LUẬN VĂN:
Tăng cường vai trũ nhà nước trong nền
kinh tế thị trường theo định hướng xó hội
chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Mở đầu 1. Tính cấp thiết của luận văn
Sự nghiệp đổi mới toàn diện ở nước ta, trước hết và trọng tâm là đổi mới kinh tế
đồng thời từng bước đổi mới chính trị, được thực hiện từ quyết định quan trọng - Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986).
Đổi mới kinh tế - xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng XHCN là một
nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, phù hợp với
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, vấn đề nhà nước và thị trường, vai trò
của nhà nước trong nền KTTT đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu
dưới nhiều góc độ khác nhau. Đặc biệt từ sau cuộc khủng hoảng năng lượng (những
năm 70) và khủng hoảng ở các nước XHCN (Liên Xô và Đông Âu tan rã) đã đặt lại
vấn đề phải nghiên cứu về vai trò nhà nước trong đời sống kinh tế như thế nào để đạt
được hiệu quả. Theo hướng trên, đã có nhiều công trình nghiên cứu nhưng nhìn chung
những kết quả được rút ra đều tập trung vào một số quan điểm:
Thứ nhất: Nhà nước không thể can thiệp vào thị trường (nhà nước tối thiểu, thị
trường tối đa), thị trường có quy luật riêng, "Bàn tay vô hình" của thị trường sẽ tự nó
giải quyết tất cả. ở nơi nào có sự can thiệp của nhà nước thì ở đó thị trường thất bại,
kinh tế không phát triển được.
Thứ hai: Nhà nước hoàn toàn lãnh đạo, quản lý kinh tế bằng các kế hoạch trong
mọi lĩnh vực, mọi ngành kinh tế. Đại diện cho những quan điểm này là những nhà tân
mác xít, họ cổ vũ và khẳng định mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ (kiểu Xô
viết) coi đó là mô hình tối ưu cho sự phát triển.
Thứ ba: Thừa nhận KTTT, đồng thời nhà nước phải can thiệp tối đa bằng các
công cụ điều tiết vĩ mô (nhà nước tối đa). Theo quan điểm này chỉ có nhà nước (bàn tay
hữu hình) mới có khả năng hạn chế và khắc phục những khuyết tật của KTTT, đặc biệt
là trong lĩnh vực xã hội.
Thứ tư: Một quan điểm khác, không nói đến nhà nước tối đa hay tối thiểu, họ
thừa nhận sự tham gia và can thiệp cần thiết theo chức năng của nhà nước trong KTTT.
ở nước ta, nhận thức về vai trò nhà nước trong nền KTTT cũng có nhiều thay
đổi. Từ tuyệt đối hóa vai trò nhà nước đến nhận thức ngày càng đúng đắn hơn về vai trò
của nó trong nền KTTT. Mặc dù vậy, những kết quả nghiên cứu về quan hệ giữa nhà
nước và thị trường còn chưa thỏa đáng, cần phải quan tâm nghiên cứu nhiều hơn nữa.
Đảng ta chủ trương xây dựng một nền KTTT định hướng XHCN là hoàn toàn
đúng đắn. Song vấn đề đặt ra là: Vai trò Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong
nền KTTT định hướng XHCN như thế nào? Đây là vấn đề rất lớn cả về lý luận cũng
Cơ sở lý luận:
Vận dụng lý luận và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan
điểm đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về mối quan hệ chính trị và kinh tế, vai trò
nhà nước trong quản lý kinh tế và kinh tế XHCN; một số lý thuyết của khoa học kinh tế
và khoa học chính trị hiện đại cũng như một số kinh nghiệm nước ngoài để lý giải
những vấn đề thực tiễn đặt ra.
Phương pháp nghiên cứu:
Chủ yếu vận dụng phương pháp lôgíc - lịch sử và các phương pháp khác: Chính
trị học so sánh; xã hội học chính trị, so sánh, thống kê, định lượng
5. Giới hạn nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu vai trò Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong phát
triển nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
(12/1986) đến nay.
6. Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở hệ thống hóa những thành tựu nghiên cứu về quyền lực nhà nước
trong các nền kinh tế, luận văn góp phần làm rõ vai trò quyền lực Nhà nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta.
Đề xuất một số định hướng và giải pháp cho việc tăng cường vai trò Nhà nước
trong nền KTTT theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết và
danh mục tài liệu tham khảo. Mục lục Trang
32
2.1.1. Một số đặc điểm chủ yếu của nền kinh tế Việt Nam trư
ớc và trong
đổi mới
32
2.1.2. Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong phát triển nền kinh t
ế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
39
2.2. Thực trạng hoạt động của bộ máy nhà nư
ớc trong lĩnh vực
kinh tế từ 1986 đến nay
42
2.2.1. Hoạt động của bộ máy nhà nư
ớc trong quản lý hành chính về kinh
tế
42
2.2.2. Hoạt động nhà nước trong quản lý điều tiết kinh tế (hoạch đ
ịnh
chính sách)
45
2.2.3. Thực trạng kinh tế nhà nư
ớc và vai trò của nó trong nền kinh tế thị
trường ở nước ta hiện nay
49
2.3. Đánh giá khái quát việc thực thi vai trò quyền lực nhà nư
ớc
trong kinh tế
52
3.3.2. Đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động của thể chế nhà nước 81
3.3.3. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội 90
Kết luận
95
Danh mục tài liệu tham khảo
101 Chương 1
Lý luận chung về vai trò nhà nước
trong kinh tế và kinh tế thị trường
1.1. Quyền lực nhà nước trong phát triển kinh tế
1.1.1. Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước trong phát triển kinh
tế và kinh tế thị trường
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng, nhà nước luôn có chức năng kinh tế.
Nghĩa là, nhà nước ra đời và tồn tại không phải chỉ thuần túy để làm chính trị, không chỉ
quản lý xã hội mà còn quản lý và phát triển kinh tế. Nhà nước chính là đại diện cho giai
cấp thống trị về kinh tế và chức năng kinh tế của nhà nước cũng chính là nhằm củng cố
tế phù hợp với sự phát triển của LLSX. Nhà nước nắm bắt các quy luật phát triển của
nền kinh tế, tạo môi trường pháp lý và hoạch định các chính sách để phát huy các mặt
tích cực của các xu hướng tích cực, đồng thời loại bỏ những mặt, những nhân tố tiêu
cực cản trở sự tác động của các quy luật kinh tế.
- Sự tác động của nhà nước theo hướng ngược chiều sẽ dẫn tới kìm hãm sự phát
triển kinh tế - xã hội.
Nghĩa là, nhà nước duy trì các quan hệ kinh tế lỗi thời, không còn phù hợp với
sự phát triển của LLSX hoặc bảo vệ lợi ích của giai cấp phản động chống lại lợi ích của
giai cấp đang lên, lợi ích của nhân dân lao động. Hoạt động bất chấp quy luật khách
quan của kinh tế - xã hội.
Nhà nước với chức năng kinh tế, có vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, vai trò đó được phát huy và thực hiện có hiệu quả hay
không là phụ thuộc vào bản chất của từng chế độ chính trị và bản chất giai cấp của từng
nhà nước.
Các nhà nước (chủ nô, phong kiến, tư sản) đều bằng cách này hay cách khác
kiểm soát các hoạt động kinh tế của xã hội, đặt ra những chính sách, luật lệ nhằm giữ
vững vị trí thống trị của giai cấp cầm quyền. Ngay dưới CNTB, mặc dù các thể chế thị
trường phát triển cao, nhà nước TBCN tham gia vào các quá trình kinh tế với rất nhiều
hình thức (mà đỉnh cao là CNTB độc quyền nhà nước - sự liên minh giữa nhà nước và
các tập đoàn tư bản) cũng đều nhằm củng cố vị trí thống trị của giai cấp tư sản - giai cấp
cầm quyền.
