Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp
dụng cho lưu vực sông Đồng Nai
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
TT CHỮ VIẾT TẮT Ý NGHĨA
1 BVMT Bảo vệ môi trường
2 CLN Chất lượng nước
3 CNTT Công nghệ thông tin
4 CSDL Cơ sở dữ liệu
5 CSSX Cơ sở sản xuất
6 CQQL Cơ quan quản lý
7 GIS Geological Information System
8 HTQL Hệ thống quản lý
9 HTTT Hệ thống thông tin
10 HTS Hệ thống sông
11 KCN Khu công nghiệp
12 KDC Khu dân cư
13 LVS Lưu vực sông
14 LVHTS Lưu vực hệ thống sông
15 NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
16 QCVN Quy chuẩn Việt Nam
17 QLMT Quản lý môi trường
18 TCCP Tiêu chuẩn cho phép
19 TCMT Tiêu chuẩn môi trường
20 TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
21 TN&MT Tài nguyên và Môi trường
22 TNN Tài nguyên nước
23 TP Thành phố
24 TTMT Thông tin môi trường
và KCX đóng góp một lượng lớn nước thải vào lưu vực sông, trong đó lớn nhất là của
Đồng Nai (chiếm 57,2%), TPHCM (23%) và Bình Dương (9%)… Tính đến nay, trên
lưu vực hệ thống sông Đồng Nai có khoảng trên 60 KCN, KCX đang hoạt động, tuy
nhiên chỉ có khoảng trên 1/3 trong số này có hệ thống xử lý nước thải tập trung, số còn
lại đều xả trực tiếp ra sông. Tại Đồng Nai, hiện chỉ có 9/19 khu công nghiệp có nhà máy
xử lý nước thải tập trung.
Hệ thống sông Đồng Nai chảy qua 12 tỉnh thành, đến nay vẫn chưa thống nhất
được mục đích sử dụng và bảo vệ nguồn nước. Trong nhiều trường hợp, phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh này làm ảnh hưởng đến môi trường trong phạm vi của tỉnh kia. Đặc
biệt các tỉnh đầu nguồn như Lâm Đồng, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh,
Long An nếu gây ô nhiễm thì khu vực hạ lưu như TP.Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu,
Đồng Nai phải gánh chịu hậu quả.
Trong năm 2008, Nghị định số 120/2008/NĐ-CP về quản lý lưu vực hệ thống
sông đã ra đời. Với Nghị định này, tài nguyên nước trong lưu vực sông sẽ được quản lý
theo nguyên tắc thống nhất, không chia cắt giữa các cấp hành chính, giữa thượng nguồn
và hạ nguồn; bảo đảm sự công bằng, hợp lý và bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi giữa
các tổ chức, cá nhân trong cùng lưu vực. Cũng trong năm này, Chính phủ đã ban hành
Quyết định số 157/2008/QĐ-CP về việc thành lập Ủy ban BVMT LVHTS Đồng Nai
(gọi tắt là Ủy ban sông Đồng Nai) với chức năng nhiệm vụ, cơ chế hoạt động được quy
định cụ thể. Tuy nhiên, cho đến nay, hoạt động của Ủy ban này vẫn chưa thực sự hiệu
quả. Có rất nhiều lý do cho vấn đề này, nhưng cốt lõi nhất vẫn là sự thiếu hụt một công
cụ quản lý phù hợp nhằm phục vụ cho công tác quản lý môi trường nói chung, quản lý
chất lượng nước nói riêng cho cơ quan này. Một công cụ quản lý mà trong đó có sự
tham gia với nhiều cấp độ khác nhau tùy theo chức năng, nhiệm vụ của tất cả các cơ
quan quản lý môi trường các cấp: Trung ương, cấp vùng, cấp địa phương và cả sự tham
gia của cộng đồng. Ngoài ra, công cụ này cũng nhằm đáp ứng một nhu cầu bức thiết
3
Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp
dụng cho lưu vực sông Đồng Nai
hiện nay trong quản lý môi trường nói chung và quản lý chất lượng nước nói riêng: đó
4. Phạm vi, giới hạn luận văn
Luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến lưu vực hệ thống sông Đồng Nai
với tổng diện tích toàn lưu vực khoảng 44.612 km
2
, bao gồm toàn bộ địa giới hành
chánh của 3 tỉnh thành: Bình Dương, Đồng Nai, TP.HCM, các kết quả đề tài và số liệu
sử dụng được đưa ra trên cơ sở phạm vi, giới hạn như sau:
- Thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội được thu thập từ một số
địa phương đại diện trong lưu vực sông: Bình Dương, Đồng Nai, TP.HCM.
- Về ranh giới lưu vực sông Đồng Nai: Từ hồ Trị An đến ngã ba đèn đỏ.
