LUẬN VĂN: Sự hình thành và phát triển
CNXHKH thế kỷ XIX
A- Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ nghĩa xã hội khoa học là trong ba bộ phận cấu thành nen chủ nghĩa Mác -
Lênin: CNXHKH được C.Mác và Ăng-ghen sáng lập dựa trên hai phát triển vĩ đại là chủ
nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư. Nhờ hai phát kiến ấy các ông đã đi
đến kết luận một cách lôgic rằng: CNXH trước sau sẽ thay bằng CNTB. Trước khi
CNXHKH ra đời dã có những trào lưu, những tư tưởng XHCN không tưởng. Vào giữa
thế kỷ XIX CNTB có những bước phát triển đồng thì bộc lộ những mâu thuẫn ngày càng
rõ rệt cũng xuất hiện những tiền đề cho cách mạng XHCN. Trên cơ sở ấy, các nhà kinh
điển của chủ nghĩa Mác đã có đủ những căn cứ khoa học và căn cứ thực tiễn để sáng lập
CNXHKH. Từ đó CNXHKH ngày càng gắn bó chặt chẽ với thực tiễn sản xuất và phong
trào công nhân, vừa phản ánh vừa soi sáng con đường giai cấp công nhân tiến lên hoàn
Việt Nam Đề tài sẽ được tiếp tục nghiên cứu sâu rộng trong thời gian tiếp theo.
3. Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu
- Tiểu luận hướng tới các đối tượng nghiên cứu chính sau:
+ Các tiền đề cơ bản của CNXHKH.
+ Quá trình hình thành và phát triển CNXHKH thế XIX.
+ Vai trò của C.Mác và Ph.Ăng-ghen .
- Nhiệm vụ chủ yếu:
+ Giúp cho bạn đọc nắm vững được về mặt lịch sử các tiền đề CNXHKH.
+ Làm sáng tỏ con đường phát triển của CNXHKH và luận giải một cách khoa học
và những quy luật bước đi, hình thức, phương án về sự hình thành và phát triển
CNXHKH. Làm sáng tỏ vai trò vĩ đại, lớn lao của C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin.
4- Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu theo phương pháp kết hợp lịch sử - lôgic, kết hợp phương
pháp như nghiên cứu xã hội, tổng kết chính trị thực tiễn, phát triển, lý luận phương
pháp tổng hợp, biện chứng.
5- Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu từ sự hình thành và phát triển CNXHKH thế kỷ XIX.
6- Kết cấu tiểu luận
B. Phần nội dung
Chương I
Những tiền đề ra đời CNXHKH
I- Những điều kiện về kinh tế và xã hội
1. Điều kiện kinh tế
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất và trao đổi TBCN Châu
Âu: phát triển mạnh mẽ gắn liễn với tiến bộ của công nghiệp cơ khí. Cách mạng khoa học
kỹ thuật lần thứ nhất đã thúc đẩy phương thức sản xuất TBCN phát triển mạnh mẽ tạo
điều kiện cho cuộc cách mạng công nghiệp ở nước Anh hoàn thành và bắt đầu phát triển
giai cấp tư sản bóc lột thống trị và giai cấp những người lao động làm thuê bị bóc lột.
Tình hình thực tế lịch sử đã báo hiệu rằng xã hội không thể sống yên ổn dưới sự thống trị
của giai cấp tư sản, rằng bản thân giai cấp tư sản là không thể tương dung với sự tồn tại
của một xã hội đang đòi hỏi cần có sự công bằng và bình đẳng giữa người với người.
Giai cấp tư sản là một lực lượng đã góp phần công sức có ý nghĩa quyết định vào
sự hình thành nền công nghiệp lớn, có ý nghĩa lịch sử trọng đại như một vũ khí thủ tiêu
chế độ quân chủ chuyên chế, nhưng nó đã không thấy rằng nền công nghiệp lớn còn là
điều kiện vật chất bảo đảm cho giai cấp công nhân thoát khỏi tình trạng phân tán để đoàn
kết nhau lại và hơn nữa còn là điều kiện vật chất quyết định sự sụp đổ không thể tránh
khỏi trong tương lại của bản thân giai cấp tư bản cầm quyền.
