Các thuyết ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm - Pdf 15

1
Các thuy ế t ả nh h ưở ng đ ế n ph ươ ng pháp công tác xã h ộ i nhóm
Các thuyết ảnh hưởng đến phương pháp công tác xã hội nhóm
a/ Thuyết hệ thống :
Theo Parson, nhóm là hệ thống xã hội với những thành viên lệ thuộc hỗ tương,
cố gắng duy trì trật tự và sự cân bằng như một thể thống nhất. Nhóm phải vận
động tài nguyên để đáp ứng nhu cầu. Nhóm có 4 nhiệm vụ chính : (1) Hội nhập –
đảm bảo rằng các nhóm viên hoà hợp với nhau; (2) Thích nghi – đảm bảo là
nhóm thay đổi để ứng phó với nhu cầu đòi hỏi của môi trường; (3) Duy trì –
đảm bảo nhóm xác định và duy trì được mục đích cơ bản, bản sắc, và phương
cách của nó; (4) Đạt mục tiêu – đảm bảo nhóm theo đuổi và hoàn thành trách
nhiệm. Nhóm phải hoàn tất 4 công việc này để duy trì được sự quân bình, đây
là công việc dành cho tác viên và nhóm viên của nhóm.
Theo Robert Bales, nhóm phải giải quyết 2 vấn để để tự bảo tồn, đó là vấn đề
liên quan tới công việc và vấn đề liên quan tới cảm xúc tức bầu không khí
nhóm.
Parson nhấn mạnh tới sự hài hoà và quân bình, trong khi đó Bales nhấn mạnh
tới sự căng thẳng và xung đột. Nhóm có khuynh hướng dao động giữa sự thích
nghi với môi trường bên ngoài và quan tâm tới sự hội nhập bên trong. Bales gọi
đây là sự quân bình năng động. Nghiên cứu sự quân bình năng động này và thấy
rằng để giải quyết vấn đề liên quan tới công việc các nhóm viên cho ý kiến,
cung cấp thông tin yêu cầu các đề nghị hoặc đưa ra các đề nghị. Để giải quyết
vấn đề về cảm xúc các nhóm viên bày tỏ sự đồng ý, không đồng ý, bày tỏ sự
căng thẳng hay giải toả sự căng thẳng, bày tỏ sự đoàn kết hay xung đột. Qua
mối tương tác này các thành viên nhóm giải quyết vấn đề, trao đổi, lượng giá,
2
kiểm soát, lấy quyết định, giảm căng thẳng và hội nhập.
Có thể rút ra từ các quan điểm khác nhau về thuyết hệ thống những khái niệm
đáng quan tâm đối với tác viên nhóm như sau :
- Sự hiện diện của tài nguyên của nhóm như một tổng thể xuất phát từ mối
tương tác giữa các cá nhân trong nhóm

khác đang nói. Sau nhiều lần như vậy chỉ cần nhóm viên tái hiện hành vi quay
qua mà không nói chuyện cũng đủ cho người nhân viên nhận xét tiêu cực rồi.
Phương pháp thứ hai thông thường hơn gọi là điều kiện hoạt động. Hành vi của
nhóm viên và tác viên được điều hành bởi kết quả của hành động của họ.Nếu
một nhóm viên có một hành vi nào đó và nhóm viên B đáp ứng một cách tích
cực thì nhóm viên A có thể sẽ tiếp tục hành vi đó. Tương tự nếu tác viên nhận
được phản hồi tiêu cực từ nhóm viên về một hành vi nào đó thì tác viên có thể
sẽ không cư xử như thế trong tương lai.
Trong nhóm, tác viên có thể dùng sự khen ngợi để gia tăng sự giao tiếp giữa
nhóm viên với nhau và những nhận xét tiêu cực để làm giảm sự giao tiếp giữa
tác viên và nhóm viên.
Mô hình thứ ba là lý thuyết học hỏi xã hội. Nếu nhóm viên và tác viên chờ đợi
điều kiện hoạt động thì những hành vi trong nhóm được học hỏi rất chậm chạp.
Bandura cho rằng hầu hết việc học hỏi diễn ra qua sự quan sát và ca ngợi hay
củng cố trải nghiệm hay trừng phạt. Thí dụ, khi một nhóm viên được khen ngợi
vì một hành vi nào đó thì tác viên và nhóm viên khác sẽ tái tạo hành vi đó sau
này hy vọng là sẽ nhận được sự khen thưởng tương tự. Khi một nhóm viên thể
hiện một hành vi nào đó mà xã hội không quan tâm hay trừng phạt thì những
nhóm viên khác sẽ học là không cư xử như thế vì hành vi đó đem lại kết quả
tiêu cực.
d/ Thuyết hiện trường
Kurt Lewin đã thực hiện nhiều cuộc thí nghiệm về sức ép để giải thích hành vi
trong nhóm nhỏ. Theo lý thuyết hiện trường của Lewin thì nhóm có một không
gian sống, nó chiếm một vị trí tương quan với các vật thể khác trong khoảng
không gian nầy, nó được hướng dẫn để đạt được mục tiêu, nó vận chuyển để
theo đuổi những mục tiêu này, và nó có thể gặp nhiều trở ngại trong tiến trình
vận chuyển. Sự đóng góp độc đáo của thuyết hiện trường là xem nhóm như một
tổng thể (gestalt), đó là sự phát triển từ từ những lực đối lập để giữ cho nhóm
viên gắn với nhóm và làm cho nhóm tìm cách để đạt được mục tiêu. Theo
Lewin, nhóm liên tục thay đổi để ứng phó với tình huống xã hội dù rằng có

