Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
CHƯƠNG1
MỞ ĐẦU
SVTH: Nguyễn Văn Quyết Trang - 4 –
MSSV: 107108066
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.2 MỤC TIÊUCỦA ĐỀ TÀI
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.5 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bình thuận với lợi thế là một tỉnh ven biển miền Trung Việt Nam, nằm
trong vùng nhiệt đới, có bờ biển dài, có nhiều bãi biển tự nhiên sạch, đẹp. Vùng
ven bờ biển Bình Thuận không chỉ giàu nguồn lợi về các loại hải sản mà còn là
khu vực có tiềm năng cho phát triền ngành du lòch sinh thái nghỉ dưỡng nhờ khí
hậu nắng ấm, không khí trong lành, có cảnh quan thiên nhiên hoang sơ, đa dạng
và độc đáo, có nhiều danh lam thắng cảnh sơn thủy hữu tình với những công trình
kiến trúc di tích văn hóa lòch sử nổi tiếng như: Lầu Ông Hoàng, Khu du tích Dục
Thanh, Tháp chăm Pôsanư, Chùa Hang, Dinh Thầy Thím,… có nhiều bãi tắm sạch
đẹp như Long Sơn, Hòn Rơm, Mũi Né, Hàm Tiến, Đồi Dương, Thương Chánh,
Tiến Thành…, do đó đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đầu tư.
Nhiều khu du lòch mới với các loại hình nghỉ dưỡng, nghỉ mát, khu du lòch sinh
thái, du lòch dã ngoại đã được đầu tư xây dựng tại Bình Thuận.
Chính vì vậy, hàng ngày nơi đây đã đón một số lượng lớn khách du lòch
trong và ngoài nước, lượng nước thải theo đó cũng phát sinh với lưu lượng lớn,
chủ yếu là dầu mỡ động thực vật, nước thải có hàm lượng hữu cơ cao: BOD
5
=
350 (mg/l), SS=550(mg/l), vượt quá tiêu chuẩn cho phép nước thải sinh hoạt
thành phần như đất - nước và không khí ngày càng bò suy thoái và ô nhiễm, nhu
cầu về môi trường sống trong lành bò thu hẹp, trong đó đáng kể đến đó là nhu cầu
về nước sạch.
Với tình hình ô hiễm nước như hiện nay thì các tổ chức trên thế giới cũng như
Việt Nam ta đã lên tiếng cảnh báo với tất cả nhân loại về tác hại cũng những hậu
quả mà chúng ta sẽ gánh chòu nếu một khi môi trường nước ngày càng trở nên ô
nhiễm. Vì vấn đề ô nhiễm nước là một trong những thực trạng đáng ngại nhất của
sự hủy hoại môi trường tự nhiên do nền văn minh đương thời. Vì cơ chế và ảnh
SVTH: Nguyễn Văn Quyết Trang - 6 –
MSSV: 107108066
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
hưởng của ô nhiễm nước, chủng loại các loại ô nhiễm, cách tác động sinh học của
chúng đã được nghiên cứu nhiều. Tuy nhiên, vấn đề là những chất rắn có thể hoà
tan hay lơ lững trong nước sẽ được mang đi xa nguồn thải. Do sự đồng nhất của
môi trường nước, các chất gây ô nhiễm gây tác động lên toàn bộ sinh vật ở dưới
dòng, đôi khi cả đến vùng ven bờ và vùng khơi của biển. Vấn đề đặc biệt nữa là
nước là dung môi của nhiều chất, nước chảy qua những đòa hình thấp và vùng
nghèo O
2
hoà tan. Nhiệt độ càng cao thì O
2
hòa tan càng ít. Điều đó cho thấy là
môi trường nước rất dễ bò ô nhiễm, các ô nhiễm từ đất, không khí đều có thể làm
ô nhiễm nước, ảnh hưởng lớn đến đời sống của người và các sinh vật khác.
