Tiểu luận: Học thuyết "chính danh" của nho giáo và ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay doc - Pdf 15

Tiểu luận: Học thuyết "chính danh" của nho giáo
và ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay
Được sự hướng dẫn của các thầy giáo trong bộ môn, em xin chọn nội dung:
Học thuyết "chớnh danh" của Nho giỏo và ý nghĩa của nú trong giai đoạn hiện nay
làm tiểu luận cho bộ môn: Lịch sử tư tưởng chính trị.
Nội dung tiểu luận ngoài lời nói đầu, bao gồm:
I. Hoàn cảnh ra đời của trường phái Nho giáo.
II. Nội dung học thuyết "chính danh" của Nho giáo.
III. ý nghĩa của học thuyết "chính danh" trong giai đoạn hiện nay.
Nội dung

I. Hoàn cảnh ra đời của trường phái Nho giáo
1. Hoàn cảnh lịch sử - xã hội
- Trung Quốc là một quốc gia phương Đông điển hình, đó là một xã hội không
có hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, đặc biệt thể hiện rõ nét nhất là không có tư hữu
về ruộng đất. xã hội Trung Quốc cũng giống như nhiều xã hội khác ở châu á không hề
giống như một xã hội nô lệ và phong kiến phương Tây. Đặc điểm của xã hội ấy là công
hữu ruộng đất chiếm ưu thế, tàn dư công xã kéo dài, nền kinh tế - xã hội diễn ra với sự
cống nạp từ bên dưới và phân phối từ bên trên.
Nhà nước ra đời sớm do nhu cầu, đòi hỏi của lịch sử, mặc dù phân hóa giai cấp
chưa chín muồi.
Xã hội và quốc gia chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc cổ đại được hình thành vào
khoảng thiên niên kỷ thứ 2 trước công nguyên. Lịch sử xã hội chiếm hữu nô lệ Trung
Quốc cổ đại là lịch sử đấu tranh tàn khốc giữa chủ nô và nô lệ, giữa tầng lớp thượng lưu
của xã hội chiếm hữu nô lệ với những người nông dân bị phá sản, bị nô dịch và phụ
thuộc. Giữa tầng lớp quý tộc gia truyền bị bần cùng hóa với những thương nhân và trọc

trọng dụng. Sau 14 năm du thuyết không thành, quay về nước Lỗ khi ông đã 68 tuổi.
Ông viết sách và mở trường tư dạy học, học trò theo học rất đông. Ông thọ 73 tuổi.
Học thuyết của Khổng Tử chủ yếu đề cập đến những vấn đề chính trị - xã hội.
Vì vậy nó là học thuyết chính trị. Tuy nhiên, dưới góc độ tiếp cận và hướng giải quyết
những va án đề chính trị - xã hội, tư tưởng của Khổng Tử lại là tư tưởng về con người,
về đạo đức. Hay nói khác học thuyết của Khổng Từ về cơ bản là học thuyết chính trị -
đạo đức.
Tư tưởng chính trị của Khổng Tử được thể hiện tập trung nhất trong quan niệm
của ông về nhân, lễ, chính danh và mối quan hệ giữa chúng.
Trong phạm vi tiểu luận này tôi chỉ xin đề cập đến học thuyết "chính danh" của
Nho giáo. Tuy nhiên "chính danh" không phải là học thuyết độc lập mà nó nằm trong
chỉnh thể đức trị (nhân - lễ - chính danh). Có nhân và lễ thì mới có chính danh. Và khi
có "chính danh" thì chi phối cái nhân, lễ. Con người không có nhân và lễ thì không có
chính danh. Vì vậy, trong quá trình phân tích học thuyết "chính danh" chúng ta không
thể không đề cập đến "nhân" và "lễ".
II. Nội dung học thuyết chính danh của Nho giáo
1. Nội dung của học thuyết "chính danh'
- Thời đại của Khổng Tử sống là thời đại "vương đạo" suy vi, "bá đạo" nổi lên
lấn át "vương đạo", chế độ tông pháp nhà Chu bị đảo lộn, đạo lý nhân luân suy đồi.
Đứng trước tình hình đó các Nho gia có hoài bão về một chế độ phong kiến có kỷ
cương, thái bịnh và thịnh trị. Khi xét tư tưởng của Khổng Tử ta thấy có một quy tắc
chính, một phát kiến của ông đó là học thuyết "chính danh".
"Chính danh" là tư tưởng cơ bản của chính trị Nho giáo nhằm đưa xã hội loạn
trở lại trị. Khổng Tử phản đối nhà cầm quyền dùng pháp chế, hình phạt trị dân mà chủ
trương nhân trị.
Sự vật tồn tại khách quan, để biểu hiện nó phải dùng ngôn ngữ, cái ngôn ngữ để
biểu hiện đó là "danh". Danh đối lập với thực. Danh có nội hàm, sự vật luôn thay đổi

