thuyết lãnh đạo và ứng dụng trong công tác xã hội - Pdf 16


MỤC LỤC

1
1
Lời nói đầu
Công tác xã hội là một ngành khoa học tương đối non trẻ trên thế giới, tính
chất chuyên nghiệp mới được hình thành hơn 100 năm nay mặc dù có
nguồn gốc hình thành từ xa xưa. Tuy vậy trong xã hội hiện đại công tacx xã
hội (CTXH) đã và đang không ngừng khẳng định vai trò và vị trí quan
trọng của mình trong xã hội. Công tác xã hội là sự vận dụng các lý thuyết
khoa học về hành vi con người và hệ thống xã hội nhằm xây dựng và thúc
đẩy sự thay đổi liên quan đến vị trí, địa vị, vai trò của các cá nhân, nhóm,
cộng đồng, người yếu thế… tiến tới bình đẳng và tiến bộ xã hội.
Đối tượng phục vụ - thân chủ của CTXH là những nhóm, cá nhân yếu thế
được nhân viên CTXH bằng chuyên môn nghiệp vụ của mình sẽ giúp thân
chủ phục hồi các chức năng, khơi dậy các khả năng tiềm ẩn của bản thân
thân chủ để họ tự giải quyết vấn đề gặp phải. Nhân viên CTXH không “làm
hộ, làm cho, làm thay” các thân chủ. Như vậy, trên cơ sở đó ta có thể nhận
định rằng: “CTXH tuy là một ngành khoa học mới, một nghề mới nhưng là
một ngành, một nghề có tính nhân văn sâu sắc”.
Công tác xã hội bao gồm ba phương pháp đó là CTXH cá nhân, CTXH
nhóm và phát triển cộng đồng. Cũng như các ngành khoa học mới khác, lý
thuyết CTXH là các lý thuyết của một ngành khoa học tương đối độc lập,
chúng liên kết chặt chẽ với các lý thuyết và các mô hình của các môn khoa
học khác. Công tác xã hội tiếp nhận lý thuyết của các ngành khoa học liên
đới làm yếu tố xây dựng cho lý thuyết CTXH (như tâm lý học, xã hội
học…). Các lý thuyết CTXH có vai trò làm căn cứ để đánh giá tình hình
đối tượng, xác định vấn đề của họ và đưa ra những lý giải hỗ trợ giải quyết
vấn đề. Ngành công tác xã hội từ khi ra đời và phát triển đến nay đã xây
dựng cho mình một hệ thống lý thuyết đa dạng, phong phú. Và trong phạm

+ Chủ trương: Chủ trương là cái liên kết mọi người với nhà lãnh đạo,
là cái mà trong một nhà lãnh đạo hiệu quả thì luôn đi cùng với tầm
nhìn.
+ Sự tin cậy: Mọi người sẽ không đi theo nhà lãnh đạo trừ khi anh ta
cho họ thấy sự nhất quán và kiên định.
3
3
+ Sự bình dị: Nhà lãnh đạo thành công nhất là những người xem bản
thân như là người hỗ trợ cho nhân viên của mình chứ không phải
buộc nhân viên làm việc cho mình.
+ Bình tĩnh: Lãnh đạo tốt không làm rối tung mọi vấn đề như thể thế
giới sắp sập đến nơi. Họ sẽ đưa ra những câu kiểu như: “chúng ta có
thể giải quyết việc này”.
+ Rõ ràng: Lãnh đạo là người thực sự biết cách làm sáng tỏ vấn đề.
Họ không làm cho nó trở nên phực tạp.
+ Tự chủ: Những nhà lãnh đạo thành công nhất biết họ là ai và sẽ
không cố gắng “uốn” mình để trở thành những người không phải là
họ.
I . Tác giả của thuyết lãnh đạo
Theo Charles Zastrow (1985), có 3 phương pháp tiếp cận chính trong
thuyết lãnh đạo:
- Cách tiếp cận thứ nhất theo đặc điểm
- Cách tiếp cận thứ hai theo phong cách
- Cách tiếp cận thứ ba theo phân quyền.
II . Nội dung chính của 3 phương pháp tiếp cận trong thuyết lãnh đạo.
1. Phương pháp tiếp cận theo đặc điểm.
Phương pháp tiếp cận theo đặc điểm trong lãnh đạo đã tồn tại hàng thế
kỷ nay kể từ khi Aristotle thông qua việc quan sát của bản thân, nhận thấy
rằng một số người có những dấu hiệu là người lãnh đạo ngay khi mới sinh
ra, và trong đó cũng có những người có dấu hiệu của những người bị điều

