THUYẾT HỆ THỐNG
I.
Cơ sở hình thành và nội dung lý thuyết.
1. Lịch sử hình thành:
Các quan điểm hệ thống trong công tác xã hội có nguồn gốc từ lí
thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanffy. Bertalanffy sinh ngày
19/09/1901 tại Vienna và mất 12/06/1972 tại Newyork- Mĩ. Ông đã
tốt nghiệp các trường đại học: Vienna(1948), London(1949),
Montreal(1949). Ông là một nhà sinh học nổi tiếng. Lí thuyết của ông
là một lí thuyết sinh học cho rằng “ mọi tổ chức hữu cơ đều là những
hệ thống được tạo nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một
phần của hệ thống lớn hơn. Do đó con người là một bộ phận của xã
hội và được tạo nên từ các phân tử , mà được tạo dựng từ các nguyên
tử nhỏ hơn. Lí thuyết này được áp dụng đối với các hệ thống xã hội
cũng như những hệ thống sinh học. Sau này, lí thuyết hệ thống được
các nhà khoa học khác nghiên cứu: Hanson(1995), Mancoske(1981),
Siporin(1980)…và phát triển.
Hanson cho rằng giá trị của thuyết hệ thống là nó đi vào giải quyết
những vấn đề tổng thể nhiều hơn là những bộ phận của các hành vi xã
hội con người. Mancoske thì cho rằng thuyết hệ thống bắt nguồn dưới
học thuyết Darwin xã hội của Herbert Spencer. Theo Siporin đã tìm
hiểu và nghiên cứu khảo sát thực tế trong xã hội cuối thế lỉ XIX ở Anh
để tìm hiểu và phát triển thuyết này. Và cũng có trường phái các nhà
xã hôi học sinh thái Chicago vào những năm 1930 cũng trở thành
những người tiên phong trong phong trào nghiên cứu và tìm hiểu về
thuyết hệ thống.
Người có công đưa lí thuyết hệ thống áp dụng vào thực tiễn công tác
xã hội phải kể đến công lao của Pincus va Minahan cùng các đồng sự
khác. Tiếp đến là Germain và Giterman. Những nhà khoa học trên đã
* Đầu ra:
Những tác động đến môi trường mà năng lượng đi qua thông qua ranh
giới của một hệ thống( những tác động từ môi trường ảnh hưởng tới hành
vi của thân chủ).
* Phản hồi:
Thông tin và năng lượng được chạy qua hệ thống do kết quả đầu ra có tác
động tới môi trường, qua đó thấy rằng phản hồi có kết quả từ đầu ra của
nó( hành vi của thân chủ được thể hiện ra bên ngoài do tác động của môi
trường cà nó có ảnh hưởng tới môi trường. ngược lại môi trường tác động
ngược trở lại làm thay đổi hành vi).
* Entropy:
Cá hệ thống sử dụng năng lượng riêng nhằm duy trì sự vận hành, điều
này cũng có nghĩa là trừ khi các hệ thống nhận được nguồn năng lượng
đầu vào từ bên ngoài ranh giới sau đó hệ thống suy lụi và chết dần( có thể
hiểu entropy là năng lương riêng của mỗi cá nhân khi tham gia hệ thống
và để duy trì hệ thống. tuy nhiên không thể thiếu các năng lượng đầu vào
khác vì nếu không có chúng hệ thống không thể hoạt động bình thường).
- Các trạng thái của một hệ thống:
Các trạng thái của một hệ thống được xác định thông qua 5 đặc trưng:
* Trạng thái ổn định
Hệ thống tự duy trì nó ra sao qua việc nhận được đầu vào và sử dụng nó.
* Trạng thái điều hoà hoặc cân bằng
Là khả năng duy trì bản chất cơ bản của một hệ thống và giữa các hệ
thống với nhau. Dù có sự thay đổi nhất định từ những tác động bên ngoài
vào, nhưng bản chất của hệ thống không thay đổi
chính thức và hệ thống xã hội.