cơ bản, trong đó mỗi mối quan hệ gọi là một luân. Theo Khổng Tử trong xã hội có 5
luân, đó là: Vua - Tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bạn - bè. Trong đó 3 luân đều
được chú trọng hơn cả và gọi đó là tam cương, các luân đã nói rõ danh phận của từng
người. Nếu mỗi người thực hiện đúng danh phận đó sao cho "vua phải giữ đạo vua, bề
tôi phải giữ đạo bề tôi, cha phải giữ đạo cha, con phải giữ đạo con, chồng phải giữ đạo
chồng, vợ phải giữ đạo vợ" (quân kính, thần trung, phu từ, tử hiếu, phu xướng, phụ
tùng" thì có chính danh. Mỗi người giữ đúng danh phận của mình thì mới có thể gây lại
được nền chính trị của thời thiên hạ có đạo".
Vì vậy, Khổng Tử khẳng định muốn làm cho xã hội ổn định thì phải "chính
danh", "chính danh" từ trên xuống: quân - quân, thần - thần, phụ - phụ, tử - tử. Chứ thứ
2 là chữ chỉ "danh", với tiêu chuẩn lý tưởng, là những con người cấp tính để người ta
phải tu vào đó. Chứ thứ nhất là chữ chỉ những con người cụ thể bằng xương, bằng thịt,
có tên tuổi. Cho nên phải kết hợp giữa con người lý tưởng và con người cụ thể. Vì thế
"quân" phải tu cho được là ông vua lý tưởng, vua phải ra vua, là ông vua minh, hiền,
triết, yêu dân, yêu nước. "Quân" lý tưởng ấy là địa vị chính đáng của vạn vật trong tự
nhiên "như sao bắc đẩu đứng ở vị trí của nó mà các sao khác đều hướng theo ". Còn
chữ "danh" trong xã hội là danh vị, hiểu theo ngôn ngữ ngày nay là cương vị và quyền
hạn, còn chữ "phận" có nghĩa là "phần", là "bổn phận" tức là gồm cả quyền lợi, nghĩa
vụ, mọi mặt.
Trong quan hệ vua - tôi, Khổng Tử chủ trương dùng đức trị, tức là người thống
trị tự lấy đạo đức của mình để cảm hóa người bị trị, làm cho họ không chống lại. Khác
với hình chính, đức trị không quan tâm đến sản xuất, đến chính sách, không dùng biện
pháp thưởng - phạt, mà chỉ cho rằng người thống trị chỉ cần có đạo đức là đủ, thậm chí
không cần cả đẳng cấp xuất thân của họ. Ông thường nói làm chính trị mà có đức nhân
là đã đứng vào vị trí của sao bắc đẩu, vị trí mà tất cả các ngôi sao khác phải hướng theo.
Theo ông đối với dân lòng tin là quan trọng nhất, sau đó mới đến lương thực và
những thứ khác. Vì vậy, nhà cầm quyền phải giúp cho dân giàu có, sau khi đã giàu có