- Về số liệu: Các số liệu trong để tài được sử dụng dựa trên kết quả quan trắc
chất lượng nước mặt, nước thải của các khu công nghiệp trên lưu vực sông Đồng
Nai của Chi Cục Bảo Vệ Môi Trường Tỉnh Đồng Nai, Viện Khoa học Thủy lợi
miền Nam, Viện Môi Trường và Tài Nguyên Tp.Hồ Chí Minh, đề tài KHCN07-
17 “Xây dựng một số cơ sở khoa học phục vụ cho việc quản lý thống nhất và
tổng hợp chất lượng môi trường nước lưu vực sông Đồng Nai” cơ quan thực
hiện: Trung tâm công nghệ môi trường (ENTEC).
4
Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp
dụng cho lưu vực sông Đồng Nai
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp tài liệu: Tổng hợp các tài liệu, số liệu đã có từ những đề tài
nghiên cứu ứng dụng thiết lập quy hoạch, khảo sát đánh giá hiện trạng, các báo cáo tổng
hợp v.v… đúc kết các thông tin tin cậy để tổng hợp ra những diễn biến của việc thay đổi
chất lượng nước trên lưu vực sông Đồng Nai do các tác động của nguồn thải gây ra.
Phương pháp thống kê, xử lý số liệu, thống kê, so sánh
- Phương pháp xử lý số liệu: Nhập, xử lý các số liệu điều tra, các số liệu phân
tích bằng EXCEL, WORD. Nhập các kết quả thống kê được thực hiện trên các kết quả
phân tích mẫu và xử lý để đưa ra nhận định.
- Phương pháp thống kê: sử dụng trong phân tích, xử lý số liệu, truy vấn dữ liệu
từ 106
o
44’45” đến 107
o
34’50” kinh độ Đông. Tỉnh có diện tích tự nhiên lớn nhất trong
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (590.215,47 ha) và có các tiếp giáp ranh giới cụ thể
bao gồm:
+ Phía Đông giáp với tỉnh Bình Thuận.
+ Phía Đông Bắc giáp với tỉnh Lâm Đồng.
+ Phía Tây Bắc giáp với các tỉnh Bình Dương và Bình Phước.
6
Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp
dụng cho lưu vực sông Đồng Nai
+ Phía Tây giáp với thành phố Hồ Chí Minh.
+ Phía Nam giáp với tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Tỉnh có hệ thống giao thông đường bộ và đường sắt phát triển như: Quốc
lộ 1A, 20, 51 và đường sắt Bắc - Nam; có sân bay quân sự Biên Hòa rộng 40
km2 và đã quy hoạch xây dựng sân bay Quốc tế Long Thành rộng 50 km
2
, đồng
thời có hệ thống giao thông đường thủy quan trọng như: sông Đồng Nai, Đồng
Tranh và Thị Vải, tạo nên nhiều lợi thế giao lưu kinh tế - văn hóa với các tỉnh,
thành khác trong phạm vi cả nước.
- Tỉnh là một địa bàn trọng yếu về kinh tế, chính trị và an ninh - quốc phòng, có
vị trí rất quan trọng trong sự phát triển của cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và sự
thật tỉnh đã sớm tận dụng được một số lợi thế so sánh của vùng trong công cuộc đổi mới
kinh tế hiện nay để đạt được những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội rất đáng kể
trong thời kỳ 1995 - 2005.
Bình Dương
Bình Dương là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, phía bắc giáp Bình Phước,
trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng
và còn là một cửa ngõ quốc tế.
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông
Cửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây.
Vùng cao nằm ở phía Bắc - Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến
25 mét. Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở
quận 9. Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía Nam - Tây Nam và Ðông Nam thành
phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét. Các khu vực
trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận
12 có độ cao trung bình, khoảng 5 tới 10 mét.
1.2. Điều kiện tự nhiên
Đồng Nai
Địa hình đặc trưng của tỉnh là kiểu núi thấp và bán bình nguyên, có bề mặt
nghiêng thoải từ Tây Bắc xuống Tây Nam (tức là nghiêng về phía lòng sông
9
Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp
dụng cho lưu vực sông Đồng Nai
Đồng Nai). Có thể phân chia các mức địa hình theo độ cao tuyệt đối như sau
(theo chiều giảm dần của độ cao tuyệt đối):
- Mức cao 837 - 400 m: Địa hình đặc trưng bởi những núi đẳng thước, độc lập
cách xa nhau như núi Chứa Chan (837m), núi Sóc Lu (418m), núi Suối Râm (444m) và
núi Mây Tào chung với tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (708m).
