LUẬN VĂN:
Sự hình thành và phát triển - thực
trạng hoạt động kinh doanh của công
ty bánh kẹo Hải Hà
Chương I: sự hình thành và phát triển - thực trạng hoạt động kinh
doanh của công ty
bánh kẹo Hải Hà.
I. Khái quát về sự hình thành và phát triển của công ty:
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty:
Công ty bánh kẹo Hải Hà gọi tắt là Haihaco, địa chỉ: số 26 đường Trương
Định - Hà nội. Là công ty chuyên sản xuất và kinh doanh các loại nhu cầuàg bánh
kẹo phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của mọi tần lớp nhân dân. Hiện nay Hải
Hà là một những công ty đang có uy tín trên thị trường. để có được thành công này
công ty phải trải qua những khó khăn và thử thách theo các giai đoạn sau:
*Giai đoạn 1959-1961: Tháng 1-1959 Tổng công ty Nông thuỷ sản miền
Bắc đã cho xây dựngmột cơ sở thực nghiệm nghiên cứuhạt chân châu. Từ giữa năm
19559 đến tháng 4-1960 thử nghiệm sản xuất mặt hàng miến gồm nguyên liệu đậu
+ Bảo toàn và phát triển vốn được giao.
+ Thực hiện các nhiệm vụ các nghĩa vụ đối với nhà nước.
+ Thực hiện phân phối theo lao động: Chăm lo đời sống vật chất tinh thần
cho cán bộ công nghệV, nâng cao trình độ chuyên môn. 3. Bộ máy quản lý và mối liên hệ trong công ty.
Qua sơ đồ ta thấy bộ máy của công ty được tổ chức theo kiểu chức năng,
đứng đầu là Tổng giám đốc. Tổng giám đốc có nhiệm vụ điều hành chung hoạt
động của toàn công ty. Bên cạnh đó còn có các phó giám đốc chuyên trách từng bộ
phận.Cơ cấu bộ máy được chuyên môn hoá tới từng phòng ban như sau:
- Phòng kỹ thuật có chức năng: theo dõi việc thực hiện các quá trình công
nghệ đảm bảo chất lượng sản phẩm, nghiên cứu chế thử sản phẩm mới.
- Phòng tài vụ có chức năng: huy động vốn phục vụ sản xuất, tính giá thành
lỗ lãi.
- Phòng kinh doanh có chức năng: lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, điều
độ sản xuất và thực hiện kế hoạch, cung ứng vật tư sản xuất cânđối kế hoạch, thu
mua, ký kết hợp đồng thu mua vật tư, thiết bị, ký hợp đồng tổ chức hoạt động
Maketing từ quá trình sản xuất đến quá trình tiêu thụ, thăm dò thị trường, quảng
cáo… lập dự án phát triển cho những năm tiếp theo.
- Văn phòng: lập định mức thời gian cho các loại sản phẩm, tính lương,
thưởng, tuyển dụng lao động; phụ trách bảo hiểm, an toàn lao động, vệ sinh công
nghiệp và phục vụ tiếp khách.
- Bảo vệ, nhà ăn có chức năng: kiểm tra bảo vệ cơ sở vật chất kỹ thuật của
công ty; nhà ăn có nhiệm vụ nấu ăng trưa cho toàn Công ty.
Ngoài ra công ty còn có hệ thống các cửa hàng có chức năng giới thiệu và
bán sản phẩm của công ty. Hệ thống các nhà kho có chức nămg dự trữ bảo quản
nguyên vật liệu, trang thiết bị phục vụ cho sản xuất và dự trữ bảo quản sản phẩm
làm ra.
II. Thực trạng kinh doanh của công ty bánh kẹo Hải Hà từ năm 1999 - 2001:
kẹo huế. Đà nẵng, ngoài ra còn có Biên hoà, Quảng ngãi làm cho sự cạnh tranh
thêm gay hắt.
- Thị trường miền nam: đây là thị trường đông dân cư những sản phẩm tiêu
thụ lại rất ít. Nguyên nhân là do sự cạnh tranh gay gắt do sự sa cách về mặt địa lý:
đặc biệt tại đây có những đối thủ nước ngoài tràn vào qua nhập khẩu bằng con
đường tiểu ngạch nên rất khó cạnh tranh.