Trong phong cách lãnh đạo độc tài, người lãnh đạo có quyền hành cụ
thể, tự họ đưa ra các mục tiêu và chính sách, đề xướng ra các hoạt động cho
thành viên của nhóm và lập kế hoạch. Họ cũng là người đưa ra các hình
thức thưởng, phạt và chỉ duy nhất họ biết được các tiến trình các bước hoạt
động của nhóm trong tương lai.
Kiểu quản lý mệnh lệnh độc đoán được đặc trưng bằng việc tập trung
quyền lực vào tay một mình người lãnh đạo, người quản lý – quản lý bằng
5
5
ý chí của mình, trấn áp ý chí và sáng kiến của mọi thành viên nhóm. Lãnh
đạo độc tài thông thường hiệu quả trong tình huống cấp bách và có tính
quyết đoán. Phong cách lãnh đạo này thường được thể hiện nổi bật qua việc
đưa ra quyết định nhóm. Có thể nói, việc ra quyết định nhóm với phong
cách lãnh đạo này thường đơn giản và nhanh chóng, không tốn thời gian.
Người trưởng nhóm khởi xướng và thực hiện quyết định không cần hỏi ý
kiến của thành viên nhóm, không giải thích dài dòng, thể hiện tính quyết
đoán, dám làm dám chịu về các nhiệm vụ mà bản thân gánh vác.
Tuy nhiên, phong cách lãnh đạo này có yếu điểm là làm giảm sút tinh
thần trách nhiệm, sự sáng tạo của các thành viên, dẫn tới sự ỷ lại, trông chờ
của các thành viên và đặc biệt về lâu dài sẽ dẫn tới những cản trở trong việc
chia sẻ, sự đoàn kết trong nhóm và dẫn việc giảm hiệu quả hoạt động của
nhóm.
Đặc điểm của phong cách độc đoán:
- Nhân viên ít thích người lãnh đạo
- Hiệu quả làm việc cao khi có mặt lãnh đạo, và ngược lại.
- Không khí trong tổ chức: gây hấn, dễ dẫn tới xung đột, phụ thuộc vào
định hướng cá nhân.
2.2. Phong cách dân chủ.
Với phong cách lãnh đạo dân chủ, việc đưa ra quyết định thường mất thời
gian và đôi lúc không rõ ràng, nhưng thường lại thành công hơn bởi vì luôn

động với một chút ít hỗ trợ ban đầu của trưởng nhóm. Với phong cách tự
do, nhiều thành viên nhóm thành công khi mà họ cam kết với sự nghiệp của
nhóm, có nguồn lực để thực hiện và hạn chế tối đa ảnh hưởng của lãnh đạo
để công việc có hiệu quả.
Đặc điểm của phương pháp tự do:
- Nhân viên ít thích người lãnh đạo
- Không khí trong tổ chức thân thiện, định hướng nhóm, định hướng
vui chơi.
- Năng suất thấp, người lãnh đạo vắng mặt thường xuyên.
7
7
Tóm lại:
Các loại nhóm khác nhau sẽ cần các kiểu lãnh đạo khác nhau để mang
lại hiệu quả tối đa cho hoạt động nhóm. Tuy nhiên dù tiếp cận theo phong
cách lãnh đạo nào thì cũng cần đảm bảo việc đáp ứng những mong đợi của
thành viên về năng lực, phẩm chất và những hành vi thích hợp của người
trưởng nhóm đối với nhóm viên nhằm đạt mục đích, mục tiêu chung của
nhóm.
Bên cạnh cách phận chia theo ba hình thức trên, cũng dựa vào đặc điểm
phong cách của người lãnh đạo, người ta còn phân chia ra những loại lãnh
đạo theo bốn phong cách lãnh đạo:
- Lãnh đạo ra lệnh
- Lãnh đạo nhượng bộ
- Lãnh đạo cùng tham gia
- Lãnh đạo ủy quyền
3. Phương pháp tiếp cận phân quyền / phân chia dựa vào chức năng.
Ngoài những phương pháp tiếp cận vừa được đề cập ở trên, phương pháp
tiếp cận phân quyền đã được các nghiên cứu quan tâm nhiều trong những
năm gần đây. Theo phương pháp tiếp cận này, quyền lãnh đạo được xác
định là chương trình hoạt động để giúp nhóm đạt được mục đích, mục tiêu