Điều đáng nói ở đây là các nhà hàng, khách sạn , khu du lòch của nước ta đa
số là dạng vừa và nhỏ còn số ít là các nhà hàng, khách sạn , khu du lòch trung
bình và lớn nên công tác đầu tư công nghệ xử lý nước thải trong quá trình hoạt
động không được chú trọng, hoặc có đầu tư nhưng với trình độ và kiến thức chưa
cao nên quá trình vận hành luôn có sự cố cũng như hiệu quả xử lý chưa đạt ở một
số công trình.
môi trường khác sẽ được nêu tổng quát mà không đi sâu.
+ Các chỉ tiêu về nước thải được phân tích: pH, MLSS, BOD, COD, Nitơ
tổng, Photpho tổng.
- Thời gian thực hiện: 12 tuần, từ 1/4 đến 1/7 năm 2011.
SVTH: Nguyễn Văn Quyết Trang - 8 –
MSSV: 107108066
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP
XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT QUY
MÔ VỪA VÀ NHỎ
SVTH: Nguyễn Văn Quyết Trang - 9 –
MSSV: 107108066
2.1 NGUỒN GỐC NƯỚC THẢI SINH HOẠT
2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH
HOẠT QUY MÔ VỪA VÀ NHỎ
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
2.1NGUỒN GỐC NƯỚC THẢI SINH HOẠT
NTSH phát sinh từ các hoạt động sống hằng ngày của con người như tắm,
rửa, bài tiết, chế biến thức ăn…Ở Việt Nam, lượng nước thải này trung bình 100
l/người/ngày. NTSH được thu gom từ các khu dân cư, cơ sở kinh doanh, cơ quan,
khu du lòch.
BOD và chất rắn lơ lửng là 2 thông số quan trọng nhất được sử dụng để xác đònh
đặc tính của NTSH. Quá trình xử lý bằng lắng đọng ban đầu có thể giảm được
khoảng 50% chất rắn lơ lửng và 35% BOD.
Bảng 2.1: Thành phần tương đối của nước thải sinh hoạt bình thường
Thành phần nước thải Trước khi
lắng đọng
Sau khi
lắng đọng
530
220
30
20
30
24
26
8
7
(Nguồn: Metalf và Eddy, 1991)
SVTH: Nguyễn Văn Quyết Trang - 10 –
MSSV: 107108066
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
Để tiện cho việc lựa chọn phương pháp, dây chuyền công nghệ và tính toán thiết
kế các công trình XLNT, nước thải sinh hoạt được phân loại theo các tiêu chụẩn
sau:
− Nước thải không chứa phân, nước tiểu và các loại thực phẩm từ các thiết bò vệ
sinh như bồn tắm, chậu giặt, chậu rửa mặt. Loại nước thải này chủ yếu chứa
chất lơ lửng, các chất tẩy giặt và thường gọi là “nước xám”. Nồng độ chất
hữu cơ trong nước thải này thấp và thường khó phân huỷ sinh học, trong
nước thải có nhiều hợp chất vô cơ.
− Nước thải chứa phân, nước tiểu từ các khu vệ sinh còn gọi là “nước đen”.
Trong nước thải tồn tại các vi khuẩn gây bệnh và dễ gây mùi hôi thối. Hàm
lượng các chất hữu cơ và các chất dinh dưỡng như N, P cao, các loại nước
thải này thường gây nguy hại đến sức khoẻ và dễ làm nhiễm bẩn nguồn
nước mặt. Nước thải nhà bếp chứa dầu mỡ và phế thải thực phẩm nhà bếp.
Loại nước thải này có hàm lượng lớn các chất hữu cơ(COD, BOD) và các
chất dinh dưỡng khác(N, P). Các chất bẩn trong nước thải này dễ tạo ra khí
sinh học và dễ sử dụng làm phân bón.
2.2CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT QUY MÔ VỪA
Có 2 loại thiết bò chắn rác:
− Thiết bò chắn rác và vớt rác thủ công, dùng cho các trạm xử lý có công suất
nhỏ, lượng rác dưới 0.1 m
3
/ngày.