* Thị trường nước ngoài:
Hiện nay nước ta đang trên ccon đường hội nhập và giao lưu với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Để tăng cường cà phát triển kinh tế tiến kịp các
nước đó chúng ta phải có những bước nhẩy lớn về sự phát triển công nghiệp. Công
ty bánh kẹo Hải Hà tuy mới chỉ xuất khẩu được một phầ rất nhỏ nhưngcũng là dấu
hiệu đáng mừng của ngành bánh kẹo Việt Nam. Hiện nay công ty đã xuất khẩu
được sang một số nước như: Trung quốc, Mông cổ, Thái lan, Lào, Campuchia.
1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty:
Mặc dù gặp bao nhiêu khó khăn thử thách bởi những cơn lốc cạnh tranh,
Hải Hà vẫn liên tục trưởng thành.Trong nền kinh tế thị trường Hải Hà đã phát huy
mọi khả nẵng kinh doanh của mình để đứng vững trên thị trường và nâng cao uy tín
của công ty. Công ty đã gắn công ty tiêu thụ với thị trường. Hienẹnya sản phẩm của
công ty đã có mặt khắp nơi trong và ngoài nước.
Dưới đây là kết quả sản xuất kinh doanh của công ty từ năm 1999 - 2001.
Bảng 1: Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty
st
t
Chỉ tiêu đơn
vị
Thực hiện So sánh
1999 2000 2001 00/99 01/00
1
Lao động
Thu nhập bình quân
Tr.đ
Tr.đ
Ngườ
i
421
1.980
650
408
1.783
670
427
1.650
700
120,9
3
96,91
90,05
130,0
8
105,39
92,54
104,4
(Số liệu: phòng kinh doanh tháng 4 - 2002)
Qua các số liệu trên cho thấy: giá trị tổng sản lượng năm 2000 giảm so với
năm 99 là 1, 65%, nhưng năm 2001 lại tăng 0, 78%. Mặc dù vậy những doanh thu
và nộp ngân sách tăng. Điều đó chứng tỏ công ty không ngừng sử dụng biện pháp
tiêu thụ kịp thời và hợp lý trong quản lý và thúc đẩy sự phát triển không ngừng
của công ty. Doanh thu tăng nhưng lợi nhuận giảm cụ thể năm 2000 giảm so với
Sản
xuất
Tiêu thụ % Sản
xuất
Tiêu
thụ
% Sản
xuất
Tiêu
thụ
%
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
1.147,5
788,7
1033,5
631,1
779
661,1
683,1
680,63
997,6
896,9
766
645,2
494,3
1034,1
933,8
1036,4
844,87
1091,3
996,7
667,1
947,75
843,1
689
593,52
464,67
941
896,46
985
827,4
1081
94
98
95
94
90
92
94
99
99
99
93
98
97
93
98
95
91
94
Tổng 10694 1016,36 96,25 10481 9932,7 94,8
11439,3 10963,1 95,8
Qua bảng số liệu trên ta thấy tìnhhình tiêu thụ sản phẩm của công ty khá tốt,
sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ được gần hết. Nhờ có gắn bó tốt công tác nghiên cứu
thị trường sản xuất có kế hoạch và tổ chức hệ thống tiêu thụ sâu rộng sản phẩm
không bị ứ đọng và hư hỏng. Chúng ta biết rằng quá I và IV tiêu thụ nhiều nhất, sản phẩm sản xuất ra baonhiêu hầu như được tiêu thụ hết bởi vì đó là vào thời kỳ mùa
cưới, tết và các lễ hội khác do đó nhu cầu tăng lên so với các quý khác. riêng năm
2001 do tháng 11 xảy ra lũ lụt ở mièn Trung đã làm cho lượng tiêu thụ khoảng 12-
15% tổng lượng tiêu thụ.
Tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty năm 2000 đạt 94,8% giảm 1, 45%
so với năm 1999. Lý do của việc giảm đó là do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
Đông Nam á làm cho mức tiêu dùng của người dân giảm xuống. Đến năm 2001
tiêu thụ đã tăng lên không nhiều (1%), có thể sẽ tăng cao hơn nếu không có tình
trạng lũ lụt xảy ra ở miền Trung vào cuối năm 2001.