Tóm lại, dù thuộc về nhóm nào chăng nữa, sự lãnh đạo nhóm luôn là yếu tố
then chốt trong thành công của nhóm. Các nhóm thường xuyên đạt được
mục đích, mục tiêu cũng như giữ được các thành viên cũ và thu hút thành
viên mới luôn được đánh giá là tổ chức có người lãnh đạo giỏi. Người lãnh
đạo phải trải qua quá trình học tập, tu dưỡng, rèn luyện nhiều hơn là tự có.
Đó chính là tiến trình đáp ứng các nhu cầu của mọi người thông qua hiểu
biết về hành vi con người.
III. Các kỹ năng và cách thức chọn kiểu lãnh đạo nhóm hiệu quả
1 . Các kỹ năng lãnh đạo nhóm
- Có kiến thức hoặc hiểu biết về mục tiêu và mục đích của tổ chức
mình
- Có khả năng thúc đẩy tiến trình và hoạt động nhóm
9
9
- Có khả năng thu thập thông tin nhiều chiều và đánh giá thông tin
- Có khả năng diễn đạt sự hiểu biết đó hoặc viễn cảnh tương lai của
nhóm cho cả thành viên và những người ngoài nhóm
- Biết cách hoặc học cách làm việc với người khác
- Dành thời gian cho tổ chức của mình và phải xắp xếp khoa học
- Có kỹ năng giao tiếp tốt – họ có thể diễn đạt ý nghĩ của mình một
cách rõ ràng với sự tự tin
- Biết chấp nhận một số mâu thuẫn nào đó và nhận thức được rằng
không ai có thể làm hài lòng tất cả mọi người.
2. Cách thức chọn kiểu lãnh đạo hiệu quả nhất
Không có loại hình lãnh đạo nào luôn phù hợp với mọi hoàn cảnh. Là
một người lãnh đạo bạn cần phải hiểu được nhóm của mình “đang ở đâu?”
có nghĩa là khả năng và kiến thức cũng như sự khao khát và sẵn sàng cho
mọi việc của thành viên nhóm hiện đang ở mức độ nào, và mọi người đã
sẵn sàng để thích ứng kiểu lãnh đạo trong hoàn cảnh đó chưa.
IV. Mô hình tương tác của lãnh đạo

mà nhân viên xã hội cùng nhóm đưa ra các kiểu lãnh đạo nhóm phù hợp.
Và trong các trường hợp có thể nhân viên xã hội đóng vai trò là người
trưởng nhóm hoặc cũng có thể là một thành viên của nhóm đảm nhận vai
trò này cùng với các thành viên nhóm đưa nhóm đạt được mục tiêu và mục
đích đề ra.
Tuy nhiên việc lựa chon các phong cách lãnh đạo trong nhóm cũng
không hoàn toàn cố định trong suốt quá trình nhóm hoạt động. Ở từng giai
đoạn phát triển của nhóm nhân viên xã hội phải cùng với nhóm đưa ra các
cách thức điều phối hoạt động, phong cách lãnh đạo linh hoạt, mềm dẻo. Ví
dụ như ở giai đoạn nhóm bắt đầu hình thành là giai đoạn tập thể chưa ổn
định, có thể xảy ra nhiều mâu thuẫn, xung đột nhóm, mọi thành viên
thường chỉ thực hiện công việc được giao theo nhiệm vụ thì lúc này người
trưởng nhóm nên sử dụng phong cách lãnh đạo độc đoán. Hoặc khi nhóm
11
11
đang ở giai đoạn tập thể phát triển cao, nhóm có bầu không khí tốt đẹp, có
tinh thần đoàn kết, có khả năng tự quản, tự giác cao thì lúc này nên dùng
kiểu lãnh đạo dân chủ hoặc tự do. Ngoài ra cũng cần dựa vào tính cách của
nhóm viên mà lựa chon cách thức lãnh đạo phù hợp. Ví dụ cần độc đoán
với: người ưa chống đối; không có tính tự chủ; thiếu nghi lực; kém tính
sáng tạo, cần dân chủ với: người có tinh thần hợp tác; có lối sống tập thể,
và nên tự do với: những người không thích giao thiệp; hay có đầu óc cá
nhân chủ nghĩa.
12
12
Phần hai: Phân tích ưu điểm và nhược điểm của thuyết
lãnh đạo qua việc can thiệp cụ thể của nhân viên xã hội
với vai trò là người lãnh đạo đối với nhóm những phụ
nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình.
Phụ nữ - nạn nhân của bạo lực - có đủ các biểu hiện của tình trạng trầm