Các phong trào đấu tranh của công nhân đã chĩa thẳng mũi nhọn vào kẻ thù của
mình là giai cấp tư sản và khẳng định giai cấp vô sản đã trở thành chính trị độc lập có khả
năng trở thành lực lượng xã hội quan trọng, có vai trò cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội
mới. Tuy nhiên, các phong trào đấu tranh thời kỳ này đều thất bại mà nguyên chủ yếu của
nó, sau này được C. Mác và Ăng-ghen chỉ rõ là chưa có một lý luận cách mạng dẫn
đường, chưa chỉ ra mục tiêu của cuộc đấu tranh, chưa có con đường và biện pháp đấu
tranh đúng đắn. Nghiên cứu thực tiễn của phong trào đấu tranh và nhất là sự thất bại của
nó. C. Mác và Ăng-ghen nhận thấy rắng, muốn cho phong trào công nhân giành thắng lợi
phải có lý luận cách mạng soi đường. Hai ông đã tập trung xây dựng học thuyết cho
phong trào công nhân, đó chính là lý luận của CNXHKH.
Tiểu kết: Những cơ sở kinh tế - xã hội khách quan cho ra đời của CNXHKH để
thay thế các trào lưu XHCN và CSCN đã tỏ rõ lỗi thời, không có khả năng đáp ứng
những yêu cầu chính trị cấp bách của giai cấp công nhân.
II- Những tiền đề tư tưởng lý luận
Cơ sở kinh tế và cơ cấu xã hội TBCN là mảnh đất hiện thực cho CNXHKH sinh
thành. Song chưa đủ, nó còn có những tiền đề tư tưởng lý luận cần thiết để ra đời.
1. Chủ nghĩa xã hội không tưởng đầu thế kỷ XIX
CNXHKT Pháp: Bước vào thế kỷ XIX nước Pháp với sự cầm quyền của giai cấp
tư sản phản động đứng đầu là Napôlêon Bônnapác đã bóp chết mọi thành quả cách mạng
với tác phẩm cuối cùng của ông là: "Đạo cơ đốc cần lao" và ông tuyên bố rằng "giải
phóng giai cấp cần lao là mục đích cuối cùng của ông" Ông ước mơ xây dựng một xã
hội, trong đó: "Chế độ sở hữu phải được tổ chức sao cho có lợi nhất cho toàn xã hội về
mặt tự do và về mặt kinh tế"
Những quan điểm của Xanhximông đã bộc lộ những hạn chế. CNXH mà ông sáng
tạo ra vẫn duy trì chế độ tư hữu còn mang nặng tính không tưởng và sắc thái tôngiáo. Để
xây dựng xã hội mới ông chủ trương dùng biện pháp hoà bình Do những hạn chế nhưng
với những dự kiến sắc sảo, đặc biệt với tấm lòng vì hạnh phúc người cần lao
Xanhximông được lịch sử ghi nhận là nhà tư tưởng vĩ đại, học thuyết của ông đã trở
thành một trong những tiền đề lý luận của CNXHKH.
- Phơrăngxoa Marisáclơ Phuriê (1772 - 1837): Ông sinh ra trong một gia đình
buôn bán, sớm theo nghề buôn Phuriê được C.Mác mệnh danh là "thuỷ tổ của CNXH" và
được Ăng-ghen coi là "nhà châm biễm lớn người miêu tả tài tình xã hội tương lại, có
niềm tin sâu sắc vào thắng lợi cuối cùng của CNXH"
Nội dung: Một trong những nội dung sắc sảo là sự phê phán lên án xã hội tư sản,
ông đã lấy lời hứa của GCTS trước cách mạng so với hiện thực sau cách mạng: "Ông đã
thẳng tay lột trần cảnh khốn cùng về vật chất và tinh thần của thế giới tư sản, đồng thời
ông đối chiếu cảnh khốn cùng ấy với lời hứa hẹn rực rỡ của nhà khai sáng trước kia về
một xã hội chì có lý tính chi phối, về một nền văn minh đem lại đời sống hạnh phúc cho
tất cả mọi người; về khả năng hoàn thiện vô tận của con người Ông chỉ ra rằng đâu
dâu những câu nói hết sức hoa mỹ cũng tương ứng với một hiện thực thảm hoạ nhất và
chút lên những lời châm biễm chu cay lên sự phá sản không gì cứu vãn được của những
lời nói trống rỗng ấy". Trong tác phẩm chống Đuyrinh Ph.Ăng-ghen đánh giá: "Phuriê
nắm phép biện chứng một cách cũng tài tình như Hêghen là người đương thời với ông".
