phùng Đức Tùng 2001 Mối quan hệ
giữa mức sống: phân tích đồ thị và thống kê
(Correlates of living standards: a graphical and
statistical analysis) . Chơng 15 trong Haughton
và những ngời khác (eds.) (sẵp xuất bản)
Dercon, Stephen 2001 Đánh giá tình trạng dễ bị
tổn thơng (Assessing vulnerability) Jesus
College / CSAE, Oxford University: Tháng Tám
năm 2001.
DFID: Dollar, David và Paul Glewwe 1998 Nghèo
đói và Bất bình đẳng trong giai đoạn đầu đổi mới
(Poverty and inequality in the early reform
period). Trang 29-60 trong David Dollar, Paul
Glewwe và Jennie Litvack (eds.) 1998 Phúc lợi
hộ gia đình và quá trình chuyển đổi của Việt
Nam (Household welfare and Vietnams
transition). Nghiên cứu ngành và khu vực của
Ngân hàng Thế giới: Washington DC.
Dzung Thế Nguyễn 2001 Khía cạnh phúc lợi xã
hội của phát triển trong nền kinh tế chuyển dổi:
ứng dụng với Việt Nam (Social welfare aspects of
development in a transition economy: application
to Vietnam). Luận văn Tiến sĩ cha công bố; Khoa
Kinh tế, Trờng Đại học Wollongong.
Edmonds, Eric and Carrie Turk 2002. Child Labour
in Transition in Vietnam (Lao động trẻ em trong
thời kỳ đổi mới ở Việt Nam). Báo cáo làm việc

đoàn Chữ thập đỏ và Trăng lỡi liềm đỏ quốc tế:
Kumarian Press / Eurospan: Bloomsfield CT /
London.
46
Nhóm hành động chống đói nghèo: Giảm nguy cơ bị tổn thơng và thực hiện công tác bảo trợ xã hội
Tài liệu tham khảo
ILO 1999 Hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam
(Social safety nets in Vietnam). ILO tháng 11
năm 1999.
ILO 2000 Các phát triển trong thị trờng lao động
ở Việt Nam trong những năm 90 và Chơng trình
Mục tiêu Quốc gia về Việc làm và Xoá đói Giảm
nghèo (Labour market developments in Viet
Nam in the 1990s and the National Target
Programmes on Employment and on Hunger
Eradication and Poverty Reduction). ILO: Hệ
thống an sinh xã hội dành cho những ngời dễ bị
tổn thơng ở Việt Nam VIE/98/032/09: tháng 2
năm 2000
Jain, Shashi 1999 Bảo hiểm xã hội cơ bản ở ấn
độ (Basic social security in India) trong van
Ginneken (ed.) 1999.
Không rõ tác giả 1999 Quỹ Xúc tiến Việc làm Quốc
gia: mục tiêu, chiến lợc và các biện pháp tạo việc
làm và xoá đói giảm nghèo (National Fund for
Employment Promotion (NFEP): objectives,
strategies and measures for employment generation
and poverty alleviation). Hà nội: tháng 7 năm 1999.
Knowles, James, Jere R. Behrman, Benjamin E.
Diokno và Keith McInnes 1996 Những vấn đề

McCulloch, Neil và Bob Baulch 1999 Phân biệt
ngời nghèo kinh niên với ngời nghèo tạm thời:
ví dụ từ nông thôn Pakistan. (Distinguishing the
chronically poor from the transistorily poor:
evidence from rural Pakistan). Tài liệu làm việc
IDS 97: Sussex
NDM Partnership 2001 Quan hệ hợp tác trong
giảm nhẹ thiên tai ở Miền trung Việt nam.
(Natural Disaster Mitigation Partnership for
central Vietnam. Memorandum of Agreement).
Biên bản ghi nhớ:1 tháng 6 năm 2001.
Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản 2001 Quốc
gia hoá các mục tiêu phát triển quốc tế về xoá đói
giảm nghèo ở Việt Nam. Thúc đẩy tiếp cận dịch
vụ cơ sở hạ tầng cơ bản (Enhancing access to
basic infrastructure). Chiến lợc thực hiện các
mục tiêu phát triển của Việt Nam. Dự thảo tham
vấn.
Ngân hàng Thế giới (2001a) Quốc gia hoá các mục
tiêu phát triển quốc tế về xoá đói giảm nghèo cho
Việt Nam. Xoá nghèo đói (Eradicating poverty
and hunger). Chiến lợc thực hiển các mục tiêu
phát triển của Việt Nam. Dự thảo tham vấn.
Ngân hàng Thế giới 1995 Việt Nam: đánh giá nghèo
đói và chiến lợc (Vietnam: poverty assessment
and strategy). Ngân hàng Thế giới: tháng 1 năm
1995.
Ngân hàng Thế giới 2000 Chiến lợc lĩnh vực bảo
trợ xã hội: từ hệ thống an sinh đến điểm xuất
phát (Social protection sector strategy paper:

trởng lành mạnh: đánh giá lĩnh vực y tế của Việt
Nam (Growing healthy: a review of Vietnams
health sector). Tháng 5 2001.
Nguyễn Thế Dũng 1999 Đánh giá năng lực cho
Chơng trình Mục tiêu quốc gia về Việc làm và
Xoá đói Giảm nghèo. Phần I: đánh giá chơng
trình (Capacity assessment for Viet Nams
National Target Program for Hunger Eradication
and Poverty Reduction. Part I: program
assessment). Dự án UNDP VIE/97/017: Hà nội;
tháng 5 năm 1999.
Nguyễn Xuân Nguyên 1999 Đánh giá năng lực
cho Chơng trình Mục tiêu quốc gia về Việc làm
và Xoá đói Giảm nghèo. Phần III: đánh giá các tổ
chức và các cá nhân có liên quan (Capacity
assessment for Vietnams National Target
Program for Hunger Eradication and Poverty
Reduction. Part III: assessment of relevant entities
and individuals). Dự án UNDP VIE/97/017: Hà
nội; tháng 8 năm 1999.
Nhóm làm việc về vấn đề nghèo 1999 Rama, Martin,
Sarah Bales, Nguyen Nguyet Nga and Nguyen
The Phiet 1998 Cổ phần hoá và sử lý lao động
dôi d ở Việt Nam. (Equitization and labour
redundancies in Vietnam). 16 Tháng Mời Một
năm 1998.
Norton, Andy, Tim Conway và Mick Foster 2001
Các khái niệm về Bảo trợ xã hội và các phơng
pháp tiếp cận: các hệ quả chính sách chính sách
và thực tiễn phát triển quốc tế (Social protection

Suryahadi, Asep và Sudarno Sumarto 2001 Ngời
nghèo kinh niên, ngời nghèo tạm thời và những
ngời dễ bị tổn thơng ở Indonesia trớc và sau
cuộc khủng hoảng (The chronic poor, the
transient poor, and the vulnerable in Indonesia
before and after the crisis). Tài liệu làm việc
SMERU: tháng 5 năm2001.
UN và Bộ LĐTBXH 1999 Các dịch vụ xã hội cơ
bản ở Việt Nam: phân tích tiêu dùng nhà nớc và
ODA (Basic social services in Viet Nam: an
analysis of state and ODA expenditure) Hà nội:
tháng 12 năm 1999.
UNICEF 2000 Việt Nam: Trẻ em và Phụ nữ - phân
tích tình hình năm 2000 (Việt Nam Children
and women a situation analysis 2000).
UNICEF Viet Nam.

Trích đoạn Phụ lục 3: Các sáng kiến chính sách của Chính phủ Việt Nam hướng tới giảm nghèo đó
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status