dồn nén
- Giúp các thành viên loại bỏ suy nghĩ tiêu cực
- Giúp các thành viên đối diện với vấn đề của bản thân và căn nguyên
của vấn đề.
- Cùng các thành viên tìm ra giải pháp trị liệu thành công
- Giúp các thành viên phát hiện và khai thác thế mạnh của bản thân
- Hỗ trợ các thành viên kết nối với các nguồn lực và các mối quan hệ.
Tóm lại mục đích của nhóm lúc này là khi tham gia vào nhóm họ được chia
sẻ, hỗ trợ về mặt tâm lý, thoát khỏi tình trạng buồn chán, mặc cảm, nhóm
giúp họ lấy lại sự tự tin để họ có thể chủ động trong cuộc sống…
Như đã trình bày ở phần trên, kỹ năng lãnh đạo là một kỹ năng quan
trong và không thể thiếu trong quá trình thực hành CTXH, nhất là trong
quá trình thực hành CTXH nhóm. Là một nhân viên xã hội và với vai trò là
người lãnh đạo với nhóm những phụ nữ bị bạo lực gia đình và với việc sử
dụng thuyết lãnh đạo tôi nhận thấy trong quá trình làm việc thực tế thuyết
đã đem lại những thuận lợi và khó khăn sau.
1.Những ưu điểm của thuyết lãnh đạo trong qúa trình thực hành
Là một nhân viên xã hội, nắm bắt được đặc điểm tâm lý của những phụ
nữ bị bạo lực gia đình và bằng những kiến thức được học về thuyết lãnh
đạo, vận dụng những ưu điểm của thuyết tôi đã có quá trình can thiệp với
nhóm thành công.
- Nhờ vận dụng thuyết lãnh đạo tôi có khả năng bao quát và cùng với
các thành viên nhóm đưa ra những định hướng, tầm nhìn, mục tiêu
cụ thể cho nhóm.
14
14
- Thuyết lãnh đạo giúp tôi tiến hành điều phối các hoạt động diễn ra
trong nhóm
- Tôi vận dụng những kiến thức của thuyết lãnh đạo trong việc thu hút
sự tham gia của các thành viên nhóm. Những phụ nữ bị bạo lực gia

những cơ hội để chia sẻ mà không khí sinh hoạt nhóm luôn diễn ra một
cách thoải mái, các thành viên cảm thấy tự tin để bộc lộ bản thân.
Các công việc chung của nhóm đưa ra cũng được nhóm viên tham gia
một cách tích cực. Như việc phân công từng cá nhân tìm hiểu các thông
tin, kiến thức và giải pháp cho vấn đề chung của nhóm.
+ Và ở vai trò người trưởng nhóm nhờ sự vận dụng phong cách tự do tôi
đã để các thành viên nhóm tự do xác định và thực hiện các quyết định
hướng tới việc đạt mục tiêu của nhóm. Tôi nhận thấy rằng chính các
thành viên nhóm là những chuyên gia trong vấn đề và hoàn cảnh của
mình. Vì thế, trong một số hoạt động nhóm sự “rút lui” của nhân viên xã
hội là cần thiết.
Chính nhờ sự đa dạng trong các phong cách về lãnh đạo mà thuyết
lãnh đạo đưa ra, tôi đã có sự vận dụng linh hoạt các phong cách lãnh
đạo đó để cùng với nhóm đưa quá trình hoạt động của nhóm đạt được
hiệu quả cao nhất và có quá trình can thiệp thành công với nhóm.
+ Tuy nhiên phong cách lãnh đạo kiểu chỉ dẫn cũng được tôi áp dụng vì
nó giúp tôi trong việc hướng dẫn các thành viên vào các hoạt động
nhóm vì các thành viên nhóm ban đầu tham gia vào nhóm đều có chung
sự thiếu tự tin trong các công việc, sự bi quan, chán nản về cuộc sống…
- Ngoài ra trong suốt quá trình hoạt động của nhóm, thuyết lãnh đạo
đã giúp tôi xác định rõ ràng các công việc mà người trưởng nhóm
phải thực hiện: vai trò của người quản lý các hoạt động nhóm; vai trò
cùng với nhóm lập kế hoạch; vai trò ngoại giao cho nhóm (với chính
quyền địa phương, với các cơ quan pháp luật, với các nhà tạm lánh,
với các tổ chức xã hội…); vai trò là người kiểm soát các mối quan hệ
trong nhóm
16
16
2. Những hạn chế của thuyết lãnh đạo trong thực hành
Bên cạnh những ưu điểm kể trên trong quá trình thực hành với nhóm

18
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status