− Thiết bò chắn rác, vớt rác cơ giới bằng các băng cào dùng cho các trạm XLNT
có lượng rác lớn hơn 0.1 m
3
/ngày.
Thiết bò chắn rác được bố trí tại máng dẫn nước thải trước trạm bơm nước thải và
trước các công trình xử lý.
SVTH: Nguyễn Văn Quyết Trang - 12 –
MSSV: 107108066
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
2.2.2.2 Bể thu và tách dầu mỡ
Bể thu dầu
Được xây dựng trong khu vực bãi đỗ và cầu rửa ô tô, xe máy, bãi chứa dầu
và nhiên liệu, nhà giặt tẩy của khách sạn, bệnh viện hoặc các công trình công
cộng khác, nhiệm vụ đón nhận các loại nước rửa xe, nước mưa trong khu vực bãi
đỗ xe…
Bể tách mỡ
Dùng để tách và thu các loại mỡ động thực vật, các loại dầu… có trong
nước thải. Bể tách mỡ thường được bố trí trong các bếp ăn của khách san, trường
học, bệnh viện… xây bằng gạch, BTCT, thép, nhựa composite… và bố trí bên trong
nhà, gần các thiết bò thoát nước hoặc ngoài sân gần khu vực bếp ăn để tách dầu
mỡ trước khi xả vào hệ thống thoát nước bên ngoài cùng với các loại nước thải
khác.
Bể tách mỡ gồm các bộ phận sau: giếng thu cặn và giếng thu mỡ.
Hình 2.1: Thiết bò tách dầu, mỡ loại nằm ngang
1. Thân thiết bò; 2. Bộ phận hút cặn bằng thủy lực; 3. Lớp dầu mỡ; 4. Ống gom
2.2.3 Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học kò khí
Sử dụng nhóm vi sinh vật kỵ khí, hoạt động trong điều kiện không có ôxy.
Quá trình phân hủy kỵ khí các chất hữu cơ là quá trình sinh hóa phức tạp tạo ra
hàng trăm sản phẩm trung gian và phản ứng trung gian. Phương trình phản ứng
sinh hóa trong điều kiện kỵ khí có thể biểu diễn đơn giản như sau :
Chất hữu cơ
vi sinh vật
CH
4
+ CO
2
+ H
2
+ NH
3
+ H
2
S + Tế bào mới
Một cách tổng quát, quá trình phân hủy kỵ khí xảy ra theo 04 giai đoạn :
− Giai đoạn 1 : Thủy phân, cắt mạch các hợp chất cao phân tử.
− Giai đoạn 2 : Acid hóa.
− Giai đoạn 3 : Acetate hóa.
− Giai đoạn 4 : Methane hóa.
Hình 2.3: Các phương pháp xử lý sinh học kỵ khí nước thải
2.2.3.1 Bể tự hoại
Bể tự hoại là công trình xử lý nước thải sơ bộ đồng thời thực hiện hai chứa
năng: lắng nước thải và lên men cặn lắng.
SVTH: Nguyễn Văn Quyết Trang - 15 –
MSSV: 107108066
Sinh học kỵ khí
2 vỏ.
2.2.3.4 Bể lọc kò khí
Bể lọc kỵ khí là một bể chứa vật liệu tiếp xúc để xử lý chất hữu cơ chứa
carbon trong nước thải. Nước thải được dẫn vào bể từ dưới lên hoặc từ trên
xuống, tiếp xúc với lớp vật liệu trên đó có vi sinh vật kỵ khí sinh trưởng và phát
triển.
2.2.3.5 Bể lọc ngược qua tầng bùn kỵ khí (UASB)
SVTH: Nguyễn Văn Quyết Trang - 16 –
MSSV: 107108066
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
Hiện nay hệ thống xử lý kỵ khí bằng bể UASB (Upflow anaerobic Sludge
Blanket) phổ biến nhất trên thế giới trong vấn đề xử lý nước thải có nồng độ
nhiễm bẩn hữu cơ cao. Xử lý nước thải với bể kỵ khí UASB chiếm một tỷ lệ lớn
trong tổng số các công trình kỵ khí trên thế giới.