Khác với nhà nước của các giai cấp bóc lột, nhà nước XHCN là nhà nước kiểu
mới - nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhà nước thực hiện trấn
áp giai cấp bóc lột - giai cấp tư sản và bọn phản động, nhà nước dân chủ với quảng đại
quần chúng. Nhà nước có nhiệm vụ kinh tế và vì lợi ích kinh tế của nhân dân lao động.
Trong hai chức năng trấn áp và xây dựng của nhà nước XHCN, chủ nghĩa Mác - Lênin
khẳng định rằng chức năng xây dựng là chủ yếu.
Để làm được việc đó, giai cấp vô sản phải bằng quyền lực nhà nước của mình,
tiến hành một cuộc cách mạng toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
vận dụng toàn bộ hệ thống các quy luật đó sao cho phù hợp, có lợi cho CNXH. Một mặt
tạo ra những điều kiện vật chất và xã hội để các quy luật kinh tế XHCN phát huy ngày
càng đầy đủ tác dụng của mình - là nhân tố chủ đạo; mặt khác, chủ động vận dụng các
quy luật kinh tế khác, hướng theo quỹ đạo của CNXH. Đây là việc khó khăn, phức tạp,
dễ phạm sai lầm "tả" hoặc "hữu khuynh". Do đó đòi hỏi nhà nước XHCN phải có bản
lĩnh, có khả năng tổ chức quản lý giỏi, biết tìm ra những hình thức, phương pháp mới
phong phú, đa dạng để hướng các thành phần kinh tế đi theo quỹ đạo của CNXH.
Từ thực tiễn nước Nga, khi chấm dứt nội chiến và chuyển sang thời bình, Lênin
đã nghiêm khắc rút ra những bài học của chính sách "cộng sản thời chiến", phê phán
những khuynh hướng tư tưởng chủ quan, nóng vội (muốn lập tức quốc hữu hóa, quốc
doanh hóa, hạn chế không sử dụng các hình thức kinh tế quá độ đang còn tồn tại và còn
tác dụng đối với việc phát triển LLSX), dẫn đến hậu quả nghiêm trọng: Kinh tế không
phát triển và gây sự bất bình của nhân dân đối với chính quyền Xô viết Theo Lênin -
quá trình chuyển từ thời chiến sang thời bình "không những chỉ liên quan đến những cơ
sở của công cuộc kiến thiết kinh tế mà còn liên quan đến các cơ sở của những mối quan
hệ giữa các giai cấp còn tồn tại trong xã hội chúng ta". "Vấn đề này là vấn đề cần giải
quyết". Không thực hiện được bước chuyển ấy sẽ là thất bại của Đảng của giai cấp công
nhân.
Lênin cho rằng, điều kiện thời bình phải xem xét lại tất cả các quan điểm lý
luận và thực tiễn sự phát triển kinh tế - xã hội nước Nga, thậm chí thay đổi căn bản cách
tiếp cận với CNXH. Chính từ thực tiễn nước Nga, Lênin đã đưa ra NEP, trong đó Người
nêu rõ những nhiệm vụ và chính sách kinh tế mà nhà nước chuyên chính vô sản phải
thay đổi là:
- Nhà nước vô sản phải thực hiện xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần,
phát triển các quan hệ thị trường dưới sự điều tiết của nhà nước XHCN. Các thành phần
kinh tế đó bao gồm: (1) Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng; (2) kinh tế sản xuất hàng hóa
nhỏ (chủ yếu là nông dân); (3) kinh tế CNTB tư nhân; (4) kinh tế CNTB nhà nước; (5) kinh
tế của CNXH [21, tr. 248].
