LUẬN VĂN: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng hoạt động của Ủy Ban Kiểm Tra
Tỉnh ủy Lai Châu trong giai đoạn mới phần mở đầu
1.tính cấp thiết của đề tài:
Hơn 70 năm qua, dưới sự lónh đạo của Đảng cộng sản việt nam, sự nghiệp cách
mạng nước ta đó giành được nhiều thắng lợi to lớn: Đấu tranh giải phóng dân tộc, thống
nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xó hội (CNXH)
Hai mươi năm qua, công cuộc đổi mới đất nước đó thu được nhiều thành tựu
quan trọng trên các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xó hội, an ninh, quốc phũng….,
sự nghiệp đổi mới đất nước, bên cạnh đó vẫn cũn tồn tại một bộ phận cỏn bộ, đảng viên
của Đảng có biểu hiện giảm sút ý chí chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, dao động , mất
lũng tin vào sự lónh đạo của Đảng, vào công cuộc đổi mới, vào con đường đi lên CNXH
ở nước ta, do đó đó làm tăng thêm những vấn đề nhức nhối của tệ nạn xó hội, chủ nghĩa
cỏ nhõn ớch kỷ, lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, chà đạp lên nhân phẩm, đạo lý
làm người, tham ô, tham nhũng, thoái hóa, biến chất, sa sút nhân phẩm, đạo đức, lối
sống, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật nhà nước.
Trước tỡnh hỡnh đó, đũi hỏi Đảng ta phải tiếp tục tự đổi mới toàn diện, một
trong những yếu tố đảm bảo Đảng tự đổi mới là tăng cường công tác kiểm tra, nâng
cao chất lượng hoạt động của UBKT.
Từ nhận thức trên, với kiến thức được học tập tại Học viện Chính trị khu vực I, cùng
với kiến thức thực tế tại các địa phương, với một số kinh nghiệm tích lũy được …Để báo cáo
kết quả cuối khóa tôi mạnh dạn chọn đề tài :
“Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Ủy Ban Kiểm Tra
Tỉnh ủy Lai Châu trong giai đoạn mới.”
2. mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
2.1. Mục đích:
Đề tài góp phần làm rừ thờm một số vấn đề cơ bản nhận thức, lý luận và thực
tiễn về nõng cao chất lượng hoạt động của UBKT, làm cơ sở giúp cho cấp ủy và đảng
viên nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác kiểm tra, hoạt động của UBKT. Trên cơ sở
đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của UBKT
Tỉnh ủy Lai Châu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới.
2.2. Nhiệm vụ
Đề tài luận giải những vấn đề lý luận về công tác kiểm tra Đảng và vị trí vai trũ
của UBKT trong cụng tỏc xõy dựng Đảng.
Đánh giá thực trạng chất lượng hoạt động của UBKT Tỉnh ủy Lai Châu trong
những năm qua, tỡm hiểu nguyờn nhõn, bài học kinh nghiệm của những tồn tại yếu
kộm.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của UBKT Tỉnh
I. ý nghĩa tác dụng của công tác kiểm.
1. Kiểm tra là một tất yếu khách quan, là một biểu hiện nghiêm túc của hoạt động
có ý thức của mọi tổ chức và con người trong xó hội:
Hoạt động của tổ chức và con người trong xó hội là hoạt động có ý thức. Điều
này đó được Các Mác minh họa bằng sự so sánh về sự khác biệt giữa nhà kiến trúc tồi
nhất (hoạt động có ý thức) và con ong giỏi nhất (hoạt động theo bản năng) là “ nhà kiến
trúc trước khi xây dựng từng ngăn trong tổ ong, thỡ đó xõy dựng từng ngăn đó trong
óc mỡnh rồi " (Các Mác: Tư bản, quyển 1, phần 1. NXB ST. Hà Nội. 1960, trang 247)
Như vậy trước khi hành động, các tổ chức và con người đều phải suy nghĩ, xác định rừ
ý định, chủ trương, kế hoạch tiến hành và tổ chức thực hiện thắng lợi ý định, chủ trương
kế hoạch ấy trong thực tiển.
Thực tiễn luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng theo quy luật khách
quan, do đó các chủ trương, đường lối, chính sách được ban hành dù có được nghiên
cứu kỹ lưỡng đến đâu vẫn cũn cú những thiếu sót, sơ hở, thậm chí không có khả năng
thực thi hoặc sai lầm nghiêm trọng. Để khắc phục điều đó, đũi hỏi con người phải luôn
luôn xem xét, kiểm tra lại đường lối, chủ trương, chính sách đó được ban hành. Đó
chính là hoạt động kiểm tra. Hoạt động có ý thức là hoạt động có kiểm tra, ý thức càng
cao, tổ chức càng quan trọng, con người ở cương vị càng cao, nhiệm vụ càng khó khăn,
phức tạp thỡ càng đũi hỏi phải coi trọng và tiến hành tốt cụng tỏc kiểm tra .