1250
400
700
400
250
300
100
200
150
250
131,6
133,3
140
160
Tổng 2000 3000 1000 565
Như vậy, mặc dù lượng bánh kẹo xuất khẩu của công ty ra nước ngoài
không cao lắm nhưng sản lượng 2001 cao hơn 2000 là 56, 5% tức là 1000 tấn. Thị
trường xuất khẩu chính vẫn là Trung Quốcvà Mông cổ, thị trường tiềm năng với
dân số đông, mức tiêu thụ lớn đang mở ra nhiều triển vọng cho công tác xuất khẩu
của công ty. Thái Lan xuất khẩu ra các loại bánh kẹo có chất lượng cao, mẫu mã
đẹp. Hiện nay trên thị trường nước ta tràn ngập các loại bánh kẹo Thái Lan, thế
nhưng bánh kẹo của Hải Hà vẫn được người dân Thái Lan tiêu dùng. Điều đó
chứng tỏ chất lượng của Hải Hà đã được nâng cao không kém gì chất lượng hàng
ngoại. Đây là một điều rất đáng mừng và là triển vọng tốt cho công ty bánh kẹo
Hải Hà.
* ảnh hưởng của thuế GTGT đối với công ty bánh kẹo Hải Hà:
Theo như quy định của Luật thuế GTGT là tất cả các loại hàng hoá, nguyên
vật liệu tồn kho đến trước ngày 1-1-1999 đều không được khấu trừ vào thuế.
Là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tực tiếp tiêu thụ sản phẩm trên thị
Hà Nội thì bánh kẹo Trung Quốc xuất hiện, nhưng ở các vùng nông thôn và biên
giới chiếm tỷ trọng khá lơn.
Biểu 4: Tỷ trọng của bánh kẹo Trung Quốc trên thị trường nước ta,
Thị trường cũ Thị trường hiện tại Khu vực tiêu thụ Tỷ
trọng
(%)
Khu vực tiêu thụ Tỷ
trọng
(%)
Hà nội
Nông thôn
Vùng giáp biên giới Trung
Quốc
25
40
60
Hà nội
Nông thôn
Vùng giáp biên giới Trung
Quốc
7
37
55
2.Thực trạng công tác nghiên cứu thị trường sản phẩm của công ty.
Hiện nay thị trường bánh kẹo ngày càng đựoc mở rộng bởi các nhà cung cấp
trong và ngoài nứoc. Vì vậy, bản thân các công ty không những phải cạnh tranh
với các công ty trong nước mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước
120000
15000
88.811.11
135520
12000
91.878.13
150250
14000
91.478.53
0
20000
40000
60000
80000
100000
120000
140000
160000
SL TT(%) SL TT(%) SL TT(%)
1997 1998 1999
Trong n í c NhËp khÈu
Bảng 6 : Tổng cầu bánh kẹo trên thị trường.
Chỉ tiêu Đơn
vị
1999 2000 2001
Tổng dân số
Sản lượng bánh kẹo tiêu thụ
Bình quân tính theo đầu người
Triệu
người
đại lý trên cả nứoc. Chính vì vậy, giờ đây bánh kẹo có mặt hầu như từ các đường
phố, siêu thị, ngõ hẻm, vùng sâu, vùng xa, điều này cho biết nhu cầu tiêu thụ
bánh kẹo ngày càng tăng. Với tốc độ phát triển dân số của nước ta đó cũng là một
thị trường lớn, ngoài ra chúng ta cũng phải xâm nhập thị trường nước ngoài nhiều
hơn nữa.
2.2. Nghiên cứu cơ cấu thị trường:
Nghiên cứu cơ cấu thị trường cho phép doanh nghiệp hiểu được các bộ
phận cấu thành chủ yếu của thị trường. Mỗi vùng khác nhau có điều kiện kinh tế xã
hội, phong tục tập quán, lôi sống, thị hiếu, thu nhập, thói quen khác nhau. Vì thế
mà quy mô thị trường, cơ cấu hàng hoá để thảo mãn nhu cầu cũng khác nhau. Thị
trường tiêu thụ của công ty bánh kẹo Hải Hà đã được chia thành 3 vùng Bắc, Trung và Nam. Nghiên cứu thị trường giúp cho công ty không những bố trí lượng
hàng hoá phù hợp với nhu cầu của dân cư trong vùng mà còn có các biện pháp
kênh phân phối xúc tiến bán hàng cho phù hợp.