Các thành phần kinh tế trên đây đan xen với nhau, trong đó thành phần tiểu tư
cách hiểu kinh viện về CNTB nhà nước, Lênin giải thích rằng "CNTB nhà nước mà
chúng ta nói đó là một thứ CNTB mà chúng ta có thể hạn chế, có thể quy định giới hạn,
CNTB nhà nước đó gắn liền với nhà nước, mà nhà nước chính là công nhân, chính là bộ
phận tiên tiến của công nhân, là đội tiền phong, là chúng ta" [23, tr. 102]. Khi thực hiện
CNTB nhà nước Lênin coi trọng "sự lãnh đạo chính trị của giai cấp vô sản". Sự lãnh
đạo này phải hướng vào giải quyết những nhiệm vụ mấu chốt, cấp thiết nhất. Mà trong
một nước tiểu nông thì đó là "phục hồi ngay những LLSX của kinh tế nông dân" [21, tr.
263]. Trong lĩnh vực này những ý kiến của Lênin đặc biệt có giá trị phương pháp luận
cho các Đảng cộng sản ở các nưóc nông nghiệp. Trong các nước ấy, cũng như ở nước
Nga "tìm cách ngăn cấm, triệt để chặn đứng mọi sự phát triển của sự trao đổi tư nhân,
không phải là quốc doanh, tức là của thương mại, tức là của CNTB, một sự phát triển
không thể tránh được khi có hàng triệu người sản xuất nhỏ. Chính sách ấy là một sự dại
dột và tự sát đối với đảng nào muốn áp dụng nó. Dại dột, vì về phương diện kinh tế,
chính sách ấy là không thể nào thực hiện được; tự sát, vì những đảng nào định thi hành
một chính sách như thế, nhất định sẽ bị phá sản" [21, tr. 267].
Để thực hiện được các nhiệm vụ "quy định", "giới hạn" CNTB nhà nước, Lênin
nhấn mạnh nhà nước chuyên chính vô sản phải cải tiến phương pháp làm việc của bộ
máy Xô viết theo hướng tăng cường quyền lực trong điều kiện nền KTTT.
Bộ máy nhà nước Xô viết là chuyên chính vô sản, nhà nước của giai cấp công
nhân và nông dân, nhưng bộ máy ấy không phải sau khi giành được chính quyền đã
hoạt động tốt. Vì theo Lênin, bộ máy đó chưa thực sự là công nông, còn nhiều tàn dư
phong kiến và tư sản nên phải xây dựng lâu dài. Những đảng viên cộng sản làm việc
trong bộ máy còn chưa có kinh nghiệm quản lý, làm việc kém hiệu quả; bộ máy còn
cồng kềnh và thiếu sự kiểm tra giám sát từ phía nhân dân. Vì vậy, việc xây dựng nhà
nước Xô viết là một nhiệm vụ nối tiếp quan trọng sau khi hoàn thành cuộc cách mạng
giành chính quyền vĩ đại.
"Tôi biết rõ ràng chúng ta có những khuyết điểm trong bộ máy tổ chức quần
chúng", nhưng "vấn đề không phải là ở chỗ lấy việc cải tổ nhanh chóng để cải tiến bộ
máy đó, mà vấn đề là ở chỗ phải quán triệt cuộc cải tạo chính trị đó để đạt tới một trình
cách mở cửa của Trung Quốc; và đổi mới ở Việt Nam.
Chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn của các nước xây dựng CNXH chỉ ra rằng,
nhà nước XHCN có thể sử dụng các hình thức quản lý quá độ, hỗn hợp, trong đó có thể
sử dụng các quan hệ thị trường để quản lý và phát triển nền kinh tế.
Tuy nhiên, nhà nước quản lý nền kinh tế XHCN như thế nào, còn là vấn đề
chưa có câu trả lời cuối cùng và vấn đề đó còn tùy thuộc vào điều kiện từng nước và bối
cảnh chung của thế giới. Nhưng không thể phủ nhận vai trò đặc biệt của nhà nước
XHCN trong phát triển nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong nền KTTT định hướng
XHCN hoặc thị trường XHCN.