tác xã hội nào cũng đều dựa trên quyền lực xã hội và sự lệ thuộc xã hội trong
mối tương tác đặc biệt.
Lý thuyết này được sử dụng để làm việc với nhóm thanh thiếu niên phạm pháp
trong cơ sở, nhóm cấu trúc được sử dụng để đối đầu, thách thức, và xóa đi
những qui chuẩn nhóm đồng đẳng chống xã hội và thay thế chúng bằng những
qui chuẩn hỗ trợ xã hội thông qua sự tương tác nhóm đồng đẳng được hướng
dẫn.
Lý thuyết trao đổi xã hội bị phê bình là máy móc vì nó giả định người ta luôn
luôn là sinh vật có lý trí hành động theo sự phân tích về thưởng phạt. Các nhà
lý thuyết trao đổi xã hội ý thức rằng tiến trình nhận thức ảnh hưởng đến cách
người ta cư xử trong nhóm. Cái nhìn của các thành viên nhóm chịu ảnh hưởng
bởi tiến trình nhận thức như ý định và sự mong đợi.
5
1. Thuyết hệ thống: do Parsons nêu ra (1951). Theo ông nhóm là một hệ thống,
bên trong các yếu tố tác động lẫn nhau. Khi nói hệ thống có nhiều bộ phận, tùy
thuộc lẫn nhau như một mắc xích. Nếu một bộ phận bị lỗi thì ảnh hưởng cả
một hệ thống ( cả nhóm).
Gia đình là tế bào của xã hội, một thành viên trong gia đình làm ảnh hưởng cả
gia đình và một quan điểm trục trặc làm ảnh hưởng đến cộng đồng,xã hội, đất
nước.
Tác động nhóm nhắm đế sự duy trì trật tự xã hội ( qua qui tắc). Nếu một nhóm
viên (NV) vi phạm sẽ bị lọai ra khỏi nhóm để duy trì trật tự nhóm và nhờ duy trì
trật tự xã hội nên có được hành động đáp ứng.
2.Thuyết tâm lý năng động: ảnh hưởng lên hành vi con người.Theo 2 ông Freud
(1920) Frank Moreno ( tâm kịch), qua nhóm, cá nhân có dịp nhìn lại mình, đối
chiếu với người khác, giống như cạnh tranh và đưa đến xu hướng thay đổi hành
vi, quan điểm , hành động
Qua nhóm, họ biết được kinh nghiệm người khác và so lại chính mình và
chuyển đổi trong hành động ( con người cũng tự mình có những xung đột giữa
cái tốt và cái xấu, nhưng chính sinh họat nhóm có tương tác nhau, quan điểm