Như vậy, khi nghiên cứu học thuyết "chính danh" Khổng Tử đưa ra ta cần tập
trung vào các nội dung:
- Tương xứng với địa vị cai trị, phải có phẩm chất tương ứng như nhân, nghĩa,
liêm, chính đồng thời chỉ được sử dụng "lễ" tương ứng với địa vị đang được thừa
nhận, bề tôi, chư hầu, đại phu chỉ dùng "lễ" của bề tôi, chư hầu, đại phu, không được
dùng "lễ" của thiên tử. Trên dưới trật tự phân minh "vua lấy lễ mà sai khiến bề tôi, bề
tôi lấy trung để thờ vua".
- Là chức trách xã hội của người cai trị và của mọi thành viên xã hội "làm vua
phải cư xử cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha, con cho ra con".
Đánh giá vai trò của chính danh đối với cai trị, Khổng Tử khái quát: Nếu không
chính danh tất loạn, có nghĩa là các chức trách của xã hội không chính được thì xã hội
sẽ loạn. Nếu chính danh thì không cần ép buộc dân cũng theo, tất trị, nghĩa là nếu các
chức trách xã hội chính danh được thì dân sẽ hưởng theo thì xã hội sẽ trị.
Nhưng làm thế nào để thực hiện chính danh? ông cho rằng mọi người phải tự
giác giữ lấy danh phận của mình. Từ thiên tử, chư hầu, đại phu đến "kẻ sĩ" phải tu
dưỡng đạo nhân để có sự tự giác đó.
Vậy muốn chính danh thì thân mình phải chính, ngôn ngữ cũng phải chính nữa,
lời nói và việc làm phải hợp với nhau, không được nói nhiều mà làm ít, không được lời
nói thì kính cẩn mà trong lòng thì không, hơn nữa "phải siêng năng về việc làm, thận
trọng về lời nói" và nên "chậm chạp về lời nói, mau mắn về việc làm".
Khổng Tử cho rằng đối với người cai trị thì "thân mình mà chính được thì
không phải hạ lệnh mọi việc vẫn tiến hành, thân mình mà không chính được thì dù có hạ
lệnh cũng chẳng ai theo". "Nếu thân mình mà chính được rồi thì đối với mọi việc chính
sự có còn gì khó. Không thể chính được thân mình thì chính người khác thế nào?
Khổng Tử khẳng định "để mang cái danh là vua, thì phải làm tròn trách nhiệm
của ông vua, nếu không sẽ mất cái danh và mất luôn cả ngôi.
Tóm lại, quy tắc chính danh đưa tới quy kết: ai ở địa vị nào cũng phải làm tròn


- Lời lẽ của học thuyết rất dân dã, ít tối tân, ít tư biện, ít mang tính bác học vì
vậy nó dễ hiểu, dễ nhớ nên người ta dễ vận dụng, nó là món ăn tinh thần của nhiều
người. "Chính danh là học thuyết mà ngoài những hạn chế thì có những yếu tố hợp lý,
rất có ý nghĩa đối với xã hội hiện đại. Nếu chúng ta thực hiện nó thì sẽ đưa xã hội vào
trật tự kỷ cương.
- Học thuyết "chính danh" cũng đặt ra vấn đề coi trọng người hiền tài, sử dụng
người hiền tài đúng với trình độ của họ. Như vậy, sẽ phát huy được hết tiềm năng của
người hiền tài nhằm phục vụ cho dân, cho nước.
Đây cũng là một học thuyết coi trọng sự học tập, có học mới được làm quan,
coi sự học là tiêu chí để vào chính trị. Sự học ở đây là có giáo dục, được giáo dục, được
giáo hóa để rèn dũa những phẩm chất đạo đức, rèn khí tiết, tu khí tiết, tu tâm.
- Học thuyết chính danh còn có giá trị là khi thực hiện nó làm cho con người có
trách nhiệm với bản thân hơn, có trách nhiệm với công việc của mình hơn, từ đó phấn
đấu để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
2.2. Những hạn chế
- Học thuyết của Khổng Tử quá tuyệt đối hóa đạo đức, cho đạo đức là tất cả, từ
đấy đánh giá con người quy về đạo đức hết. Ông khẳng định ông vua chỉ cần đạo đức là
đủ, hay khi đánh giá hiền tài ông đưa tiêu chuẩn đạo làm mục tiêu, nhân đức là chỗ dựa
còn cái tài là chỉ để chơi.
- Học thuyết chính danh của Khổng Tử còn có hạn chế đó là hoài cổ, bao hàm ý
bảo thủ, phải trọng danh cũ, phải hành động hợp với tiêu chuẩn cũ. Trong học thuyết
chính danh của Khổng Tử vẫn trọng danh hơn thực, trọng xưa hơn nay, từ đó ông đã gạt
bỏ nhiều giá trị đạo đức mang tính nhân đạo.
- Học thuyết chính danh mà Khổng Tử đưa ra "Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính",
"thứ nhân bất nghị" là không cho dân có quyền bàn việc nước. Chỉ một ý đó thôi cũng
cho ta thấy ở đây không có dân chủ. Mặc dù ông rất yêu dân, lo cho dân ănng không
cho dân bàn việc nước vì dân không được học, không đủ tư cách bàn việc nước, cho họ
làm việc nước thì sẽ loạn.
- Hơn nữa, học thuyết chính danh còn thể hiện rõ sự bất bình đẳng, thang bậc