Phuriê mong muốn xây dựng một xã hội mới: "xã hội hài hoà", "xã hội đảm bảo"
trong đó có sự thống nhất giữa cá nhân và tập thể mỗi con người riêng biệt có thể tìm
thấy điều có lợi cho họ trong cái lợi chung của toàn xã hội Nhìn chung lý luận của
Phuriê chứa đựng những yếu tố biện chứng nhưng cũng nhiều mâu thuẫn tương tự như
Xanhximông ông chủ không chủ động xoá bỏ chế độ tư hữu và phản đối bạo lực quá độ
mà ngày nay chúng ta đang chứng minh sự đúng đắn của chúng bằng cách khoa học".
2. Triết học
Sự ra đời và phát triển của triết học cổ điển Đức thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ
XIX. Trong những điều kiện của chế độ chuyên chế nhà nước Phổ và nó là sự bảo vệ về
mặt tư tưởng cho chế độ xã hội đó. Thời kỳ cuối thế kỷ XVIII cuộc cách mạng tư sản
Pháp (1789) ảnh hưởng mạnh mẽ đến nước Phổ và Hêghen là người tán dương cuộc cách
mạng đó, điều kiện kinh tế đặc biệt làm nảy sinh hệ tư tưởng có tính chất tiểu tư sản, thoả
hiệp. Trong giai đoạn này đã xuất hiện một số nhà tư tưởng lớn như Cantơ, Hêghen,
Phoiơbắc đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển triết học vào cuối thế kỷ XVIII
và nửa đầu thế kỷ XIX góp phần làm cho triết học cổ điển Đức trở thành một tiền đề lý
luận cho sự ra đời của triết học Mác.
- Cantơ (1724 - 1804): Trong tác phẩm "Lịch sự tự nhiên phổ thông và lý thuyết
bầu trời" đã trình bày những nét nổi bật về những quan niệm biện chứng về giới tự nhiên.
Ông đã nêu giả thuyết có giá trị về sự hình thành của vũ trụ bằng cơn lốc và kết tụ của
các khối tinh vân Triết học Cantơ là trích học nhị nguyên luận Khi nhận xét và đánh
giá về Cantơ, Lênin cho rằng triết học đó là sự dung hoà chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa
duy tâm thiết lập sự thoả thuận giữa hai chủ nghĩa đó, kết hợp hai khuynh hướng triết học
khác nhau và đối lập với nhau trong hệ thống duy nhất.
Hêghen (1770 - 1831): Là nhà biện chứng là nhà triệt học duy tâm khách quan,
triết học của ông đầy những mâu thuẫn. Hêghen đã có công trong việc phê phán tư duy
siêu hình, ông là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và được duy dưới
dạng một quá trình Trong quan điểm xã hội Hêghen đứng trên lập trường công nghiệp
hoá xô vanh. Hệ thống triết học Hêghen thực chất của nó"là ở chỗ lấy cái tâm lý làm
điểm xuất phát, từ cái tâm lý suy ra giới tự nhiên". (Lênin)
Lútvich Phoiơbắc (1804 - 1872): là nhà duy vật chủ nghĩa kiệt xuất thời kỳ trước
Mác, đại biểu nổi tiếng của triết học cổ điển Đức, nhà tư tưởng của giai cấp tư sản dân
chủ Đức. Phoiơbắc đã có công lớn trong việc phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen
Triết học cổ điển Đức là một giai đoạn lịch sử ngắn nhưng đã tạo ra thành quả kỳ
diệu trong lịch sử triết học. Từng bước khắc phục những hạn chế siêu hình của triết học
đã có những cống hiến lớn lao vào việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác nói chung và
kinh tế chính trị của C. Mác nói riêng. Đây là những tiền đề tư tưởng, lý luận khoa học
góp phần cho sự ra đời CNXHKH thế kỷ IXI.
4. Khoa học - kỹ thuật
Cùng với sự ot của CNTB là sự phát triển mạnh mẽ của KHKT. Vào đầu thế kỷ
XIX loài người đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực khoa học tự nhiên và
khoa học xã hội.
- Khoa học tự nhiên thời kỳ này đã xuất hiện các học thuyết mới như Định luật
bảo toàn và chuyển hoá năng lượng: học thuyết về tế bào; học thuyết tiến hoá của
Đacuyn. Những phát minh này đã giúp cho C. Mác và Ph. Ăngghen có cơ sở khoa học để
nghiên cứu các hiện tượng xảy ra trong lĩnh vực xã hội và xây dựng học thuyết duy vật
lịch sử của mình.
- Khoa học xã hội: Thời kỳ này các lĩnh vực triết học, kinh tế chính trị và CNXH
đã phát triển rực rỡ, tiêu biểu là triết học cổ điển Đức với hai nhà triết học nổi tiếng như
Hêghen và Phoiơbắc, kinh tế chính trị cổ điển Anh với Adamsmith và Ricardo và đặc biệt
là lý luận của CNXH không tưởng của Xanh xi mông, Phuriê và Ô oen.