* Thị trường miền Bắc: Thị trường chính của công thay thế, trung tâm là
thủ đô Hà Nội, các tỉnh lân cận và khu 4 cũ được tiêu thụ trên thị trường này. Tâm
lý của ngưới miền Bắc khi mua bánh kẹo thường quan tâm đến khối lượng của gói.
Các thu nhập của người dân miền Bắc thấp hơn miền Nam nên tiêu thụ bánh kẹo
mới chỉ tập trung ở thành phố và thị xã.
Nhu cầu về bánh kẹo không phải là nhu cầu thiết yếu. Ăn bánh kẹo trở thành
nhu cầu khi đời sống người tiêu dùng cao hơn bánh kẹo còn được dùng làm quà
biếu vì thế khách hàng quan tâm đến kiểu cách và hình thức các loại mặt hàng.
Các loại bánh kẹo được sản xuất ra để đáp ứng nhu cầu của mọi tầng lợp xã
hội nhưng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu trẻ em. Bánh kẹo thường có mặt ở các buổi
lễ, tiệc, sinh nhật và các buổi trò chuyện. Vì vậy bánh kẹo vừa phải có hình thức
đẹp nhỏ nhắn lịch sự.
Người miền Bắc thích những loại bánh kẹo sang trọng như bánh kẹo miền
Nam và ngoại nhập.
trưởng với tốc độ cao. Làm cho thu nhập trong các tầng lớp dân cư tăng rõ rệt làm
cho khả năng thanh toán của tăng sức mua lớn hơn. Đây là cơ hội tốt cho các doanh
nghiệp , trong đó có Hải Hà nắm bắt được nhu cầu của thị trường công ty đã ngày
càng mở rộng quy mô sản xuất mở rộng danh mục sản phẩm. Cụ thể nếu như năm
2001 công ty chỉ có 20 chủng loại bánh và 40 chủng loại kẹo thì sang năm 2002
công ty đã có tới 33 chủng loại bánh và 64 chủng loại kẹo.
Tỷ lệ giảm phát giảm nhiều làm cho các doanh nghiệp yên tâm đầu tư sản
xuất, mua thêm máy móc, thiết bị. Tuy nhiên do phải đi vay vốn nhiều mà lãi suất
tiền vay cao đã làm giảm lợi nhuận công ty ( hàng tháng Hải Hà phải trả lãi tiền
vay ngân hàng từ 700 - 800 triệu đồng). Mấy năm gần đây do biến động về tình hình tài chính khu vực và thế giới
làm cho giá ngoại tệ tăng lên làm cho giá vật tư nhập khẩu tăng trong khi đó giá
bánh kẹo không tăng do tình trạng cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp sản
xuất bánh kẹo dẫn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh sút kém.
Sang năm nay giá đường giảm một cách đột ngột làm cho chi phí sản xuất
của công ty giảm đáng kể.
b. Môi trường luật pháp :
Nước ta có thể chế chính trị ổn dịnh, đường lối rõ ràng thêm vào đó tốc độ
tăng trưởng nhanh và ổn định của nền kinh tế tạo điều kiện để công ty phát triển
các mối quan hệ liên doanh liên kết kinh tế quốc tế. Thực tế công ty bánh kẹo Hải
Hà hiện nay đang góp vốn kinh doanh với hai đối tác nước ngoài để thành lập hai
công ty liên doanh tại Việt Nam.
- Công ty Hải Hà - Kotobuki Việt Nam (tại Hà Nội).
- Công ty Miwon Việt Nam (sản xuất mì chính) ( tại Việt Trì).
Đường lối chính trị rộng mở giúp công ty mua nguyên vật liệu từ nước ngoài
tránh bị ép giá, đảm bảo chất lượng và có điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng
thị trường xuất khẩu.
c. Môi trường công nghệ:
Như vậy công ty phải chú ý đến công tác bảo quản sản phẩm tránh tình trạng sản
phẩm biến chất gây ảnh hưởng xấu tới người tiêu dùng.