- Mức cao 300 - 100 m: Tương đối phổ biến trên địa bàn tỉnh, phân bố rải rác từ
Bắc xuống Nam dài gần 100 km không liên tục. Dải địa hình này có đặc điểm có nơi
dạng vòm (vùng rừng Cát Tiên - Tân Phú). Đường kính vòm rộng 25-30 km nằm giữa
hai lưu vực sông Mã Đà (thượng nguồn sông Bé) và sông Đồng Nai. Đỉnh vòm cao 372
m là nơi hội tụ của nhiều đầu nguồn suối kiểu tỏa tia đặc trưng. Về phía Nam (của hồ
Trị An) dải núi tựa như một nóc nhà khổng lồ chia nước cho hai phía Đông và Tây
thuộc lưu vực sông Đồng Nai và sông La Ngà. Mức chia cắt sâu, chia cắt ngang từ 50 -
100 m. Vùng ít lộ đá gốc, lớp vỏ khá dày.
Có các con sông lớn chảy qua địa phận tỉnh là: sông Đồng Nai, sông Sài
Gòn và sông Bé với nhiều kênh rạch, sông con, cung cấp nước tưới cho đồng
ruộng và tạo điều kiện cho ghe thuyền đi lại thuận tiện.
Khí hậu: Có hai mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau,
mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10. Nhiệt độ trung bình năm 27ºC.
TP.HCM
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, Thành phố Hồ Chí Mình
có nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mưa – khô rõ rệt. Mùa mưa được bắt
đầu từ tháng 5 tới tháng 11, còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau. Lượng
mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm, trong đó năm 1908 đạt cao
nhất 2.718 mm, thấp nhất xuống 1.392 mm vào năm 1958.
10
Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp
dụng cho lưu vực sông Đồng Nai
Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa
Tây – Tây Nam và Bắc – Ðông Bắc. Gió Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dương, tốc độ trung
bình 3,6 m/s, vào mùa mưa. Gió Bắc – Ðông Bắc từ biển Đông, tốc độ trung bình 2,4
m/s, vào mùa khô. Có thể nói Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão.
Cũng như lượng mưa, độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa, 80%, và
xuống thấp vào mùa không, 74,5%. Trung bình, độ ẩm không khí đạt bình quân/năm
79,5%.
1.3. Kinh tế - xã hội
Đồng Nai
Kinh tế Đồng Nai giai đoạn 2005 - 2010 đạt tốc độ tăng trưởng cao, ổn định và
khá bền vững; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng, thúc đẩy nhanh tiến trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh.
Sản xuất công nghiệp tiếp tục đạt nhịp độ tăng trưởng cao. Một số ngành công
nghiệp chủ lực, công nghiệp có lợi thế so sánh phát triển nhanh; công nghiệp cơ khí
phục vụ nông nghiệp được đầu tư đúng mức, phục vụ đắc lực cho yêu cầu công nghiệp
hóa nông nghiệp, nông thôn; bước đầu phát triển được một số ngành công nghiệp kỹ
dụng cho lưu vực sông Đồng Nai
- Cơ cấu kinh tế của tỉnh là công nghiệp: 65,5%; dịch vụ: 30%; nông nghiệp:
4,5%.
- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng bình quân 14-15%/năm.
- Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cả thời kỳ đạt 3 tỷ USD.
- 90% trường trung học phổ thông, tiểu học đạt chuẩn quốc gia.
- Phổ cập giáo dục bậc trung học. -95% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.
- Tỷ lệ hộ nghèo còn 2,5% (theo chuẩn mới của tỉnh 400.000 đồng/người/tháng
đối với nông thôn và 500.000 đồng/người/tháng đối với thành thị). Theo mục tiêu phấn
đấu đến năm 2020, để nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
thì nông nghiệp giảm xuống còn 15-16%, công nghiệp và xây dựng 43-44%, dịch vụ
40-41%. Với tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp luôn ở mức cao như hiện nay là
35%/năm (2001-2005) thì Bình Dương sẽ là một trong những tỉnh về đích trước và sớm
trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại.
TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam. Thành phố
chiếm 0,6% diện tích và 7,5% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,2% tổng sản
phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài. Vào năm 2005,
Thành phố Hồ Chí Minh có 4.344.000 lao động, trong đó 139 nghìn người ngoài độ tuổi
lao động nhưng vẫn đang tham gia làm việc. Năm 2007, thu nhập bình quân đầu người
ở thành phố đạt 2.100 USD/năm, cao hơn nhiều so với trung bình cả nước, 730
USD/năm vào 2006.
Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ,
thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính Cơ cấu
kinh tế của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%,
phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm
tỷ trọng cao nhất: 51,1%. Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông
nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%.
Tuy vậy, nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với nhiều
khó khăn. Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại.
với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Đoạn sông này
có chức năng cấp nước sạch đồng thời tiếp nhận nước thải của Tp.Hồ Chí Minh,
Tp.Biên Hòa, các KCN, vùng sản xuất nông nghiệp của tỉnh Đồng Nai, Tp.Hồ Chí
Minh, Bình Dương. Tuy nhiên nguồn tài nguyên nước có ý nghĩa sống còn này đang ở
mức nguy hiểm về chất lượng và khả năng cung cấp nước sạch. Để duy trì nguồn tài
nguyên nước quý giá này cần phải có biện pháp quản lý, bảo vệ mà bước đầu tiên là
phải phân đoạn quản lý theo các mục tiêu thích hợp nhất cho hiện tại và trong tương lai.