Như vậy, gắn liền với sự xuất hiện đầy đủ những tiền đề kinh tế - xã hội,
CNXHKH còn dựa trên sự chín muồi của các tiền đề tư tưởng - lý luận. Đó là kết quả của
sự kế thừa những tinh hoa trí tuệ của loài người phát triển qua các thời đại mà đầu thế kỷ
XIX đã đạt tới đỉnh cao.
Tóm lại, sự xuất hiện những tiền đề nêu trên đã tạo những tiền đề khách quan ở
mức đầy đủ để CNXH do Mác và Ăngghen xây dựng thực sự trở thành khoa học.
III. vai trò của Mác và Ăngghen trong sự hình thành chủ nghĩa xã hội khoa học
1. Các Mác (5.5.1818 - 14.3.1883) và Phridrich Ăngghen (28.10.1820 -
5.8.1855) ngay từ thời niên thiếu đã là những nhà nhân đạo chủ nghĩa
ở Mác và Ăngghen đã sớm có một chí hướng, một lý tưởng phấn đấu cho hạnh
phúc loài người, với lòng yêu thương con người.
Các Mác 91818 - 1883): Sinh trưởng trong một gia đình tri thức (bố là luật sư) ở
thành phố Tơrevnước, tỉnh Ranh, một vùng có nhiều hợp đồng của cách mạng tư sản
xã hội đã gây ấnt sâu sắc đối với Ăngghen với chính cuốn "Đời sống của chúa
Giêduycrit" của Davitxtrauxnước 91835) đã góp phần giúp Ăngghen đoạn tuyệt với tôn
giáo và gợi ý cho Ăngghen tìm đến với triết học Hêghen. Từ đó ở Ăngghen hình thành
dần dần một quan niệm mới về thế giới hướng vào những vấn đề chính trị - xã hội thay
thế cho đức tin tôn giáo.
Như vậy, Mác đã sớm nhận thấy cần phải có triết học để tìm hiểu đời sống thực tế
xã hội, còn Ăngghen lại từ đời sống thực tế mà thấy cần phải có triết học làm công cụ.
2. Sự chuyển biến từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản
chủ nghĩa của C. Mác và Ph. Ăngghen
Sự phát triển về mặt triết học của Mác và Ăngghen từ CNDT đến CNDV xét về
mặt lịch sử tất yếu xảy ra cùng lúc với bước chuyển từ lập trường cách mạng sang lập
trường cộng sản chủ nghĩa. Không có bước chuyển này thì không thể có sự hoàn thiện
nhiều hơn nữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bản thân bước
chuyển từ chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản tất yếu đòi hỏi một
cuộc cách mạng trong lĩnh vực triết học. Xây dựng CNDVBC và CNDVLS và xây dựng
một quan điểm mới về kinh tế chính trị học.
Chủ nghĩa dân chủ cách mạng của hai ông đều biểu hiện ở lập trường đấu tranh
kiên quyết chống chế độ phong kiến chuyên chế và những thể chế của nó. Đòi quyền tự
do dân chủ, mong muốn cải thiện căn bản cơ sở đời sống kinh tế - xã hội và chính trị cho
nông dân bằng một cuộc cách mạng xã hội. Trong thời kỳ còn là nhiều nhà dân chủ cách
mạng, Mác và Ăngghen đã liên hệ với nhiều người thuộc phái Hêgen trẻ lúc bấy giờ về
phương diện triết học, nhưng họ khác về phương diện thực tiễn.
ảnh Mác
- Đối với Mác, năm 1842 lúc mà 24 tuổi đã đánh dấu hoạt động thực tiễn bằng
công tác báo chí với vai trò chủ báo "Vùng sông Ranh", ông đã có bước đi đầu tiên trên
con đường hoạt động cách mạng thực tiễn. Từ đời sống chính trị xã hội từ những chính
sách của chế độ phong kiến chuyên chế thần quyền của Liên bang Đức, từ những ý kiến
và thái độ khác nhau trong cuộc tranh luận về chế độ kiểm duyệt báo chí và các vấn đề xã
hội khác, nhất là từ những cảnh tượng tương phản giữa những kẻ giày phong kiến, tư sản
không tưởng mà về thực chất đó là kết quả tất yếu của sự phát triển biện chứng của bản
thân chế độ sở hữu kinh tế.