Thông thường mọi người không nói điều mà họ thực sự suy nghĩ đặc biệt là
trong cuộc họp. Đôi khi rất khó chấp nhận rủi ro và mọi người sợ bị người khác
chỉ trích. Người thúc đẩy nên nhận thức khuynh hướng này và giúp mọi người
vượt qua nó. Vai trò của bạn là tạo ra môi trường cho những người ngượng
ngùng và e thẹn nói lên quan điểm, mong ước và mối quan tâm của mình. Đặc
biệt là cần phải giúp đỡ phụ nữ và đưa quan điểm của họ vào cuộc thảo luận.
Nếu như bạn muốn phát biểu, hãy nói thật ngắn gọn và rõ ràng hoặc thú vị để
giúp nhóm lắng nghe. Tránh phát biểu dài dòng vì học viên sẽ trở nên mệt mỏi
và không chú ý nữa. Tốt hơn là thu hút học viên tham gia vào các hoạt động
như chuẩn bị báo cáo, dán biểu đồ, v.v.
2) Thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và vượt qua những định kiến
Nhóm có thể không làm việc tốt nhất nếu các thành viên không hiểu nhau. Hầu
hết mọi người cảm thấy khó khăn khi tự mình thoát khỏi những định kiến.
Người thúc đẩy giúp nhóm nhận ra rằng nhóm hiệu quả là nhóm được xây dựng
trên sự hiểu biết lẫn nhau. Những quan điểm khác nhau vì vậy cần phải được
thu thập và thảo luận để đi đến một kết quả thoả mãn tất cả mọi người. Việc
không hiểu nhau dẫn đến sự căng thẳng cho những người tham gia. Những
người lo lắng cần sự hỗ trợ và cần được đối xử một cách tôn trọng. Đối với
người thúc đẩy quan trọng là không chiếm một vị trí, mà là tôn trọng tất cả các
quan điểm và lắng nghe, để mọi người và mỗi người cảm thấy tự tin là mọi
người đang hiểu họ.
3) Thúc đẩy giải pháp tập thể và thay đổi cách suy nghĩ thắng-thua
Mọi người thật khó có thể tưởng tượng rằng các bên tham gia với sự khác biệt
7
rõ ràng thực tế lại có thể đạt được một thoả thuận chung làm hài lòng tất cả
các bên. Hầu hết mọi người bị vướng phải quan điểm rằng giải quyết vấn đề và
mâu thuẫn chỉ là chấp nhận "hoặc cách của tôi hay cách của anh”
Người thúc đẩy giúp nhóm tìm kiếm ý tưởng có thể kết hợp quan điểm của mọi
người. Đây là một nhiệm vụ đầy thử thách - người thúc đẩy thường chỉ là một
người suy nghĩ về những khả năng mà ở đó có thể tồn tại những giải pháp mang

thu hút sự chú ý của nhiều người khác,
* xử lí nghiêm khắc nhưng lịch sự và tôn trọng những ý kiến chen ngang, bằng
8
cách nói với người muốn phát biểu rằng khi cuộc thảo luận hiện nay kết thúc,
người thúc đẩy sẽ đề cập tới ý kiến của anh ta.
Quyền lực của người thúc đẩy tốt
Đặc điểm chính của một người thúc đẩy tốt là anh ta hay chị ta không chiếm vị
trí trong những vấn đề thảo luận và kết quả sau thảo luận.
Anh ta hay chị ta cố gắng đảm bảo một quá trình công bằng, thẳng thắn và tạo
nên một bầu không khí an toàn mà ở đó tất cả các bên tham gia đều được
tham gia đầy đủ.
Bức tranh sau đây minh hoạ một số vai trò chính của một cán bộ khuyến lâm xã
phảI thực hiện.
Nghe thấy là: Bị động
Lắng nghe là:
Chủ động
Thể hiện sự chú ý
Tìm kiếm ý nghĩa
Kĩ năng lắng nghe
Lắng nghe tốt khó hơn chúng ta nghĩ nhiều
Nghe thấy dường như là một việc rất dễ. Trên thực tế chúng ta nghĩ là chúng
ta lắng nghe nhưng thực sự chúng ta chỉ nghe thấy cái chúng ta muốn nghe!
Đây không phải là một quá trình có cân nhắc, điều đó hoàn toàn tự nhiên. Lắng
nghe một cách cẩn thận và sáng tạo (tìm ra những khía cạnh tích cực, những
vấn đề, khó khăn và căng thẳng) là kĩ năng thúc đẩy cơ bản nhất. Vì vậy chúng
ta nên cố gắng hiểu những gì ẩn chứa trong đó, nhằm nâng cao kĩ năng của
mình. Dưới đây là một số yếu tố cản trở việc lắng nghe tích cực và thúc đấy
của chúng ta. Nhận thức được những cản trở này sẽ giúp chúng ta dễ dàng
vượt qua chúng.
Khi lắng nghe chúng ta nên cố gắng làm những việc sau đây:

Quản lí thời gian của cuộc họp Được rồi, chúng ta đã dành một chút thời gian
cho vấn đề này. Bạn cảm thấy thế nào nếu chúng ta chuyển sang vấn đề khác?
Có được sự hiểu biết bằng cách tìm hiểu cả 2 mặt của vấn đề Đấy chỉ là một
mặt của vấn đề. Hãy xem xét của mặt kia của vấn đề. Điều gì sẽ xảy ra nếu…?
Loại Tác dụng Rủi ro
Câu hỏi dùng để hỏi toàn bộ nhóm
(Tốt hơn là viết lên trên bảng xốp) • Khuyến khích mọi người suy nghĩ
• Rất có ích khi bắt đầu cuộc thảo luận Câu hỏi có thể không ai trả lời bởi vì
không ai cảm thấy có trách nhiệm phải trả lời.
Chỉ thu được ý kiến của thành viên nổi trội trong nhóm
Đặt câu hỏi trực tiếp cho một thành viên cụ thể của nhóm Rất có ích để thu hút
sự tham gia của phụ nữ, những người ít nói hoặc ngại ngùng
Tận dụng tốt kinh nghiệm của thành viên tích cực, có chuyên môn của nhóm.
Nó có thể gây ngượng ngùng cho thành viên của nhóm chưa được chuẩn bị kĩ
Nếu người được hỏi không hiểu câu hỏi thì anh ta hay chị ta sẽ đưa ra cây trả
lời không phù hợp.
Đặt câu hỏi bắt đầu bằng ai, cáI gì, khi nào, ở đâu, như thế nào?
Những câu hỏi này có thể không thể trả lời với câu trả lời đơn giản là có hay
không Giúp phát hiện chi tiết
Rất tốt cho việc phân tích vấn đề, tình huống
10
Tại sao nó lại xảy ra?
Cần thay đổi cái gì? Đôi khi câu hỏi quá rộng, rất khó trả lời
Câu hỏi được bắt đầu với từ hỏi tại sao làm cho mọi người có cảm giác bị đe
doạ
Câu hỏi mà người đặt câu hỏi muốn có được câu trả lời cụ thể Rất hữu ích
trong việc định hướng lại thảo luận nhằm tập trung vào chủ để chính
Rất có ích trong việc kiểm tra xem liệu học viên có thực sự hiểu chủ đề thảo
luận không Người thúc đẩy có thể áp đặt quan điểm của anh ta
Học viên dường như sẽ trả lời đúng như câu trả lời được mong đợi chứ không

Năng động nhóm
Một số gợi ý khi làm việc với các thành viên nhóm không tích cực
Sau đây là một số kiểu thành viên nhóm mà thái độ, cách cư xử của họ có thể
gây khó khăn cho cuộc họp, và một số giải pháp để giải quyết vấn đề này.
Kiểu Bạn nên làm gì
Người hay nói nhiều Tham gia trong nhóm với tư cách là người thúc đẩy.
Khuyến khích người khác bằng cách chỉ định trực tiếp họ phát biểu.
Người giữ im lặng hoặc hay e ngại Đánh giá cao bất kì sự đóng góp nào.
Khuyến khích họ ở làm việc trong nhóm nhỏ.
Người hay phản đối lại những ý kiến của bạn Tìm hiểu lí do tại sao lại như vậy.
Hỏi trực tiếp ý kiến, quan đIểm của những người khác.
Một số gợi ý khi làm việc với những thành viên nhóm tích cực
Mặt khác một số người có thể có tác động rất tích cực trong nhóm.
Với tư cách là người thúc đẩy bạn nên sẵn sàng để xác định người đóng vai trò
xây dựng, tích cực trong nhóm. Những người này có thể giúp cân bằng với
những thành viên có khó khăn trong nhóm.
Kiểu Bạn nên làm gì
Một thành viên trong nhóm giải thích lại cho cả nhóm Đề nghị anh ta/chị ta giúp
đỡ khi thảo luận đối với những chủ đề khó
Quan sát phản ứng của các thành viên khác khi anh ta/chị ta giải thích
Một thành viên trong nhóm tìm kiếm giảI pháp Xin ý kiến, lời khuyên của anh
ta/chị ta khi nhóm không đạt được thoả thuận chung
Thu hút sự chú ý vào anh/chị ta
Một thành viên trong nhóm đề xuất ý tưởng mới Khuyến khích anh ta/chị ta giảI
thích ý tưởng của mình trước cả nhóm
Liên hệ những đIều anh ta/chị ta nói với chủ đề của cuộc họp
(Theo Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức GTZ, Hội thảo rút kinh nghiệm cho cán bộ
kiểm lâm xã)
Được đăng bởi Nhân viên xã hội tại 08:55 0 nhâ ̣ n xe ́ t Các liên kê ́ t v ớ i ba ̀ i na ̀ y
Nhãn: Công tác xã h ộ i nhóm