1.1.2. Vài nét về một số lý thuyết và kinh nghiệm thế giới về vai trò chức
năng nhà nước đối với sự phát triển kinh tế
Các tác giả nổi tiếng là Ađam Smít và Đavit Ricarđô do đánh giá quá cao vai
trò của lao động, đất đai và mậu dịch tự do, nên chủ trương nền kinh tế phải được điều
khiển bởi "bàn tay vô hình". Các ông chưa đánh giá đúng vị trí của nhà nước trong đời
sống kinh tế. Lý thuyết của các ông là cơ sở cho chủ nghĩa tự do cũ và mới. Chủ nghĩa
tự do mới cổ vũ cho sự tham gia tối thiểu của nhà nước vào KTTT. Điển hình cho mô
hình KTTT theo chủ nghĩa tự do là Mỹ. Từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX, CNTB
phát triển chủ yếu theo khuynh hướng này. Đặc điểm hoạt động của giai đoạn này của
CNTB là dựa trên sự bóc lột không thương xót giai cấp công nhân và nhân dân lao
động, lấy tự do cạnh tranh làm động lực. Sự phát triển của CNTB thường kèm theo
khủng hoảng định kỳ, tổng khủng hoảng, chiến tranh xâm chiếm thuộc địa và thị
trường, cao hơn là chiến tranh thế giới để phân chia thị trường. Nhà nước trong sự
phát triển này thực sự là công cụ đắc lực của giới chủ tư bản. Nhân dân thế giới phải trả
giá đắt về xã hội cho sự phát triển TBCN. Chính vì phải trả giá đắt về xã hội cho KTTT,
chính vì sự bất lực của nhà nước trước các thế lực tài phiệt, nửa cuối thế kỷ XIX đã xuất
hiện sự liên minh giữa nhà nước và tư bản hình thành CNTB nhà nước. Mặc dầu vậy
CNTB nhà nước cũng không giải quyết được những căn bệnh của CNTB đó là khủng
hoảng kinh tế, thất nghiệp, phân hóa giàu nghèo, phá hủy môi trường, chạy đua mù
quáng vì lợi nhuận
Hiện nay vấn đề tham gia của nhà nước vào đời sống KTTT đã trở thành vấn đề
không tranh cãi. Vấn đề là nhà nước tham gia như thế nào, ở lĩnh vực gì mà thôi ở đây
chúng ta thấy câu trả lời là không đơn nghĩa.
Nhìn chung, các nhà khoa học và quản lý đều nhất trí cho rằng, trong nền
KTTT, nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Nhà nước như là người điều tiết thị
trường bằng cách tạo những khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động kinh tế; xây dựng
những điều kiện cho cạnh tranh hợp pháp; chống độc quyền; xây dựng chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội trong tổng thể; tham gia khắc phục những thất bại của thị trường.
Nghiên cứu một số lý thuyết, chúng ta có thể rút ra một số vấn đề: Nhìn chung
các lý thuyết cổ điển đều cho rằng thị trường là nhân tố chính của sự phát triển, trong đó
nhấn mạnh những yếu tố sản xuất trực tiếp như vốn, đất đai và tích lũy có ý nghĩa quyết
định. Tuy nhiên các lý thuyết này chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển thấp, chủ yếu dựa
vào lao động cơ bắp, vốn, tài nguyên.
Một số lý thuyết hiện đại đã thấy được tầm quan trọng của khoa học kỹ thuật,
thị trường và nhà nước. Nhưng còn tuyệt đối hóa KTTT, hoặc khoa học kỹ thuật, hay
vai trò nhà nước mà chưa thấy được tiềm năng con người. Một số lý thuyết đã nhấn
mạnh vai trò quyết định của các thể chế trong quá trình phát triển.
Kinh nghiệm thế giới hiện đại cho thấy, việc phát triển kinh tế không thể áp
dụng tuyệt đối một lý thuyết nào. Hầu hết các nước thành công trong phát triển kinh tế
đều áp dụng một cách tổng hợp linh hoạt mềm dẻo các lý thuyết và kinh nghiệm khác
nhau vào thực tiễn phát triển kinh tế trong từng giai đoạn cụ thể của đất nước. Các nước
HPAEs đã cung cấp những kinh nghiệm quý báu.