Năm 1844 cùng với Ăngghen, Mác đã khẳng định: "Giai cấp vô sản đang thi hành
bản án mà chế độ tư hữu, trong khi đẻ ra giai cấp vô sản, đã làm ra mình, cũng giống
như nó đang thi hành bản án mà lao động làm thuê, trong khi sản xuất ra sự giàu có cho
kẻ khác và sự khốn cùng cho bản thân, đã làm ra cho mình. Sau khi thắng giáo dục vô
sản dù sao cũng không thể nào trở thành mặt tuyệt đối của xã hội, vì rằng chỉ có sự tiêu
diệt và tiêu diệt mặt đối lập của mình thì nó mới giành được thắng lợi. Với thắng lợi của
giai cấp vô sản bản thân giai cấp vô sản và mặt đối lập chi phối nó là chế độ sở hữu, đều
tiêu vong".
Đến năm 1845 cùng với Ăngghen, Mác đã phát triển sâu thêm những quan niệm
duy vật lịch sử. Hai ông đã khắc phục về cơ bản ảnh hưởng của CNDT tự biên và còn phê
phán những quan điểm duy vật thuần tuý, tức là những quan điểm duy tâm xã hội và chỉ
biết duy vật trong giới tự nhiên mà thôi. Nếu các tác phẩm trước, CNCS còn được xem
như một thứ chủ nghĩa nhân đạo hiện thực và được phân tích về mặt triết học nhiều hơn
thời lúc này, hai ông nhất trí rằng: Xây dựng CNCS về thực chất là có tính chất kinh tế, là
tạo điều kiện vật chất để có được một phương thức sản xuất liên hiệp giữa những người
lao động. Tóm lại, hai ông đã bước đầu phân tích về sự ra đời và phát triển của GCVS, về
sự hình thành của CNXH và sự hình thành của CNCS trong tương lai không còn chỉ theo
quan điểm triết học mà theo quan điểm kinh tế.
Đến những năm 1846 - 1847 ông phê phán những quan điểm kinh tế tiểu tư sản
đồng thời phê phán cả những khuynh hướng XHCN không tưởng và bảo thủ. Ông nhấn
mạnh chừng nào cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản biểu hiện rõ nét và mạnh mẽ hơn trên
tinh thần tự giác chính trị thì người ta không cần "vắt óc" của mình ra, mà chỉ cần chú ý
đến thực tế diễn ra trước mắt mà đạt lại thực tế ấy một cách có phân tích đúng đắn, làm rõ
được thực chất của các sự kiện. Đến khi ấy, khoa học do vận động của lịch sử sản sinh ra,
sẽ tham gia vào vận động lịch sử ấy một cách hoàn toàn tự giác, chủ động, không còn
mang tính cách lý thuyết suông nữa thì khoa học đã trở thành khoa học cách mạng.
ảnh Ăngghen
11/ 1847 với tính cách một cương lĩnh của Đảng. Tác phẩm đánh dấu sự ra đời của chủ
nghĩa Mác, trong đó CNXHKH. Nói riêng về CNXHKH, những nguyên lý, lý luận, cơ
bản của nó, lần đầu tiên được C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày một cách chặt chẽ và hệ
thống. Với ý nghĩa đó, "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" là bản khai sinh của CNXHKH,
đánh dấu sự chín muồi lý tưởng CSCN của C.Mác và Ph.Ăngghen.
Vấn đề có ý nghĩa cơ bản nhất là: "Tuyên ngôn" đã chỉ ra quy luật khách quan của
sự vận động và phát triển của xã hội, theo đó CNTB tất yếu bị diệt vong, CNXH tất yếu
ra đời thay thế CNTB C.Mác và Ph.Ăngghen đã đánh giá khách quan vai trò của
GCTS: "GCTS, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra lực
lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước
cộng lại". Nhưng, ngay trong lúc tạo ra những thành tựu to lớn ấy, giai cấp tư sản cũng
tạo ra trong lòng xã hội tư bản những mâu thuẫn rất gay gắt Trên cơ sở khái quát sự
phát triển của xã hội loài người, các tác giả tuyên ngôn đã khẳng định, tất cả các xã hội
tồn tại từ trước đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp. Xã hội tư bản hiện địa thay
thế xã hội phong kiến không hề xoá bỏ mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp. Nó chỉ
thay thế giai cấp cũ, điều kiện áp bức cũ, hình thức đấu tranh cũ bằng giai cấp mới, điều
kiện áp bức mới và hình thức đấu tranh mới mà thôi
Trong tác phẩm này, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra lực lượng xã hội có sứ mệnh
thay thế CNTB bằng CNSH theo con đường cách mạng vô sản. Đó là giai cấp công nhân,
giai cấp mà khi giải phóng mình cũng đồng thời giải phóng mọi người lao động khỏi áp
bức, bóc lột. Với việc phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của GCCN, C.Mác và Ph.Ăngghen đã
biến CNXH từ không tưởng thành khoa học. Bởi vì, các nhà tư tưởng XHCN trước Mác
không tìm thấy lực lượng nào có thể hiện thực những tư tưởng nhân đạo mà họ đưa ra. Sự
vận động tất yếu từ CNTB lên CNXH không thể biến thành hiện thực nếu không có vai
trò của CGCN. Khẳng định vai trò của GCCN trong việc xoá bỏ CNTB, xây dựng CNXH
không phải vì C.Mác và Ph.Ăngghen xuất phát từ tình cảm của các ông với tầng lớp
nghèo khổ, bị áp bức, mà vì những điều kiện khách quan đã quy định sứ mệnh lịch sử của
giai cấp đó.
"Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" đã làm sáng tỏ vai trò của Đảng Cộng sản trong
hội có thể chuyển xã hội sang một giai đoạn mới. Vì vậy, Mác và Ăngghen đã làm một
cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử loài người và đã có những phát hiện lớn:
- CNDVLS: Mác và Ăngghen cho rằng "tồn tại xã hội quy định ý thức xã hội", do
đó, muốn đi tìm nguyên nhân cơ bản của sự vận động và phát triển xã hội phải đi tìm đó
trong lòng xã hội (cần phải tìm từ nguyên nhân kinh tế, từ đời sống, lợi ích vật chất, chứ
không phải từ ý thức). Đây là nguyên lý rất quan trọng mà trước đó các nhà triết học khác
chưa tìm thấy được.
Mác và Ăngghen chỉ rõ rằng, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất là động lực chủ yếu của sự phát triển xã hội loài người. Khi quan hệ sản xuất không
phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì sẽ kìm hãm sự phát triển của
lực lượng sản xuất, đòi hỏi phải phá vỡ quan hệ sản xuất hiện tại và xây dựng quan hệ sản
xuất mới phù hợp hơn. Sự phá vỡ này đã dẫn tới sự thay đổi từ hình thái kinh tế - xã hội
này sang hình thái kinh tế xã hội khác phù hợp và tiến bộ hơn.
Học thuyết giá trị thặng dư: Vận dụng một cách sáng tạo những quan điểm duy vật
về lịch sử vào việc phân tích nền sản xuất TBCN, Mác và Ăngghen đã đi tới kết luận:
Việc GCTS chiếm đoạt phần lao động không được trả công của người vô sản làm thuê là
hình thức cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và của sự bóc lột công nhân
do phương thức ấy đẻ ra. Dù cho nhà tư bản có mua sức lao động của công nhân đúng với
giá trị của nó chăng nữa thì trên thực tế, nhà tư bản vẫn thu được nhiều giá trị hơn số tiền
bỏ ra mua sức lao động. Tổng số tiền này rút cuộc biến thành tư bản, ngày càng lớn lên
và thuộc quyền sở hữu của GCTS.