2.4. Nghiên cứu người tiêu dùng :
Đây là bước tiếp theo của việc nghiên cứu thị trường tiêu thụ, là bí quýêt
thành công của mỗi công ty trên thị trường bởi vì xác định, tìm hiểu các dạng
khách hàng có tập tính tiêu dùng hiện thực và tinh thần sẽ tạo điều kiện cho công ty
đưa ra được những phương án kinh doanh hữu hiệu. Nghiên cứu người tiêu dùng rất tốn kém và hết sức phức tạp đòi hỏi nhân
viên thị trường phải tích cực và nhiệt tình làm công tác trên địa phận mình được
giao. Trong thời gian qua Hải Hà đã thực hiện tốt công tác này. Mỗi nhân viên thị
trường hoạt động trên một địa bàn cụ thể tiếp cận với từng người ở đủ các lứa tuổi,
giới tính, thu nhập cụ thể như sau: Bảng 7: Bảng nghiên cứu người tiêu dùng
Đoạn thị
trường
Yêu cầu về
sản phẩm
Loại sản
phẩm hay
mua
Khối lượng
mua
Cơ hội mua
Từ 3 - 14 tuổi - Màu sắc sặc
sỡ.
- Độ ngọt cao
Dùng loại bánh
kẹo cao cấp,
mẫu mã đẹp,
chất lượng cao
- Mùa nóng
ít dùng
- Mùa lạnh
dùng cả bánh
và kẹo.
- Mua ít khi
dùng tráng
miệng.
- Mua nhiều
khi có công
việc.
Mua vào dịp lễ
tết. Thường
mua làm đồ
tráng miệng
Từ 15 -45 tuổi.
Thu nhập thấp
Chất lượng
vừa phải, giá
rẻ
Dùng chủ
yếu bánh và
kẹo vào mùa
lạnh.
Thỉnh thoảng
mua,mua
- Mua loại
quen thuộc
miệng sau bữa
ăn.
- Mua cho
cháu.
- Mua đi lễ
Từ 46 tuổi trở
lên.
Thu nhập thấp
Chất lượng
vừa phải, giá
rẻ, ít quan tâm
đến bao bì
Mùa hè dùng
rất ít
Mua ít - Mua cho
cháu.
- Mua đi lễ, tết
Qua đây ta có thể rút ra nhận xét.
- Việc tiêu dùng bánh kẹo phụ thuộc vào lứa tuổi: người già ăn ít và chủ yêú
là bánh, thường mua cho con cháu. Người trung niên mua cho con, mua khi có
công việc, mua vào dịp lễ, tết, cưới hỏi, liên hoan… lứa tuổi nhỏ3 - 14 thích ăn
bánh kẹo nhất.
-Việc tiêu dùng phụ thuộc vào thoì tiết vào mùa lạnh thì mua nhiều hơn,
mua nhiều vào dịp lễ, tết.
- Việc tiêu thụ bánh kẹo hầu như ít phụ thuộc vào nghề nghiệp, giới tính.
- Chủng loại bánh kẹo mua phụ thuộc vào thu nhập: người có thu nhập cao
thì mua bánh kẹo cao cấp và ngược lại
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu từ đó công ty có thể vạch ra chiến lược phù
phẩm Kinh Đô với các sản phẩm bánh các loại, đặc biệt là Snack Bimbim có chất
lượng cao, mẫu mã đẹp phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng nên chiếm được một
thị phần lớn trên thị trường.
* Đối thủ cạnh tranh nước ngoài:
Hiện nay bánh kẹo nhâp ngoại còn tràn lan ở mộ thị trường số thị trường,
đặc biệt là tập trung ở các thị trường sát biên giới. Đối thủ cạnh tranh chủ yếu của
Hải Hà vẫn là kẹo Thái lan và Bánh Trung Quốc. Tuy nhiên gần đây uy tín của
bánh kẹo ngoại đang bị giảm sút nhất là bánh Trung Quốc. Tuỳ hình thức mẫu mã đẹp, giá lại quá rẻ nhưng chất lượng kém ( dễ bị ẩm mốc…) Chính vì vậy Hải Hà
sẽ cạnh tranh với bánh kẹo ngoại trên hai mặt hình thức mẫu mã và giá cả.
2.5.1. Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh về cơ cấu sản phẩm:
Sản phẩm là vũ khí cạnh tranh chủ yếu nên công ty bánh kẹo Hải Hà đã tiếp
tục đưa ra các sản phẩm mới trong vài năm gần đây như bánh Cracker, bánh phủ
Socola, kẹo Jelly chip chíp, bánh Violet, bánh dạ lan hương, kẹo mơ, kẹo dâu.