Nhìn chung, tài nguyên nước mặt ở LVHTS Đồng Nai tương đối khá. Tuy
nhiên, điều kiện tự nhiên không cho phép để có thể điều chỉnh lại dòng chảy cho
phù hợp với nhu cầu sinh hoạt và phát triển KTXH đối với toàn bộ vùng lãnh thổ
LVHTS Đồng Nai với lượng nước hàng năm 24,3 tỷ m
3
.
1.4.2. Diễn biến chất lượng nước sông Đồng Nai những năm gần đây
Sông Đồng Nai có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh Đồng Nai, là nguồn nước cấp cho sinh hoạt của tỉnh Đồng Nai, Bình
Dương và thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, sông Đồng Nai không chỉ là nguồn tiếp
nhận lượng chất thải từ các đô thị và khu công nghiệp trong tỉnh, mà còn tiếp nhận một
lượng chất thải khá lớn từ một số tỉnh, thành lân cận. Vì vậy, sông Đồng Nai đã được
quan trắc tác động thường xuyên nhằm theo dõi diễn biến nhạy cảm trong chất lượng
của nguồn nước sinh hoạt quan trọng này.
Bảng 1 Diễn biến chất lượng nước sông Đồng Nai trong giai đoạn 2005-2009
Thông số Giá trị 2005 2006 2007 2008 2009
TCVN
5942 – 1995
(cột A)
Số lượng mẫu xử
lý :
606 654 1.206 822 363
pH TB 7,2 7,0 7,1 7,0 6,6 6,0 – 8,5
đến năm 2005 sẽ có thêm nhà máy nước Thiện Tân thuộc tỉnh Đồng Nai (200.000
m
3
/ngày.đêm); nhà máy nước Bình An thuộc tỉnh Bình Dương (100.000 m
3
/ngày.đêm).
Lượng nước khai thác trên sông Đồng Nai vào năm 2005 tối thiểu là 1.000.000
m
3
/ngày.đêm. Với vai trò là nguồn cung cấp nước sạch cho sinh hoạt, nước sông Đồng
Nai được bảo vệ để đạt loại A của TCVN về chất lượng nước mặt. Nồng độ các thông số
ô nhiễm của nước sông Đồng Nai được quan trắc hàng tháng. Kết quả của hệ thống
quan trắc chất lượng nước sông Đồng Nai (Cục Môi trường và Sở KHCN & MT tỉnh
Đồng Nai) cũng như các khảo sát của các cơ quan khoa học trong những năm gần đây
cho thấy chất lượng nước sông Đồng Nai (đoạn sông từ sau hồ Trị An đến điểm hợp lưu
của sông Đồng Nai và sông Sài Gòn) đã xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ. Nguyên
nhân chính là nước thải sinh hoạt, công nghiệp từ các khu vực đô thị, khu công
nghiệp… nằm ven sông
Bảng 1 Diễn biến chất lượng nước hồ Trị An trong giai đoạn 2005-2009
Thông số Giá trị 2005 2006 2007 2008 2009 TCVN
5942-1995
(cột A)
Tổng số mẫu: 66 66 66 66 108
pH TB 7,3 7,0 7,4 6,8 7,1 6,0 – 8,5
DO TB 6,3 6,6 6,7 5,8 6,6 ≥ 6
BOD
5
TB 4 3 2 4 7 < 4
SS TB 27 23 24 17 36 20
NH
Nam. Ngoài ra, CLN còn chịu tác động mạnh bởi hoạt động phát triển thủy điện - thủy
lợi, việc sử dụng ngày càng nhiều phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong
nông nghiệp, hoạt động khai thác khoáng sản, phát triển giao thông vận tải thủy Trong
số các nguồn thải có lưu lượng thải lớn, nước thải công nghiệp và sinh hoạt đóng góp tỷ
lệ lớn nhất, với tải lượng các chất ô nhiễm rất cao.
[1].
1. 5.1. Hoạt động của các KCN và KCX
Tính đến nay, trên lưu vực có khoảng hơn 70 KCN và KCX đang hoạt động,
trong số đó chỉ có 21 KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung, còn lại đều xả trực
tiếp vào nguồn nước, gây tác động lớn đến CLN của các nguồn tiếp nhận, chủ yếu là
15
Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp
dụng cho lưu vực sông Đồng Nai
khu vực trung lưu và hạ lưu sông Đồng Nai (KCN của Đồng Nai, Bình Dương), sông
Sài Gòn (KCN của TP.HCM, Bình Dương) và sông Thị Vải (KCN, cảng nước sâu của
Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu). Cùng với lượng lớn nước thải sinh hoạt, nước thải từ
các KCN và các CSSX công nghiệp phân tán đã gây ô nhiễm nghiêm trọng khu vực hạ
lưu sông Đồng Nai, sông Sài Gòn.