Từ 1960 đến nay, HPAEs đã lựa chọn cho mình một khuynh hướng phát triển
đúng đắn là: Kinh tế thị trường với "sự can thiệp có lựa chọn" của nhà nước; cách mạng
công nghệ, đặc biệt là tin học; thực hiện công bằng
xã hội.
Từ năm 1960, HPAEs tăng trưởng nhanh gấp đôi các nền kinh tế Đông á, gấp 3
lần so với Mỹ La tinh và Nam á, gấp 5 lần so với châu Phi, cận xa mạc Xahara. Tuổi thọ
trung bình tăng từ 65 tuổi năm 1960 lên 71 tuổi năm 1990. Tỷ lệ người đói giảm năm
nhận thấy ở thi đấu thể thao theo hạng cân). Thực chất, nhà nước tổ chức các cuộc thi
đấu và đưa ra các luật lệ và trọng tài.
Thực hiện nguyên tắc ổn định kinh tế vĩ mô và chính sách gia tăng xuất khẩu,
Chính phủ các nước này đã rất tôn trọng các giải pháp chính sách chính thống - đặc biệt
là duy trì mức thâm hụt ngân sách ở mức có thể bù đắp được, đồng thời đẩy mạnh xuất
khẩu. Do đó lạm phát luôn luôn được kiểm soát, quản lý được nợ trong nước và nước
ngoài. Bằng cách lập ra các tổ chức kiểm soát như: Ban Tiền tệ ở Singapo, dựa vào luật
lệ cân bằng ngân sách ở Inđônêxia, hệ thống tỷ giá hối đoái ở Thái Lan Các nước này
đã duy trì mức thâm hụt ngân sách ở mức có thể quản lý được, lạm phát ở mức thấp và
ổn định trong suốt thời kỳ tăng trưởng đã không gây mất ổn định kinh tế vĩ mô (tỷ lệ
lạm phát trung bình từ 1961 - 1991 ở Hồng Công 8,8%; Inđônêxia: 12,4%; Hàn Quốc
12,2%; Malaixia 3,4%; Singapo 3,6%, Đài Loan 6,2%; Thái Lan 5,6%) [16, tr. 184].
Cùng với duy trì lạm phát ở mức thấp, họ đã kiểm soát tốt nợ nước ngoài (ví dụ như ở
Hàn Quốc: Năm 1984, là con nợ đứng thứ 4 thế giới. Từ năm 1986, chính phủ Hàn
Quốc đã theo đuổi một chính sách giảm nợ tích cực dựa vào các khoản dự trữ ngày càng
tăng do xuất khẩu mang lại để thanh toán trước kế hoạch, do đó: năm 1990, tỷ lệ nợ so
với GDP giảm xuống còn 14%) [16, tr. 188]. Cùng với những hành động trên, các chính
phủ HPAEs đã tập trung đối ứng nhanh khi nền kinh tế bị sức ép về tài chính và những
cú sốc về kinh tế, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, vượt qua được những thách thức về
chính trị. Ví dụ: ở Thái Lan với cú sốc dầu lửa - những năm 1970 nền kinh tế đã bước
vào bùng nổ chi tiêu công cộng và tư nhân. 1980 - 1981 thâm hụt trong khu vực công
cộng chiếm 7% GDP. Chính phủ mới đắc cử 1980 đã nhận thức được rằng: Cần phải
điều chỉnh kinh tế vĩ mô; lựa chọn chính sách tiền tệ bị hạn chế bởi tỷ giá hối đoái cố
định và thị trường vốn tương đối mở. Do đó họ đã lựa chọn con đường khác thu hẹp tài
chính, tiến hành từng bước trong nhiều năm cắt giảm chi tiêu và tăng thu nhập. Kết quả
là thâm hụt của chính phủ giảm từ 8% GDP (năm 1981 - 1982) xuống còn 1,6% GDP
(năm 1986 - 1987). Trong khi đó thu nhập thuế tăng từ 1,3% GDP (năm 1982) lên 16%
(năm 1998) [16, tr. 198-199].