Học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: Nhờ nhiều phát kiến khoa
học trọng đại này, Mác và Ăngghen có căn cứ vững chắc để khẳng định rằng, mâu thuẫn
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển, được
biểu hiện trong đời sống xã hội thành mâu thuẫn không thể điều hoà giữa giai cấp tư sản
và GCCN. Mâu thuẫn này nhất định sẽ dẫn đến kết cục là lực lượng sản xuất do GCCN là
người đại biểu phá vỡ quan hệ sản xuất do TCTS bảo vệ. GCCN là lực lượng cách mạng
được lịch sử giao phó sứ mệnh xoá bỏ GCTS cùng với chế độ tư hữu bóc lột của CNTB,
xây dựng CNXH và CNCS. Làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử thế giới của GCCN là phát hiện
lực lượng tiến bộ của đất nước để phối hợp hành động theo những điều kiện khách quan
của sự phát triển xã hội chứ không phải là một đảng bè phái
Cuộc cách mạng 1848 bắt đầu diễn ra ở Pháp, nơi mà lớp quý tộc tài chính có đặc
quyền của giai cấp đại tư sản nắm chính quyền, đã có những chính sách làm cho các tầng
lớp khác nhau nhất của xã hội bất mãn. Tầng lớp tư sản công nghiệp bất mãn với các loại
thuế má và hạn chế, muốn xông lên nắm quyền. GCVS, giai cấp tiểu tư sản (nông dân và
thợ thủ công) đều đòi hỏi cải cách và cải thiện đời sống của mình. Tất cả các giai cấp và
tầng lớp đối lập với giới cầm quyền đều có một yêu sách chung thống nhất là thiết lập
chế độ cộng hoà. Pari bắt đầu các cuộc đấu tranh của quần chúng, đặc biệt phát triển
mạnh sau vụ bắn giết những người biểu tình ngày 23/2 và kết quả đã đưa đến chỗ lật đổ
chính phủ và vua Lui Philip Oóc lêăng chạy trốn. Chính phủ lâm thời tư sản lại được
thành lập. Dưới sức ép của quần chúng, chính phủ lâm thời đã tuyên bố thành lập nhà
nước cộng hoà và công bố sắc lệnh về quyền lao động, về ngày làm việc 10 giờ, đồng
thời thành lập uỷ ban về vấn đề công nhân, đặt trụ sở ở Luých xăm bua, do Lui Bôlăng
một người XHCN tiểu tư sản - một trong hai đại biểu của công nhân chính phủ lâm thời
cầm đầu. Lui bơlăng đã cho là trong tình hình duy trì chế độ TBCN, có thể thể hiện "tổ
chức lao động" và xây dựng CNXH dưới hình thức các xưởng quốc gia và các hội loại
sản xuất của công nhân và thợ thủ công. Những ảo tưởng về "CNXH không giai cấp" và
chính sách không giai cấp" (sau được gọi là "thuyết Lui Bơlăng" đã được công nhân
hưởng ứng rộng rãi bằng việc lập ra các hội, các câu lạc bộ, đã tiến hành một vài cuộc bãi
công. Công nhân hoạt động rất tích cực từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1848 các cuộc đấu
tranh của công nhân đã diễn ra ở nhiều thành phố: Pari, Lyon, Mác xây Song họ không
đạt được yêu sách của mình.
Để chống lại cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, chính phủ đã lập ra một đội
cận vệ vũ trang cơ động về cơ bản gồm những phần tử mất gốc giai cấp. Tháng 6, công
nhân đã khởi nghĩa để trả lời lệnh của chính phủ huỷ bỏ các xưởng quốc gia, gây ra tình
trạng thất nghiệp tăng lên. Nhưng công nhân khởi nghĩa không có sự lãnh đạo chung
cũng không có kế hoạch tấn công nên ngày 26/6 cuộc khởi nghĩa đã bị đàn áp. Trong
những ngày khởi nghĩa tháng 6, công nhân Pari đã đưa ra những khẩu hiệu: "Đả đảo chế
dân tộc tiến bộ.
Trong ban lãnh đạo Đồng minh, những người cộng sản đã có sự chia rẽ, cảnh sát
Phổ đã phái bọn khiêu khích và đặc vụ vào các công xã của Đồng minh và sang cả nước
Anh. Căn cứ vào những biên bản bịa đặt các phiên họp của "Đồng minh của những người
cộng sản" và những "văn kiện" khác, chính phủ Phổ đã tổ chức ở Kiônnơ một vụ án và đã
kết án nhiều hội viên của Đồng minh giam tù với các thời hạn khác nhau Tình thế của
đồng minh những người cộng sản kết sức khó khăn. Cho nên ngày 17/10/1852 theo đề
nghị của C. Mác: "Đồng minh những người cộng sản" đã có nghị quyết tự giải thể. Phong
trào công nhân ở khắp nơi đều đi xuống. Chỉ đến cuối những năm 50 đầu những năm 60
phong trào công nhân mới lại được phục hồi (ở Anh, Pháp, Đức, Mỹ) và đó là điều kiện
thuận lợi cho sự thành lập tổ chức quốc tế của công nhân. Ngày 28/9/1864 Hội liên hiệp
công nhân quốc tế (Quốc tế I) đã được thành lập tại cuộc mít tinh quốc tế của công nhân
ở Lôn Đôn. Hoạt động Quốc tế I trước công xã Pari (1871) đã diễn ra trong những năm
CNTB được xác lập và chiến thắng. Tư tưởng của chủ nghĩa Mác được truyền bá ngày
càng rộng, vì nó gắn bó hữu cơ với cuộc sống, sự phát triển và cuộc đấu tranh của
GCCN. Do đó đã diễn ra quá trình kết hợp lý luận cách mạng với phong trào công nhân
Quốc tế I góp phần nâng cao ý thức giác ngộ giai cấp cho công nhân, phân rõ giữa ranh
giới giữa các lực lượng trong phong trào công nhân quốc tế giúp cho các trào lưu tả
khuynh xuất hiện trong đó.