Bảng 1 Các khu công nghiệp trên địa bàn ba tỉnh: Đồng Nai, Bình Dương,
Tp.HCM
KCN Huyện Tỉnh Diện tích
Biên Hòa 1 Biên Hòa Đồng Nai 335 ha
Biên Hòa 2 Biên Hòa Đồng Nai 376 ha
Amata Biên Hòa Đồng Nai 361 ha
Hố Nai Trảng Bom Đồng Nai 225,71 ha
Sông Mây Trảng Bom Đồng Nai 255,4ha
Loteco Biên Hòa Đồng Nai 100 ha
Bầu Xéo Trảng Bom Đồng Nai 499,87 ha
Nam Tân Uyên Tân Uyên Bình Dương 330,5 ha
Linh Trung Q.Thủ Đức Tp.HCM 326,37 ha
lưu vực. Nhóm khoáng sản kim loại tập trung chủ yếu ở khu vực thượng lưu
(Lâm Đồng, Đồng Nai), nhóm khoáng sản phi kim (cát, đá, đất sét ) tập trung ở
vùng hạ lưu (Bình Dương, TP.HCM, Đồng Nai, Long An). Các hoạt động này
đang là một nguyên nhân gây ảnh hưởng đến CLN mặt (trong đó có ô nhiễm kim
loại nặng).
Khai thác quặng Bôxit (Lâm Đồng - thượng nguồn sông Đồng Nai) và
khai thác vàng (khoảng 50 điểm quặng và mỏ vàng tập trung ở phía bắc tỉnh
Đồng Nai, Lâm Đồng và một phần phía nam tỉnh Đắk Nông): chủ yếu là hoạt
động khai thác lộ thiên, phương tiện khai thác rất thủ công. Hoạt động khai thác
sử dụng đến hàng trăm nghìn m
3
nước; việc đào bới, rửa xói từ hàng chục đến
trăm nghìn tấn đất, thải ra sông suối cũng đã làm suy giảm mạnh mẽ CLN sông
Đồng Nai.
1. 5.4. Nước thải sinh hoạt
Hiện nay, trên toàn lưu vực có hơn 77 khu đô thị với dân số khoảng trên 15 triệu
người. Các khu đô thị phân bố không đồng đều, tập trung nhiều nhất trên sông Sài Gòn.
Khu vực từ trung tâm TP.HCM đến Thị xã Thủ Dầu Một tập trung khoảng gần 8 triệu
dân. Tốc độ đô thị hóa nhanh, trong khi đó hạ tầng kỹ thuật đô thị phát triển không
tương xứng, làm gia tăng ô nhiễm do nước thải sinh hoạt.
Các khu đô thị hàng ngày thải vào LVHTS Đồng Nai trung bình khoảng 992.000
m
3
nước thải sinh hoạt. Tất cả các đô thị trên LVS đều chưa có hệ thống xử lý nước thải
sinh hoạt. Đây là nguồn thải lớn, gây suy giảm CLN tại lưu vực, đặc biệt là ô nhiễm hữu
cơ và vi si nh.
Bảng 1 Các khu dân cư trên lưu vực sông Đồng Nai
Địa phương Tỉnh Dân số năm 1999
Tân Uyên Bình Dương 115104
17
thải sinh hoạt và được đưa vào nguồn nước mặt trong LVS. Đây là nguồn tiềm ẩn nguy
cơ lan truyền dịch bệnh qua môi trường nước.
1.5.6. Hoạt động nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
Trồng trọt
LVHTS Đồng Nai hiện có khoảng 1,8 triệu ha đất nông nghiệp (chiếm 48,7%
diện tích toàn lưu vực). Hoạt động canh tác này cũng đã gây ảnh hưởng xấu đến CLN
do việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật không đúng quy cách.
Việc khai thác và cải tạo đất phèn trên một số vùng như Long An, Củ Chi, Bình
Chánh (TP.HCM), cộng với việc sử dụng phân bón có đặc tính chua làm gia tăng mức
độ axít hóa nước sông Sài Gòn và Vàm Cỏ Đông.
Chăn nuôi
Lâm Đồng, Bình Thuận và Đồng Nai là những khu vực có hoạt động chăn nuôi
phát triển rất mạnh trong lưu vực. Tổng lượng nước thải từ hoạt động chăn nuôi trên
toàn LVS là khoảng 147.300 m
3
/ngày. Hầu hết lượng nước thải này đều được đổ trực
tiếp xuống các nguồn nước mặt mà không qua xử lý.