Các họat động trong phương pháp nhóm có các mục đích khác nhau như thế
nào ?
1. Tạo điều kiện để truyền đạt bằng lời, cảm xúc, ý kiến và kinh nghiệm.
2. Phát triển tốt các mối quan hệ giữa nhóm viên.
3. Tăng cường sự gắn bó trong nhóm.
4. Tạo cơ hội để cống hiến cho người khác trong nhóm.
5. Phát triển và củng cố năng lực trong các kỹ năng xã hội khả dĩ giúp cho sự
phát triển về mặt tâm sinh lý, văn hóa, lịch sử và ý thức tích cực về bản thân.
6. Kích thích các cuộc thảo luận có suy nghĩ để giải quyết vấn đề, dẫn đến sự
hiểu biết bản thân, người khác và các tình huống.
7. Tăng cường khả năng ra quyết định và thực thi quyết định.
8. Giảm căng thẳng và thỏa mãn nhu cầu về sự thch thú, vui vẻ và sáng tạo.
9. Giúp nhân viên xã hội thẩm định tốt hơn nữa nhu cầu và tài nguyên nơi thân
chủ.
10. 10.Giúp nhân viên xã hội thẩm định tốt hơn nữa các mối tương tác trong
nhóm như là một tổng thể.
Phương pháp nhóm cần các kỹ năng gì ?
1. Kỹ năng lãnh đạo.
2. Kỹ năng điều hòa sự tham gia các nhóm viên.
3. Biết nhìn với cái nhìn mới.
4. Chọn mô hình truyền thông có mục đích.
5. Khuếch đại các thông điệp tinh tế.
6. Giảm nhẹ các thông điệp quá mạnh mẻ.
7. Tạo sự liên kết trong cảm xúc.
8. Chuyển hướng các thông điệp.
9. Hướng các vấn đề để trở lại cho nhóm.
Khi sử dụng một họat động trong phương pháp nhóm, chúng ta cần lưu ý cái
gì ?
- Mục đích của họat động sẽ góp phần đạt tới mục tiêu của nhóm.
- Trọng tâm của họat động là yêu cầu và tính chất quan hệ : gần gũi hay khỏang

sơ đồ các mối quan hệ trong nhóm. Câu hỏi đó là:
Bạn thích chơi với ai nhất và
Bạn thích làm việc với ai nhất
Ví dụ : Hạnh có vẻ được nhiều uy tín nhất với 5 thành viên vừa muốn cùng chơi
và làm việc. Đức có vẻ là một “hoạt náo viên” vui chơi với tánh tình chắc là vui
vẻ dễ dàng nhưng không phải là một người có thể trông cậy vào được về mặt
công tác. Duyên có vẻ là một người hơi nghiêm túc, người ta thích cùng cộng
tác mà không ai thích chơi. Mai đặc biệt không ai muốn cùng chơi hay cùng làm
và Mai có thể bị cô lập. NVXH nên tìm hiểu vì sao?
Nếu Hạnh chính thức cũng là trưởng nhóm thì NVXH có thể yên tâm là nhóm đã
lựa chọn đúng lãnh tụ của mình. Nếu trưởng nhóm chính thức là một nhân vật
khống chế tập thể hay quá bất tài, NVXH có thể từ từ giúp nhóm viên công
nhận điều đó và có thể cởi trói về mặt thủ tục hay thói quen và quan hệ để bầu
ra người khác khi thuận lợi.
NVXH có nên làm trưởng nhóm không? Vai trò lý tưởng của NVXH là xúc tác
viên, khuyến trợ viên còn chính thức lãnh đạo nhóm nên là một trong các nhóm
viên. Tuy nhiên sự can thiệp chính thức của NVXH tùy thuộc vào hoàn cảnh và
trình độ phát triển của nhóm. Ví dụ với những đối tượng có vấn dề tâm lý nặng
tham gia với mục đích trị liệu hay trẻ em còn nhỏ, vai trò NVXH gần như là
trung tâm. Với một CLB thanh niên, một nhóm hành động ở địa phương NVXH,
là một người tư vấn. Dù về mặt chính thức chủ động hay thụ động, NVXH cũng
cần vận dụng kiến thức kỹ năng chuyên môn để hỗ trợ và đưa nhóm đến mục
tiêu.
Nguyên tắc tự quyết cũng phải được áp dụng trong nhóm và tinh thần phụ
thuộc của nhóm cần được khắc phục dần dần.
Trong suốt thời gian sinh hoạt nhóm, NVXH sẽ có dịp hiểu rõ hơn các đối tượng,
phát hiện thêm những nhu cầu, khó khăn của từng cá nhân. Có người sẽ cần sự
tiếp xúc riêng, có trường hợp trẻ có vấn đề, NVXH phải tiếp tục tới thăm gia
16
đình, làm việc với phụ huynh. Như thế, phương pháp CTXH với cá nhân cũng