Những ưu điểm quá trình xử lý sinh học kỵ khí UASB vượt trội so với quá trình bùn
hoạt tính hiếu khí:
− Ít tiêu tốn năng lượng vận hành.
− Có khả năng xử lý với tải trọng cao hơn
− Ít bùn dư nên giảm chi phí xử lý bùn.
− Nhu cầu dinh dưỡng thấp nên giảm chi phí bổ sung dinh dưỡng.
− Có thể tận dụng nguồn năng lượng từ khí metan sinh ra.
Tuy nhiên bể UASB cũng có những mặt hạn chế như:
− Thời gian thích nghi dài (1-3 tháng). Pha nghỉ cũng kéo dài.
− Vận hành phức tạp, các điều kiện nước thải đầu vào khắc khe hơn so với bể xử
lý bằng bùn hoạt tính.
− Chi phí đầu tư xây dựng ban đầu thường cao hơn nhiều so với bể xử lý bằng
bùn hoạt tính.
− Vận tốc nước thải đưa vào bể UASB được duy trì trong khoảng 0,6 – 0,9 m/h,
pH thích hợp cho quá trình phân hủy kỵ khí dao động trong khoảng 6-8.
2.2.4 Xử lý sinh học nước thải trong điều kiện tự nhiên
tảo. Chất dinh dưỡng và CO
2
sinh ra trong quá trình phân huỷ chất hữu cơ được
SVTH: Nguyễn Văn Quyết Trang - 18 –
MSSV: 107108066
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
tảo sử dụng.
Tảo
Vi khuẩn
Tảo mới
Chất hữu cơ
Năng lượng mặt trời
Vi khuẩn mới
O
2
CO ,NH
PO ,H O
4
3
2
3-
2
Hình 2.4 : Mối quan hệ cộng sinh giữa tảo và vi sinh vật trong hồ hiếu khí
Hồ tùy tiện
Trong hồ tùy tiện tồn tại 03 khu vực : (1) khu vực bề mặt, nơi đó chủ yếu vi
khuẩn và tảo sống cộng sinh; (2) khu vực đáy, tích lũy cặn lắng và cặn này bò
phân hủy nhờ vi khuẩn kò khí; (3) khu vực trung gian, chất hữu cơ trong nước thải
chòu sự phân hủy của vi khuẩn tùy tiện.
Hồ kỵ khí
Thường được áp dụng cho xử lý nước thải có nồng độ chất hữu cơ cao và
Công nghệ hiếu khí
Hồ sinh học hiếu khí
Lọc hiếu
khí
Lọc SH
nhỏ giọt
Sinh trưởng dính bámSinh trưởng lơ lửng
Hiếu khí
tiếp xúc
Xử lý sinh
học theo mẻ
Aerotank Đóa quay
sinh học
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
Quá trình lọc sinh học thích hợp cho việc xử lý nước thải công nghiệp hơn là xử lý
nước thải sinh họat.
Bể lọc sinh học
Bể lọc sinh học chứa đầy vật liệu tiếp xúc, là giá thể cho vi sinh vật sống
bám. Nước thải được phân bố đều trên mặt lớp vật liệu bằng hệ thống quay hoặc
vòi phun. Quần thể vi sinh vật sống bám trên giá thể tạo nên màng nhầy sinh học
có khả năng hấp phụ và phân hủy chất hữu cơ chứa trong nước thải.
Hình 2.6: Hệ thống xửû lý nước thải theo quá trình bể lọc sinh học
Tháp lọc sinh học:
Khác với bể lọc sinh học ngập nước, tháp lọc sinh học được xây dựng với
hệ thống quạt gió cưỡng bức từ dưới lên, nước thải được phân phối từ phía trên,
chảy qua lớp màng vi sinh bám trên các giá thể và xuống bể thu ở phía dưới.