Nuôi trồng thuỷ sản
Hiện nay, nuôi trồng thủy sản nước ngọt phát triển rộng trên toàn lưu vực (nuôi
cá bè, nuôi trong ao hồ, hồ chứa nước ). Tổng diện tích nước mặt nuôi trồng thủy sản
của các địa phương trên toàn lưu vực khoảng 71.800 ha, sản lượng nuôi đạt xấp xỉ
500.000 tấn/năm. Nước thải và chất thải từ hoạt động nuôi trồng thuỷ sản thường không
được kiểm soát, không qua xử lý mà thải trực tiếp vào môi trường nước, gây tác động
18
Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp
dụng cho lưu vực sông Đồng Nai
đáng kể đến CLN mặt trong LVS. Thêm vào đó, các sự cố do tôm, cá nuôi chết hàng
loạt không được xử lý kịp thời cũng là nguồn làm suy giảm CLN mặt nghiêm trọng.
1.5.7. Hoạt động giao thông vận tải thủy
LVHTS Đồng Nai có nhiều sông lớn, rộng, sâu và luồng lạch ổn định, đặc biệt là
lực thực hiện công tác ĐTM của các tỉnh/TP trong thời gian qua là rất đáng khích
lệ, góp phần không nhỏ trong việc BVMT cũng như bảo vệ CLN tại LVS.
1.6.1.2. Tình hình cấp phép xả nước thải
Việc xin và cấp phép xả nước thải vào nguồn nước đã được quy định tại Điều
18, Luật Tài nguyên nước. Ngoài ra, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 quy định cụ thể về việc cấp phép thăm dò, khai thác,
sử dụng TNN, xả nước thải vào nguồn nước và Bộ TN&MT cũng đã ban hành Thông tư
số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24-6-2005 hướng dẫn việc thực hiện Nghị định này.
Theo báo cáo của các địa phương trong lưu vực, nhiều nơi đã thực hiện việc
thống kê các cơ sở xả thải thuộc diện phải xin cấp phép, nhưng cho đến nay trên cả
LVS, số lượng giấy phép xả nước thải vào nguồn nước cấp được còn rất ít so với số
lượng các đối tượng phải xin cấp phép. Tính đến cuối tháng 6 năm 2006, có rất ít giấy
19
Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp
dụng cho lưu vực sông Đồng Nai
phép được cấp trong tổng số khoảng hàng trăm các CSSX kinh doanh thuộc diện phải
xin cấp phép xả nước thải, cho thấy công tác này cần triển khai chặt chẽ hơn nữa trong
thời gian tới.
1.6.1.3. Tình hình áp dụng các công cụ kinh tế
Công cụ kinh tế như phí, thuế, quỹ…đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ
CLN LVS. Công cụ kinh tế giúp các tổ chức và cá nhân lựa chọn cách ứng xử hiệu quả
trong khai thác, sử dụng và bảo vệ CLN, mà cụ thể là trong thủy nông, cấp thoát nước
đô thị và khắc phục ô nhiễm nguồn nước, bao gồm: định giá dịch vụ nước, tự chủ tài
chính của doanh nghiệp, thuế TNN và các thuế khác, chính sách huy động vốn đầu tư
phát triển, thu phí BVMT đối với các hộ dân, CSSX kinh doanh… trên LVS.
Tại LVHTS Đồng Nai, các công cụ kinh tế cũng được áp dụng nhằm hạn chế
đến mức thấp nhất sự suy giảm CLN, cụ thể là tiến hành thu phí nước thải. Đồng thời,
Quỹ BVMT Việt Nam ra đời với mục đích hỗ trợ tài chính trong lĩnh BVMT trên phạm
vi cả nước mà không vì mục đích lợi nhuận. Mặc dù số dự án lập hồ sơ vay vốn và số
dự án được chấp thuận cho vay vốn tại các tỉnh, TP thuộc LVHTS Đồng Nai còn rất ít
dụng TNN; phòng chống, giảm thiểu tác hại do nước gây ra và BVMT có liên quan đến
20
Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp
dụng cho lưu vực sông Đồng Nai
TNN LVS (vùng lãnh thổ), bao gồm xác định các mục tiêu, các vấn đề ưu tiên và giải
pháp tổng thể cho việc thực hiện các mục tiêu đạt ra của quy hoạch;
+ Xác định các quy tắc, các họat động cần thực hiện để quản lý sử dụng tổng
hợp và bền vững TNN LVS, bao gồm: chia sẻ, khai thác, sử dụng và phát triển TNN;
Bảo vệ TNN và các hệ sinh thái dưới nước; Phòng, chống và giảm thiểu tác hại do nước
gây ra.
Phân vùng khai thác, sử dụng TNN và xả nước thải
Việc quy hoạch phân vùng khai thác, sử dụng TNN và xả nước thải vào nguồn
nước là hết sức quan trọng. Khi chưa có các quy hoạch này, sẽ xảy ra tình trạng nước
thải được xả vào đoạn sông phía trên nhưng phía dưới lại lấy nước dùng cho sinh hoạt.