xúc phạm…): NVXH can thiệp bằng cách đính chính lại câu nói, giúp nhóm viên
dùng từ thích hợp, nhẹ nhàng hơn, tránh những câu nói mang tính phê phán
con người (nói sự kiện thì tốt hơn).
· Khi có thiểu số thống trò nhóm và áp đặt số còn lại, NVXH tìm hiểu xem những
cá nhân đó vô tình hay cố ý, tập huấn cho nhóm về sự hài hòa trong tham gia
nhóm.
· Có người nói nhiều quá, những người còn lại sẽ thụ động, NVXH phải gặp
riêng người đó và một cách tế nhị
· Khi trường hợp có nhóm viên đặt câu hỏi, NVXH nên chuyển câu hỏi này về
các nhóm viên khác để trả lời, không nên tự trà lời hết những thắc mắc của
nhóm viên, điều này giúp tăng sự tương tác và tạo cơ hội cho từng nhóm viên
có cơ hội phát triển.
· Có hiện tượng ngôi sao (có uy tín, giỏi), NVXH phải giúp cho họ biết che giấu
mình hơn để tránh sự lệ thuộc của các nhóm viên khác, nếu không được thì có
thể chuyển họ qua nhóm khác cùng trình độ.
Tóm lại, vai trò của nhân viên xã hội được thể hiện tùy thuộc vào mục tiêu
nhắm vào sụ thay đổi ở cá nhân, nhóm hay cộng đồng.
2. Các kỹ năng trong công tác xã hội nhóm
Để có những kỹ năng hiệu quả thì nhân viên xã hội phải được đào tạo chuyên
môn, nắm vững lý thuyết (Tâm lý nhóm, truyền thông trong nhóm, công tác xã
hội cơ bản, công tác xã hội nhóm) có kinh nghiệm làm việc ở các nhóm lấy
quyết định, nhóm trị liệu, nhóm tự giúp hoặc nhóm giải quyết vấn đề…Những
kinh nghiệm được thu thập qua quan sát, qua làm trực tiếp và rút ra những bài
học từ thực tế sinh động và đa dạng ở những môi trường khác nhau, các đối
tượng và lứa tuổi khác nhau.
18
Công tác xã hội nhóm là một hoạt động khá phức tạp nhiều so với công tác xã
hội cá nhân vì nó mang nhiều yếu tố biến đổi cần phải quan tâm như : cá nhân
thành viên nhóm, tiểu nhóm, toàn nhóm, mục đích của nhóm, môi trường bên
ngoài của nhóm, chương trình hoạt động, cơ sở hoạt động và yếu tố quan trọng

· Tăng cường sự gắn bó, chấp nhận của nhóm viên (quan hệ cởi mở và bình
đẳng ) , truyền thông, tạo sự tương tác giữa các thành viên, tạo bầu không khí
tự do, thoải mái để nhóm viên có thể thể hiện những ức chế cá nhân và nhu
cầu cá nhân
· Tăng cường lòng tin và giảm sự thù địch lẫn nhau (tạo thói quen hợp tác
nhóm).
· Huy động tài nguyên, tiềm năng.
· Sắp xếp kế hoạch nhóm một cách khoa học.
· Giúp cho những tranh luận tập trung vào vấn đề hiện tại.
· Thúc đẩy thực hiện mục tiêu lâu dài của nhóm .
· Cần linh động khi giải quyết mâu thuẩn.
· Tôn trọng ý kiến của từng cá nhân .
· Theo dõi chỉ báo của các mục tiêu cụ thể (quan tâm đến việc thay đổi hành vi,
giúp cá nhân đánh giá được hiệu quả của công việc và lượng giá cuối.)
· Thúc đẩy sự sáng tạo trong nhóm, khuyến khích đưa ra nhiều ý kiến hay.
3.2. Những điều không nên làm
· không áp đặt theo ý của NVXH.
· Không giải quyết thay nhóm (NVXH không ôn đồm).
· Không nên để cho nhóm viên hướng theo mục tiêu riêng (lệch mục tiêu).
· Không nên để cho nhóm phân chia thành những nhóm nhỏ mà phải đoàn kết.
20
· Khi thành lập nhóm, số lượng không quá đông .
· Không nên để cho nhóm viên cảm thấy căng thẳng ( không thoải mái).
· Trong nhóm tuổi tác, trình độ không quá chênh lệch
· Không nên để có trình trạng ngôi sao hoặc cô đơn xuất hiện
· Không nên để nhóm tan rã khi NVXH rời cơ sở
· Không nên để cho mục tiêu nhóm không rõ ràng
· Không để xuất hiện sự ỷ lại trong nhóm (phân công rõ ràng) khi hợp nhóm
hoặc sinh hoạt nhóm không nên để cho thời gian kéo dài
· Không nên vi phạm nguyên tắc trong CTXH.