ý nghĩa hoạt động của Quốc tế I những năm 60 đặc biệt là ở chỗ nó đã đưa ra cho
các công nhân tiên tiến một cương lĩnh đấu tranh về cả kinh tế - xã hội lẫn chính trị và lần
đầu tiên những biện pháp tổ chức giai cấp công nhân đã được kết hợp với mục đích cuối
cùng của phong trào vô sản, với việc giải phóng hoàn toàn GCVS. Công xã Pari năm
1871 là con đẻ tinh thần của Quốc tế I, nó được thành lập vào thời điểm CNTB trước độc
quyền kết thúc, và CNTB bắt đầu chuyển thành chủ nghĩa đế quốc. Công xã Pari mở đầu
cho thời kỳ mới trong sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới.
Thời kỳ này, Mác và Ăng-ghen đã xây dựng và phát triển một số luận điểm quan
trọng của CNXHKH: GCCN phải trở thành giai cấp thống trị, phải đập tan nhà nước của
GCTS, xây dựng nhà nước của GCCN, chứ không chỉ giản đơn là chiếm lấy bộ máy nhà
bản bắt đầu gắn với sự ra đời của các công ty tư bản độc quyền. Sự xuất hiện của công ty
tư bản độc quyền, sự tăng cường cạnh tranh trên thị trường thế giới đã đưa đến chỗ GCTS
trút những khó khăn lớn lên vai GCCN. Để cạnh tranh GCTS đã hạ thấp tiền lương, tăng
cường độ lao động, kéo dài thời gian làm việc nên đời sống công nhân đặc biệt khó
khăn, nhất là vào thời gian khủng hoảng kinh tế. Do đó, phong trào công nhân lại phát
triển với những cuộc bãi công có tính tổ chức, tính quần chúng tinh thần chiến đấu bền
bỉ. Tuy nhiên tình thế cách mạng cũng chưa xuất hiện nên đây là thời kỳ phát triển tương
đối "hoà bình" của CNTB.
Sự thành lập của chính đảng của giai cấp công nhân ở các nước đã không làm mất
đi khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa trong phong trào công nhân. Các đảng ấy đã học tập
sử dụng chế độ đại nghị tư sản, để tổ chức giáo dục chuẩn bị cho cuộc đấu tranh trong
tương lai.
Ngày 14/3/1883 C. Mác mất. Phong trào công nhân quốc tế bị tổn thương nặng nề.
Song vào lúc đó, GCVS đã trưởng thành, các ,lh giữa quốc tế của nó được củng cố, chủ
nghĩa Mác được truyền bá vào phong trào công nhân, các đảng vô sản các nước được
thành lập mà phần lớn dựa theo nguyên tắc của CNXHKN. Do đó ngày 14/7/1889 Quốc
tế II đã được thành lập tại Đại hội quốc tế ở Pari nhân kỷ niệm 100 năm ngày phá ngục
Baxti. Ăng-ghen coi Quốc tế mới là tổ chức kế thừa Quốc tế cũ (Quốc tế I), đồng thời
người cũng cảnh báo cho các lãnh tụ Quốc tế II phải đề phòng nguy cơ sa vào lập trường
cải lương, nhất là đánh giá quá cao hoạt động nghị trường.
Sau khi C. Mác mất, Ph. Ăng-ghen dành hẳn 10' năm còn lại để tiếp tục phát triển,
bổ sung một số nguyên lý của CNXHKN, nổi bật là hoàn thiện bộ tư bản, trong đó ông
phân tích một cách khoa học để vạch ra bản chất quy luật vận động của CNTB và đi tới
kết luận: Sự sụp đổ của CNTB là tất yếu, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là thực
hiện nhiệm vụ thủ tiêu CNTB và xây dựng thành công CNXH, CNCS.
Ngày 5/8/1895 Ăng-ghen qua đời. Trong vòng vài năm sau đó Quốc tế II về cơ
bản còn thi hành đường lối cách mạng. Nhưng về sau nó đã sa vào nguy cơ mà Ăng-ghen
đã cảnh báo. Ăng-ghen mất, Lênin đã viết một bản cáo phó trong đó Người đã ca ngợi
công lao của Ăng-ghen gắn liền với sự ca ngoại Mác, Lênin viết: "Mác và Ăng-ghen là