Bên cạnh các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô như nguyên tắc tài chính ổn định
họ tập trung xây dựng một nhà nước mạnh và hệ thống pháp luật kinh tế một cách đồng
bộ. Bộ máy nhà nước được xây dựng trên cơ sở tập trung quyền lực, lấy hiệu quả trong
hoạt động làm tiền đề thúc đẩy sự phát triển. Bằng việc tập trung quyền lực, nhà nước
đồng thời đưa ra những thể chế và hoạch định chính sách phù hợp, đưa vào bộ máy
chính quyền những cán bộ am hiểu và thạo nghiệp vụ chuyên môn, tích cực loại trừ các
quan chức tham nhũng. Nhờ đó nhà nước kiểm soát được các quan hệ kinh tế - xã hội,
huy động được các nguồn lực trong xã hội hướng vào việc phát triển đất nước.
Hệ thống pháp lý của các HPAEs luôn được điều chỉnh phù hợp với thực tiễn
của nền kinh tế và những biến chuyển của xã hội. Nhờ hệ thống các văn bản pháp luật
đồng bộ có tính khả thi, nhà nước đã thu hút được các nguồn đầu tư trong và ngoài nước
và cũng qua đó nhà nước kiểm soát, điều chỉnh được nguồn đầu tư sao cho quyền lợi
người lao động và môi trường sinh thái trong nước được bảo vệ.
Để có một nhà nước mạnh, các HPAEs đã tập trung trí tuệ cao độ cho các hoạt
động của nhà nước thông qua cơ chế đào tạo sử dụng và nuôi dưỡng nhân tài. Đây là nội
dung cốt lõi trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền trong nền KTTT. Để có đội ngũ
đủ phẩm chất năng lực họ đã chú ý tìm nguồn phục vụ cả trước mắt và lâu dài. Đồng
thời thực hiện chế độ thi tuyển và trả lương xứng đáng, xử lý nghiêm theo pháp luật
những công chức vi phạm pháp luật tham nhũng.
Chính việc xây dựng một nhà nước mạnh, không những đủ năng lực quản lý
kinh tế - xã hội đã đem lại khả năng đoàn kết dân tộc và khai thác được mọi nguồn lực
trên thực tế phục vụ cho sự nghiệp phát triển. Đồng thời cũng tạo ra khả năng thực tế để
toàn dân tham gia vào đấu tranh bài trừ tham nhũng một cách hiệu quả.
Việc xây dựng một nhà nước mạnh, hệ thống pháp lý hoàn thiện và đồng bộ,
làm cơ sở cho mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế và giữ được độc lập dân tộc. Đây là lĩnh
vực thành công nhất của các nước HPAEs. Họ đã biết tận dụng thời cơ trong bối cảnh
quốc tế hóa nền kinh tế thế giới, biến ngoại lực thành nội lực để phát triển kinh tế. Có
thể nói, từ thập kỷ 70 đến nay, tuy các nước này gặp không ít khó khăn trong nền KTTT
(nhất là khủng hoảng tài chính những năm gần đây). Nhưng bằng việc tập trung xây
dựng một nhà nước mạnh có đủ năng lực và đã phát huy vai trò của nó trong nền KTTT,
hành các cuộc cải cách kinh tế. Nội dung những cuộc cải cách này là chuyển nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền KTTT. ở các nước này khi hệ thống
cung cấp của nhà nước không cung cấp đủ hàng hóa và dịch vụ, người dân đã bắt đầu
tìm đến thị trường mà trước hết là thị trường chợ đen. Và cũng chính lúc này quyền lực
nhà nước suy giảm. Cho đến đầu những năm 90, các cuộc cải cách theo hướng KTTT ở
các nước XHCN Đông Âu đã trở thành xu hướng không đảo ngược được. Các bước quá