nhóm, của tổ chức và của cộng đồng. Nó mang tính chất chức năng xã hội
nhiều hơn và chính điều này làm cho nó khác hơn với nhóm trị liệu vì nhóm trị
liệu chú trọng nhiều hơn các nhu cầu cảm xúc và các tiến trình tâm lý.
Mục đích của CTXH là giúp thân chủ (cá nhân) hay hệ thống thân chủ (nhóm hay
cộng đồng) thỏa mãn nhu cầu, giải quyết vấn đề, tiến tới tự giúp và đóng trọn
vẹn vai trò xã hội của mình, mặc dù kết quả nhắm tới là một đối tượng và
phương pháp tác động khác nhau.
Trong phương pháp cá nhân, đối tượng được tác động vào là chính cá nhân
người được giúp đỡ. Công cụ là mối quan hệ giữa NVXH và thân chủ.
Trong phương pháp nhóm, đối tượng tác động vào là toàn nhóm, là mối tương
tác giữa các nhóm viên, là mục đích, bầu không khí, sinh hoạt nhóm. CTXH
nhóm là sử dụng cơ cấu nhóm và năng động trong nội bộ nhóm để đem đến
những thay đổi về nhận thức, niềm tin và hành vi. Các thành viên nhóm chia sẻ
kinh nghiệm và sử dụng nguồn lực của cá nhân và của nhóm để giải quyết vấn
đề của họ.
Trong phát triển cộng đồng, đối tượng là các tập thể khác nhau trong cộng
đồng, mối tương quan sức mạnh giữa họ, những vấn đề của cộng đồng với mục
đích cuối cùng là làm tăng khả năng tự giải quyết vấn đề cộng đồng.
2. Các mục tiêu của công tác xã hội nhóm :CTXH nhóm nhắm vào các mục
tiêu như sau :
22
- Khảo sát về các đặc điểm của cá nhân :
Thông qua các sinh hoạt nhóm, NVXH (tác viên nhóm), các nhóm viên có thể
phát hiện nhu cầu/khả năng/hành vi của mỗi cá nhân trong nhóm thông qua sự
bộc lộ và tự đánh giá của ho (nhóm trẻ em/người lớn phạm pháp, nhóm cha
mẹ nuôi, nhóm trẻ em đường phố). Từ những khám phá này, tác viên nhóm xây
dựng chiến lược để đáp ứng nhu cầu, giúp chuyển đổi hành vi và giải quyết vấn
đề.
- Duy trì và hỗ trợ cá nhân :
Cá nhân tham gia vào nhóm cảm thấy an toàn hơn. Nhóm hỗ trợ cá nhân đương