Đối vớp tháp lọc sinh học, lượng không khí được cung cấp nhiều nên sinh khối
phát triển rất nhanh, thời gian nước thải chảy xuống thường ngắn nên vi sinh vật
khó oxy hoá hết lượng hữu cơ có trong nước thải đến mức tối đa, do đó thường
phải tuần hoàn lại nước đầu ra hoặc kết hợp với bể aeroten.
bám. Nước thải được phân bố đều trên mặt lớp vật liệu bằng hệ thống quay hoặc
vòi phun, có thể từ dưới lên hoặc từ trên xuống. Quần thể vi sinh vật sống bám
trên giá thể tạo nên màng nhầy sinh học có khả năng hấp phụ và phân hủy chất
hữu cơ chứa trong nước thải.
2.2.5.2 Xử lý bằng phương pháp bùn hoạt tính
Xử lý nước thải theo quá trình bùn hoạt tính bao gồm rất nhiều hệ thống
khác nhau với cách thức xây dựng khác nhau. Mặc dù vậy, tất cả các công trình
có cùng chung một đặc điểm là: sử dụng bùn hoạt tính dạng lơ lửng để xử lý các
chất hữu cơ hoà tan hoặc các chất hữu cơ dạng lơ lửng.
BHT được cung cấp thường là bùn tự hoại hoặc BHT lấy từ các nhà máy xử lý
nước thải đang hoạt động.
SVTH: Nguyễn Văn Quyết Trang - 22 –
MSSV: 107108066
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
Hình 2.7: Hệ thống xủ lý nước thải theo quá trình tăng trưởng lơ lửng
Một số công trình hiếu khí phổ biến xây dựng trên cơ sở xử lý sinh học bằng bùn
hoạt tính:
Bể aeroten thông thường
Đòi hỏi chế độ dòng chảy nút (plug – flow), khi đó chiều dài bể rất lớn so
với chiều rộng. Trong bể này nước thải vào có thể phân bố ở nhiều điểm theo
chiều dài, bùn hoạt tính tuần hoàn đưa vào đầu bể. Ở chế độ dòng chảy nút, bông
bùn có đặc tính tốt hơn, dễ lắng. Tốc độ sục khí giảm dần theo chiều dài bể. Tải
trọng thích hợp vào khoảng 0,3 – 0,6 kg BOD
5
/m
3
ngày với hàm lượng MLSS
1.500 – 3.000 mg/L, thời gian lưu nước từ 4 – 8 giờ, tỷ số F/M = 0,2 – 0,4, thời
gian lưu bùn từ 5 – 15 ngày.
Nước thải
sau xử lý
Hình 2.8: Bể aeroten thông thường
Bể lắng
Bể lắng
Bùn thải
Nước thải
trước xử lý
Nước thải
sau xử lý
Bùn tuần hoàn
Máy thổi khí
Hình 2.9: Bể aeroten khuấy trộn hoàn toàn
Bể aeroten mở rộng
Hạn chế lượng bùn dư sinh ra, khi đó tốc độ sinh trưởng thấp, sản lượng
bùn thấp và chất lượng nước ra cao hơn. Thời gian lưu bùn cao hơn so với các bể
khác (20 – 30 ngày). Hàm lượng bùn thích hợp trong khoảng 3.000 – 6.000 mg/L.
Aeroten hoạt động gián đoạn theo mẻ (hệ SBR)
Bể hoạt động gián đoạn là hệ thống xử lý nước thải với bùn hoạt tính theo
kiểu làm đầy và xả căïn. Quá trình xảy ra trong bể SBR tương tự như trong bể bùn
hoạt tính hoạt động liên tục, chỉ có điều tất cả quá trình xảy ra trong cùng một bể
và được thực hiện lần lượt theo các bước : (1) làm đầy, (2) phản ứng, (3) lắng, (4)
xả cạn, (5) ngưng.
SVTH: Nguyễn Văn Quyết Trang - 24 –
MSSV: 107108066
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
2.2.5.3 Khử các chất dinh dưỡng (N,P) và ổn đònh bùn bằng phương pháp
hiếu khí kết hợp.