Danh mục sản phẩm của công ty ngày càng được mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu
khác nhau của thị trường. Về mặt này, nếu so sánh Hải Hà với một số đối thủ cạnh
tranh khác như: Tràng An, Hữu Nghị, 19-5, Hải Châu, Lam Sơn, Quảng Ngãi
thì Hải Hà có nhiều chủng loại sản phẩm hơn, đây chính là lợi thế cạnh tranh mà
Hải Hà có được.
Nhưng nếu so sánh với công ty đường Biên hoà thì công ty này hơn hẳn Hải
Hà, sản phẩm của họ phong phú hơn về chủng loại. Kẹo dừa, kẹo dưa, kẹo mơ,
kẹo chanh, kẹo sầu riêng, kẹo me, kẹo cứng, kẹo ô mai, kẹo bạc hà, kẹo
gừng…ngoài ra còn có nhiều loại bánh khác. Thực vậy về mặt sản phẩm và cơ cấu
sản phẩm thì Biên Hoà là một đối thủ cạnh tranh nặng ký của Hải Hà.
Bánh kẹo nhập ngoại vào Việt Nam cũng có chủng loại rất phong phú: bánh
ngọt, bánh mặn, bánh phủ Socola, bánh kem xốp, bánh bích quy, bánh quy pho
mát, kẹo ca cao, cà phê, mứt, kẹo tổng hợp. Sự xuất hiện của các loại nhập ngoại
làm cho thị trường bánh kẹo thêm đa dạng, phong phú nhưng nó cũng làm cho sự
thấy bởi mức sống của người dân Hà Nội tăng lên rất nhiều và do vậy yêu cầu về
mẫu mã, bao gói cũng phong phú, đa dạng hơn. Hầu hết các bánh kẹo nhập ngoại
ngoài chất lượng cao còn có mẫu mã hết sức phong phú đa dạng, hấp dẫn. Về điều
này Hải Hà còn nhiều yếu kém so với các đối thủ cạnh tranh.
2.5.4. Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh về giá bán:
Hiện nay, tuy giá bán không còn là công cụ mang tính chất quyết định,
nhưng nó vẫn giữ một vai trò quan trọng trong cạnh tranh đặc biệt đối với mặt hàng bánh kẹo để có thể giảm giá bán mà các doanh nghiệp vẫn có lãi buộc các
doanh nghiệp tìm cách giảm giá thành phẩm như: sử đụng hợp lý, tiết kiệm
nguyên vật liệu, sử dụng các vật liệu thay thế, tăng năng suất lao động… Hiện
nay, tuy giá bán sản phẩm của Hải Hà tương đối thấp so với bánh kẹo Biên Hoà,
Tràng An và bánh ngoại nhập nhưng vẫn cao hơn Hải Châu, Hữu Nghị, 19/5 …
Tại Hà Nội, Hải Hà chịu sự cạnh tranh rất gay gắt về giấ của bánh kẹo Hải
Châu, vì giá của Hải Châu thấp hơn. Sự chênh lệch quá lơn giữa giá kẹo Jelly của
Hải Hà và của Đức cũng gây ra sự nghi ngờ về chất lượng.
III. Một số hiệu quả kinh doanh của công ty bánh kẹo Hải Hà.
1. Những thành tựu mà công ty đã đạt được:
Hải Hà là một trong những công ty đứng đầu về sản xuất bánh kẹo trong cả
nước. Với ưu thế về trang thiết bị hiện đại mới được đầu tư trong những năm gần
đây cùng với đội ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ và đội ngũ công nhân lành nghề,
lâu năm, công ty đã tạo ra được những sản phẩm có chất lượng đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của người tiêu dùng. Chính vì vậy công ty giữ được một phần quan
trọng thị trường bánh kẹo trong nước và bước đầu có sản phẩm xuất khẩu ra nước
ngoài. Những thành tựu mà công ty đã đạt được như :
1.1. Thị trường của công ty ngày càng được mở rộng:
Thị trường gắn liền với công tác hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
vì vậy công ty luôn chú trọng đến công tác nghiên cứu thị trường, nắm vững nhu
cầu thị trường, xác định thị trường tiêu thụ của công ty, từ đó triển khai hoạt động