vấn đề. ở đây tác động của nhóm sẽ mang lại hiệu quả cao hơn là những cuộc
tiếp xúc cá nhân giữa tác viên và thân chủ. Có khi người ta ngại cuộc trao đổi
mặt đói mặt trong bầu không khí nghiêm trang. Bầu không khí nhóm sẽ ít có vẻ
long trọng và họ sẽ thoải mái hơn. Nhóm trở thành một nguồn lực giải quyết
vấn đề quý giá. Dĩ nhiên nhờ sự tác động của tác viên vào diễn tiến của nhóm
thì nhóm mới sinh hoạt thuận lợi. Một lý do cuối cùng để người ta sử dụng
nhóm là sự tiện lợi, đỡ mất thời giờ. Ví dụ như phổ biến một số thông tin cho
các bà mẹ về kế hoạch hóa gia đình khi họ chờ để khám thai. Nếu có nhiều câu
hỏi, trao đổi giữa các bà mẹ thì lượng thông tin sẽ có tác dụng hơn. Tuy nhiên
cũng không nên quên rằng có những trường hợp không phù hợp với phương
pháp nhóm.
- Cung cấp thông tin, giáo dục :
Nhóm giáo dục sức khỏe, nhóm kỹ năng làm cha mẹ, nhóm tình nguyện viên.
- Giải trí :
Vui chơi để đền bù sự mất mát trong cuộc sống. Nếu một người cô đơn hay suy
nghĩ tiêu cực có thể có hành vi tiêu cực, buông xuôi; người khuyết tật hay có
tâm trạng chán đời, mang hình ảnh bản thân thấp kém và sống tách biệt với
những người xung quanh. Chính môi trường sinh hoạt giải trí vui chơi trong
nhóm giúp cho con người cảm thấy lạc quan hơn và tăng cường mối quan hệ.
Tạo điều kiện cho cá nhân có môi trường trung gian giữa cá nhân với một hệ
thống xã hội : Nhóm bệnh nhân và bệnh viện, nhóm phụ nữ nghèo và Quỹ vay
vốn, nhóm trẻ đường phố và trường học hay trung tâm dạy nghề
- Thay đổi và/ hoặc hỗ trợ :
24
Ở đây thường là các nhóm mà NVXH thường xuyên tác động, ảnh hưởng qua lại
lẫn nhau như:
· Nhóm gia đình (nhưng đòi hỏi kỹ năng chuyên môn, tay nghề giỏi mới làm
được, khả năng thành công không cao như ở các nhóm khác), NVXH giúp cải
thiện những trục trặc trong truyền thông và mối quan hệ giữa các thành viên
trong gia đình.

người khác, cá nhân bắt chước và học tập kinh nghiệm của người khác.
o Ảnh hưởng nhóm giúp thay đổi hành vi, thái độ của cá nhân
o Nhóm là môi trường bộc lộ về các mặt : cá tính, suy nghĩ, tâm sự…
o Chương trình hoạt động là một công cụ của công tác xã hội nhóm :
Trị liệu thông qua nhóm nhằm giúp cho thân chủ bộc lộ được cảm xúc, diễn đạt
được cảm nghĩ, tâm tư của mình cho nên nói, đối thoại là hoạt động chủ yếu.
Diễn kịch, vẽ hay một vài hình thức nghệ thuật khác được sử dụng nhưng mục
đích không phải nhắm vào khía cạnh kỹ thuật diễn hay vẽ mà chỉ tạo điều kiện
cho sự bộc lộ.
Trong CTXH nhóm ngoài những hình thức trên, chương trình là công cụ chủ
yếu, nhất là khi CTXH nhằm vào mục đích xã hội hóa. Các hoạt động giải trí,
thể dục thể thao, học kỹ năng sẽ là điểm thu hút và quy tụ nhóm viên. Chương
trình có mục tiêu sẽ là động lực liên kết để vươn tới. Ví dụ sinh hoạt văn nghệ
với mục đích luyện tập cho một buổi biểu diễn thời trang nội bộ, tập kịch để
trình diễn vào cuối năm, sưu tầm các văn bản, hiện vật tiến tới một cuộc triển
lãm về truyền thống v.v Nếu có nhiều nhóm khác nhau cùng nhằm tới một
mục đích, sẽ có sự tranh đua lành mạnh giữa các nhóm.
Chương trình còn giúp giới trẻ phát huy tiềm năng học tập các kỹ năng cần
thiết cho cuộc sống. Chương trình đối với một nhóm hành động có thể là cải
thiện môi sinh, giải quyết một vấn đề khu phố.
Chương trình cần được nghiên cứu, chuẩn bị cho phù hợp và mang tính thu hút
cao đối với đối tượng. NVXH trong CTXH nhóm không nhất thiết là người giỏi về
kỹ năng sinh hoạt vì họ có thể mời sự hợp tác của các chuyên viên, và huy động
tiềm năng của chính nhóm viên. Tuy nhiên, nếu là một NVXH thường xuyên phụ
trách sinh hoạt trẻ thì kỹ năng sinh hoạt hay thủ công rất cần thiết. Hoạt động
cụ thể (lao động) rất tốt về mặt ổn định tâm lý và tạo cơ hội tương tác thật.

Trích đoạn Các loai hình công tác xã hội nhóm:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status