nghiệp nghèo nàn và lạc hậu bị chiến tranh tàn phá nặng nề như nước ta đi lên CNXH
lại càng khó khăn, phải trải qua nhiều thời kỳ, nhiều chặng đường vừa làm, vừa rút kinh
nghiệm và phải biết kế thừa những thành tựu của dân tộc và tiếp thu những tinh hoa của
nhân loại, kinh nghiệm của thời đại để vận dụng đúng đắn phù hợp với thực tế và quy
luật khách quan. Để làm được điều đó toàn Đảng, toàn dân chúng ta phải quyết tâm thực
hiện mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đặt ra. Mỗi người
phải thấy được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với đất nước, phải góp sức mình
vào xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Đây là mục tiêu mà toàn Đảng, toàn dân ta hướng tới. Cụ thể trong giai đoạn hiện
nay Đảng ta khẳng định phải đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và hoàn thiện nhà
nước pháp quyền thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà
nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật và các công cụ khác. Nhưng việc sử
dụng bất cứ công cụ nào cũng phải trong khuôn khổ pháp luật. Vì vậy, chúng ta phải đề
ra một hệ thống pháp luật đồng bộ và đưa vào thực thi. Vấn đề đặt ra là khi chúng ta đã
đề ra luật, ra chính sách thì chúng ta phải thực hiện bằng được, nếu đưa ra mà không
thực hiện được thì sẽ nhờn luật và không thể trừng trị những người có hành động xâm
phạm lợi ích của tổ quốc và của nhân dân. Để quyết tâm thực hiện được chủ trương,
chính sách, pháp luật thì đòi hỏi mỗi người dân phải có ý thức, trách nhiệm hay nói cách
khác là phải "chính danh, định phận", nói phải đi đôi với làm, nói ít làm nhiều. Bên
cạnh đó thì chúng ta phải kết hợp các biện pháp giáo dục đạo đức, truyền thống để nâng
cao ý thức pháp luật cho người dân. Để làm được điều đó, nếu chúng ta vận dụng, phát
triển học thuyết chính danh của Nho giáo ở những nhân tố hợp lý thì sẽ thu được hiệu
quả rất cao. Chúng ta đang xây dựng một trật tự kỷ cương trong xã hội: Đảng ra Đảng,
Nhà nước ra Nhà nước, thủ trưởng ra thủ trưởng, nhân viên ra nhân viên, không có sự
lẫn lộn. Mỗi người, mỗi tổ chức phải giữ đúng danh phận, chức trách của mình. Trước
hết chúng ta phải xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, có trí tuệ xứng đáng với vai
trò lãnh đạo toàn xã hội. Muốn xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, điều quan trọng

Tóm lại, học thuyết "chính danh" của Nho giáo đương thời Khổng Tử là ảo
tưởng, nhưng những giá trị hợp lý của nó mà chúng ta biết vận dụng, biết chắt lọc và
thực hiện nó thì sẽ đưa xã hội vào trật tự kỷ cương, làm cho người dân trung thành với
chế độ với sự nghiệp hơn. Người công nhân trung thành với xí nghiệp, vui với cái vui
của xí nghiệp, buồn với cái buồn của xí nghiệp, vạn bất đắc dĩ mới chuyển xí nghiệp.
Vận dụng học thuyết "chính danh" ông chủ coi công nhân như con cái của mình, quan
tâm, lo lắng đến cuộc sống của người công nhân, đến gia đình người công nhân. Từ đó,
người công nhân cũng làm việc xứng với cái danh của mình, trung thành, hết lòng,
thành tâm với ông chủ, với xí nghiệp, dồn hết sức lực của mình để tạo ra giá trị thặng dư
cao. Đó là bí quyết hóa rồng của Nhật Bản và các nước châu á. Điều đó rất có ý nghĩa
trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam hiện nay.
Kết luận

Qua nghiên cứu nội dung học thuyết chính danh của Nho giáo, nếu chúng ta gạt
bỏ đi những yếu tố bất hợp lý như là bất bình đẳng, thang bậc xã hội, gạn lọc những
nhân tố hợp lý của học thuyết thì nó rất có ý nghĩa đối với xã hội hiện đại. Vận dụng nó
chúng ta xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa có tâm trong sáng, có trí tuệ và thể
lực tốt, có lập trường quan điểm vững vàng, có trách nhiệm với mình, với mọi người, có
lòng yêu thương đồng loại, luôn phấn khởi và tin tưởng đem hết nhiệt tình, trí tuệ và
năng lực của mình đóng góp một cách tích cực vào cuộc phấn đấu chung của cả nước và
thế giới.
Để phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh thì chúng ta phải phát huy nhân tố
con người, khuyến khích người dân học tập nâng cao trình độ, phải học tập khí tiến học,
tinh thần học, thái độ học của Nho giáo để không những tu dưỡng rèn luyện thành con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status