Vì vậy, tuy chưa có quy hoạch đầy đủ về khai thác, sử dụng và bảo vệ TNN, nhưng một
số địa phương đã có quy định về phân vùng khai thác, sử dụng TNN và xả nước thải
vào nguồn nước như: Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu. Đây cũng là một căn cứ tốt cho
việc cấp phép xả nước thải vào nguồn nước. Tuy nhiên, để thực hiện tốt việc quản lý
tổng hợp LVS nhằm tránh những xung đột, mâu thuẫn giữa các địa phương, giữa các
vùng thượng, trung và hạ lưu các con sông, việc phân vùng khai thác sử dụng TNN và
xả nước thải vào nguồn nước cần được thực hiện, góp phần bảo vệ CLN chung cho toàn
lưu vực.
Quy hoạch của các ngành khai thác sử dụng nước
Trong các quy hoạch của ngành khai thác, sử dụng nước, quy hoạch thủy lợi và
thủy điện là hai ngành có tác động lớn làm thay đổi nguồn nước do các hồ, đập, công
trình thủy lợi, thủy điện điều tiết lại dòng chảy. Cho đến nay, đã có khá nhiều quy hoạch
thủy lợi và thủy điện trên LVS như: Quy hoạch thủy lợi LVS Đồng Nai; Quy hoạch lũ
sông Đồng Nai; Quy hoạch bậc thang thủy điện trên HTS Đồng Nai. Điều này cũng góp
phần tác động đến CLN chung của lưu vực.
1.6.4. Công tác quan trắc, thông tin môi trường
hoạt động quan trắc môi trường còn yếu làm ảnh hưởng đến chất lượng và tính
thống nhất của số liệu.
1.6.4.2. Hệ thống thông tin (HTTT) và cơ sở dữ liệu (CSDL)
Hiện tại, chưa có HTTT môi trường LVHTS cả ở mức quốc gia cũng như ở mức
lưu vực, cũng như chưa có chuẩn thống nhất cho HTTT và cơ chế cập nhật thông tin
môi trường (TTMT) các LVS trong cả nước. Trong năm 2006, Cục BVMT phối hợp với
các tỉnh trong lưu vực tiến hành xây dựng và cập nhật thông tin cho trang thông tin điện
tử về môi trường LVS. Một số địa phương trên các LVS đã tiến hành xây dựng CSDL
môi trường tại địa phương mình. Tuy nhiên, chưa có các CSDL ở cấp lưu vực hoặc tiểu
lưu vực. Việc trao đổi, chia sẻ số liệu, TTMT giữa các tỉnh trong lưu vực và giữa các
lưu vực với nhau cũng còn nhiều hạn chế. Nghị định số 162/2003/NĐ-CP ngày
19/12/2003 của Chính phủ về việc Ban hành Quy chế thu thập, quản lý, khai thác, sử
dụng dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước, là văn bản cung cấp cơ sở pháp lý cho việc
phát triển các mô hình quản lý dữ liệu về TNN cùng với việc xác định rõ vai trò, trách
nhiệm của các cơ quan có liên quan trong việc quản lý số liệu. Tuy nhiên, đến nay Quy
chế vẫn chưa được thực thi một cách hiệu quả.
1.6.5. Công tác xây dựng nguồn nhân lực
1.6.5.1. Đội ngũ cán bộ
Đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực BVMT LVS bao gồm: cán bộ quản lý
(QLMT LVS, kiểm soát ô nhiễm LVS, quản lý TNN mặt, thanh tra môi trường) và cán
bộ quan trắc môi trường (nước mặt lục địa, nước biển ven bờ) đang rất thiếu hụt về số
lượng. Bộ máy quản lý nhà nước về BVMT nói chung và bảo vệ CLN LVS nói riêng
tuy đã được tăng cường, nhưng còn thiếu về số lượng (đặc biệt ở cấp địa phương) và
hạn chế về năng lực.
Trong số 12 tỉnh, thành phố trên LVHTS Đồng Nai, TP.HCM là địa phương có
điều kiện tốt nhất về nguồn nhân lực cho công tác QLMT, đặc biệt là quản lý CLN. Tại
Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi Cục BVMT TP đã được tăng cường về nhân sự và cơ
sở vật chất để thực hiện các hoạt động tác nghiệp như: quan trắc môi trường, thu phí
nước thải, tư vấn cho các tổ chức và doanh nghiệp về quản lý CLN,… Tại 24
quận/huyện của TP cũng đều có Phòng TNMT với biên chế trung bình khoảng 3-4
nhiên, sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ CLN LVS hiện vẫn còn nhiều
hạn chế:
- Tiềm năng của cộng đồng vẫn chưa được phát huy đầy đủ, sự tham gia
của cộng đồng vào các quá trình ra quyết định, hoạch định chính sách và các hoạt
động bảo vệ CLN vẫn còn nhiều hạn chế.
- Trách nhiệm bảo vệ CLN LVHTS và tuân thủ pháp luật của các doanh
nghiệp cũng như cộng đồng chưa cao.