Cơ chế của quá trình
khí
(Anoxic)
Bể lắng
đợt 2
Bùn dư
Bùn hoạt tính tuần
hoàn
Bể hiếu khí
(Aerobic)
Nước thải
vào
Tuần hoàn hỗn hợp
bùn nước
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
Hình 2.11: Sơ đồ hệ thống Badenpho
Quá trình thổi khí kéo dài trong Aeroten
Các công trình thổi khí kéo dài được đặc trưng bởi tải trọng chất bẩn thấp
từ 0.05 – 0.15 g BOD/g bùn.ngày; thời gian lưu nước và lưu bùn dài. Thời gian lưu
bùn dài tạo điều kiện tốt cho quá trình nitrat hoá. Một phần các chất hữu cơ độc
hại cũng có thể được khử nhờ quá trình thổi khí kéo dài. Sơ đồ nguyên tắc quá
trình thổi khí kéo dài:
Hình 2.12: Sơ đồ xử lý nước thải theo nguyên tắc thổi khí kéo dài
Xử lý nước thải bằng phương pháp thổi khí kéo dài có hiệu quả làm sạch
cao, lượng bùn dư ít nhưng diện tích chiếm đất lớn. Vì vậy phương pháp này
thường được ứng dụng để xử lý nước thải quy mô vừa và nhỏ.
Kênh ô xy hoá tuần hoàn
Kênh oxy hoá tuần hoàn hoạt động theo nguyên lý thổi khí bùn hoạt tính
kéo dài. Ưu điểm: lượng bùn dư thấp, được ổn đònh tương đối, hiệu quả xử lý
BOD cao, các chất nitơ, photpho được khử đáng kể, quản lý vận hành không phức
tạp, công trình có tính đệm cao. Tuy nhiên công trình xây dựng hở và diện tích
Thải bỏ bùn: bùn sau quá trình xử lý có thể được mang đi làm phân bón,
được chôn lấp tại một vò trí thích hợp, đưa ra sân phơi bùn hoặc đốt ra tro.
2.2.7 Phương pháp khử trùng nước thải
Nước thải sau khi xử lý bằng phương pháp sinh học còn có thể chứa
khoảng 10
5
đến 10
6
vi khuẩn trong 1ml. Hầu hết các loại vi khuẩn có trong nước
thải không phải là vi trùng gây bệnh, nhưng không loại trừ khả năng tồn tại một
vài loại vi khuẩn gây bệnh nào đó. Nếu xả nước thải ra nguồn cấp nước, hồ nuôi
cá thì khả năng lan truyền bệnh sẽ rất lớn. Do vậy, cần phải có biện pháp tiệt
trùng nước thải trước khi xả ra nguồn tiếp nhận. Các phương pháp khử trùng nước
thải phổ biến hiện nay là:
− Dùng clo hơi qua thiết bò đònh lượng Clo.
SVTH: Nguyễn Văn Quyết Trang - 27 –
MSSV: 107108066
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
− Dùng Hypoclorit – canxi dạng bột – Ca(ClO)
2
– hoà tan trong thùng dung dòch
3 ÷ 5% rồi đònh lượng vào bể khử trùng.
− Dùng HypocloritNatri, nước javel (NaClO).
− Dùng Ozone được sản xuất từ không khí do máy tạo Ozone đặt trong nhà máy
xử lý nước thải. Ozone sản xuất ra được dẫn ngay vào bể khử trùng.
− Dùng tia cực tím (UV) do đèn thủy ngân áp lực thấp sản sinh ra. Đèn phát tia
cực tím đặt ngập trong bể khử trùng có nước thải chảy qua.
Từ trước đến nay, phương pháp khử trùng nước thải bằng Clo hơi hay các
hợp chất của Clo thường được sử dụng phổ biến vì Clo là hóa chất được các
ngành công nghiệp dùng nhiều, có sẵn trên thò trường với giá thành chấp nhận