* Hệ thống phi chính thức:
Gia đình, bạn bè, người thân, cộng sự đồng nghiệp…
* Hệ thống chính thức:
Các nhóm cộng đồng, các tổ chức công đoàn…
* Hệ thống xã hội:
Bệnh viện, cơ quan, tổ chức đoàn thể nhà nước, nhà trường…
Tuy nhiên sự phân biệt trên chỉ mang tính tương đối vì với các nhân này
hệ thống trợ giúp có thể là hệ thống chính thức nhưng với cá nhân khác
lại là hệt hống xã hội. Vì thế cách phân chia trên chỉ mang tính tương đối.
Hoặc có thể đối với cá nhân này hệ thống A là hệ thống chính thức,
nhưng đối với cá nhân khác lại là hệ thống Xã hội.
Đối với các cá nhân có vấn đề có lẽ cũng không thể sử dụng các hệ thống
trợ giúp bởi lẽ:
◊ Những hệ thống như vậy có lẽ không tồn tại trong cuộc sống của họ,
hoặc họ có được những nguồn lực cần thiết, hoặc phù hợp với những vấn
đề của họ .
Ví dụ: người già có lẽ không có những người thân hoặc những người
hàng xóm thân thiện, do đó họ không có được một hệ thống chính thức
nào trong cuộc sống của họ
◊ Các cá nhân không biết được hoặc ao ước sử dụng hệ thống này. Ví dụ
một đứa trẻ bị lạm dụng bởi chính cha mẹ của họ mà không cần biết đi
đến đâu để có sự trợ giúp hoặc sợ hãi việc đến chỗ cảnh tự sát hoặc các
dịch vụ xã hội trong trường hợp mà các cá nhân này sống tách xa cha mẹ
những người đã yêu quý chúng mặc dù có những vấn đề lạm dụng như
vậy.
◊ Các chính sách của hệ thống có lẽ cũng tạo dựng được những vấn đề
+ Tiểu hệ thống làm nhiệm vụ tích hợp: Có nhiệm vụ làm cho thế hệ đang
lớn lên của xã hội đó tiếp thu được hệ thống giá trị của xã hội để đảm bảo
chức năng đó là gia đình và nhà trường.
+ Tiểu hệ thống văn hoá: Có nhiệm vụ làm cho các thành viên trong xã
hội có ý thức về sự đồng nhất. Nghĩa là các thành viên trong xã hội hiểu
được tại sao họ thuộc về xã hội này, làm cho mọi người cảm thấy họ gắn
bó với xã hội nhưng không nhất thiết phải đồng ý với tất cả những gì
đang diễn ra trong xã hội.
Điều quan trọng là năm tiểu hệ thống tương đối độc lập với nhau cho dù
có sự chồng chéo giao nhau nhưng chúng không trùng khít nhau mà thực
hiện nhiệm vụ của mình một cách tương đối độc lập với nhau.
II.
Ứng dụng của thuyết hệ thống trong CTXH nhóm:
Lý thuyết hệ thống chỉ ra sự tác động mà các tổ chức , các chính sách,
các cộng động và các nhóm ảnh hưởng lên cá nhân. Cá nhân được
xem như là bị lôi cuốn vào sự tương tác không dứt với nhiều hệ thống
khác nhau. Mục tiêu của CTXH là cải thiện mối tương tác giữa than
chủ và hệ thống.
Nhân viên CTXH có thể sử dụng thuyết hệ thống để tạo sự thuận lợi
cho sự phát triển của tiến trình các nhóm trị liệu và nhóm nhóm mục
đích đạt được các nhiệm vụ và giúp cho các nhóm viên đạt được các
nhu cầu về tình cảm – xã hội.
Ví dụ trong ctxh nhóm : Trong ctxh, đặc biệt là ctxh với nhóm thì
thuyết hệ thống sẽ giúp ích rất nhiều cho nhân viên CTXH trong việc
giải quyết các vấn đề. Chẳng hạn như làm việc với 1 nhóm người phụ
nữ bị bạo hành ở một số vùng nông thôn. Thuyết hệ thống sẽ giúp