- Nhận thức của cộng đồng dân cư với công tác bảo vệ CLN LVS còn là
vấn đề cần được quan tâm. Vấn đề này sẽ còn tồn tại cho đến khi chuyển biến
được tư tưởng cố hữu vốn không quen coi việc BVMT là trách nhiệm của bản
thân của cộng đồng.
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1. Cơ sở pháp lý liên quan
Ở cấp quốc gia, Cục BVMT - Bộ TN&MT đóng vai trò chủ đạo trong công tác
quản lý CLN tại LVS. Bên cạnh đó, tùy theo chức năng, các Bộ ngành khác có sự phối
hợp thực hiện công tác quản lý CLN, như Bộ NN&PTNT, Bộ Y tế,
Trong thời gian qua, Bộ TN&MT đã đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện thể
chế về quản lý TNN, trình Chính phủ ban hành nhiều Nghị định hướng dẫn thi hành
Luật TNN, trình TTCP quyết định phê duyệt Chiến lược TNN quốc gia đến năm 2020;
xúc tiến xây dựng quy hoạch một số LVS qua đó tăng cường đáng kể công tác quản lý
TNN. Tuy nhiên, việc quy định quản lý LVS còn có sự chồng chéo, thể hiện ở Nghị
định 91/2003/NĐ-CP giao Bộ TN&MT quản lý TNN trong khi Nghị định 86/2004/NĐ-
CP lại giao Bộ NN&PTNT quản lý vật thể chứa nước (LVS), gây khó khăn cho việc
quản lý thống nhất TNN. Các quyết định gần đây của TTCP đã phân định rõ vai trò của
các cơ quan liên quan trong một số công việc cụ thể. Tại Quyết định số 123/2006/QĐ-
TTg ngày 03/6/2006, TTCP đã giao cho Bộ TN&MT chức năng lập quy hoạch về sử
23
Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp
dụng cho lưu vực sông Đồng Nai
- Điều 61 quy định về trách nhiệm của UBND cấp tỉnh đối với BVMT nước
trong LVS.
- Điều 62 quy định về tổ chức BVMT nước của LVS.
Các tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường liên quan đến bảo vệ CLN sông, hồ cho
các mục đích sử dụng nước được ban hành lần đầu tiên vào năm 1995, sửa đổi năm
2001 và 2005. Năm 2008, Bộ TN&MT đã ký quyết định ban hành một số quy chuẩn đối
với nước mặt và nước thải . Tuy nhiên, các quy chuẩn liên quan đến trầm tích đáy và
bùn thải vẫn chưa được xây dựng và ban hành.
Luật Tài nguyên Nước (1998) có các quy định liên quan đến nước mặt, nước
mưa, nước dưới đất và nước biển. Luật này nghiêm cấm thải các chất thải độc hại, nước
thải chưa qua xử lý hoặc nước thải đã qua xử lý nhưng chưa đạt TCCP cho phép vào
nguồn nước. Việc cấp phép xả thải phải căn cứ vào khả năng chịu tải của nguồn tiếp
nhận. Nước thải phải được xử lý đạt TCCP trước khi xả thải. Song, việc áp dụng và thực
thi Luật BVMT, Luật TNN và Hệ thống Tiêu chuẩn/Quy chuẩn Việt Nam về môi trường
nhằm mục tiêu kiểm soát ô nhiễm và quản lý CLN vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập.
Tại LVHTS Đồng Nai, sự phối hợp trong BVMT cũng như công tác quản lý
CLN được thể hiện qua các cột mốc sau:
24
Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp
dụng cho lưu vực sông Đồng Nai
- Tháng 11 năm 2001, đại diện của 12 UBND các tỉnh, TP trong lưu vực đã thoả
thuận và thành lập Uỷ ban BVMT LVS Đồng Nai.
- Ngày 28/12/2001, tại TP.HCM đã tổ chức Hội nghị Chủ tịch UBND các
tỉnh/TP trên lưu vực để thảo luận về hợp tác giữa các địa phương trong việc quản lý
nguồn nước toàn LVS.
- Ngày 21/3/2002, Chính phủ có công văn số 291/CP-KG, giao UBND TP.HCM
chủ trì, phối hợp với UBND các tỉnh trong lưu vực xây dựng đề án BVMT LVHTS
Đồng Nai.
- Tháng 5/2004, Bộ TN&MT đã phối hợp với các địa phương thuộc lưu vực và
các cơ quan khoa học họp bàn triển khai Chương trình BVMT LVHTS Đồng Nai.
Công ty điện lực Việt Nam.
5 Bộ KHCN • Thẩm định dự thảo và công bố các tiêu
chuẩn CLN do Bộ TN&MT xây dựng.
6 Bộ Xây dựng • Quản lý các công trình công cộng đô thị;
• Thiết kế và xây dựng các công trình cấp
25