2. Kiểm tra là một trong những chức năng lónh đạo của Đảng, một bộ phận
quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng.
Kiểm tra cần thiết đối với mọi tổ chức và con người trong xó hội, đặc biệt là đối
với chính Đảng của giai cấp vô sản và người cộng sản. Đảng Cộng sản Việt Nam, chính
đảng kiểu mới theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có sứ mệnh lịch
sử nặng nề và vẻ vang là lónh đạo giai cấp và dân tộc, dân chủ, đánh thắng các cuộc
chiến tranh xâm lược, xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xõy dựng chủ nghĩa
xó hội (CNXH) và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc.
tưởng và tổ chức” (Hồ Chí Minh, về xây dựng Đảng, Nxb ST, Hà Nội,1970. tr 133).Qua
thực tiễn Đảng ta đó kết luận : cụng tỏc kiểm tra là “ một bộ quan trọng trong toàn bộ
công tác xây dựng Đảng” (Văn kiện Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam, tập III
Nxb ST, Hà Nội 1982, tr122), là “ một khâu quan trọng của tổ chức thực hiện ” là “ Biện
pháp hiệu nghiệm để khắc phục bệnh quan liêu (Văn kiện Đại hội VI, Nxb ST, Hà Nội , 1987, tr
137)
3. Kiểm tra là một nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của toàn Đảng:
Trong các văn kiện của Đảng, Đảng ta đó khẳng định: Công tác kiểm tra của
Đảng là công tác của toàn Đảng, của các tổ chức Đảng. Đồng chí Đỗ Mười – Nguyên
Tổng Bí thư của Đảng đó nhấn mạnh: Mục đích của kiểm tra là để làm cho Đường lối,
chủ trương, nghị quyết của Đảng được thi hành một cách đúng đắn và sáng tạo, làm nên
thắng lợi của cuộc cách mạng, mang lại lợi ích cho nhân dân. Trong điều kiện Đảng
cầm quyền, công tác kiểm tra của Đảng phải được tiến hành một cách thừơng xuyên, có
hiệu quả, đó không chỉ là trách nhiệm trước Đảng mà cũn là nghĩa vụ và trỏch nhiệm
trước nhân dân và trước giai cấp .
Vỡ vậy cần khắc phục những nhận thức khụng đúng, coi công tác kiểm tra chỉ là
của UBKT, chỉ thuần túy "tỡm sai lầm” ” Bới lụng tỡm vết ”. Đảng ta đó từng chỉ rừ, sự
lónh đạo của Đảng không chỉ là xây dựng cương lĩnh chính trị, xác định đường lối , chủ
trương ra chỉ thị, nghị quyết mà cũn tổ chức thực hiện và kiểm tra toàn bộ hoạt động của
Đảng nhằm làm cho hoạt động và sự lónh đạo ngày càng phù hợp với cuộc sống, với
quy luật khách quan. Cũng trên cơ sở đó Đảng nhận thấy rừ mọi khuyết điểm, những
mặt mạnh, mặt yếu trong quá trỡnh lónh đạo của các tổ chức Đảng, các cấp ủy và cả đội
ngũ cán bộ, đảng viên. Do đó công tác kiểm tra là bộ phận hữu cơ trong toàn bộ công
tác xây dựng Đảng , góp phần phát huy vai trũ lónh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Có
thể nói : không kiểm tra tức là không lónh đạo .
Bác Hồ dạy : “ Lónh đạo đúng nghĩa" là :
+ Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng…
+ Phải tổ chức thi hành cho đúng
+ Phải tổ chức sự kiểm tra rà soát….
dựng Đảng, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ và công tác ấy :
Công tác kiểm tra của Đảng phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị và công tác xây
dựng Đảng, phải lấy việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ và công tác đó làm mục tiêu,
phương hướng, nội dung hoạt động. Nếu xa rời vấn đề đó cốt lừi cú tớnh nguyờn tắc
này, thỡ cụng tỏc kiểm tra của Đảng chệch mục tiêu, mất phương hướng, không rừ nội
dung và khụng mang lại hiệu quả. Tuy nhiờn, nhiệm vụ chớnh trị và cụng tỏc xõy dựng
Đảng trong từng thời kỳ, đối với từng tổ chức Đảng cũng có những nội dung, yêu cầu
cụ thể khác nhau, điều đó yêu cầu các tổ chức Đảng phải nắm vững những nội dung,
yêu cầu chủ yếu của nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng của mỡnh trong
từng thời kỳ, nắm vững cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của
Đảng, nghị quyết của Đại hội đảng bộ và cấp ủy cấp mỡnh, tỡnh hỡnh thực hiện nhiệm
vụ chớnh trị và cụng tỏc xõy dựng Đảng của đảng bộ để lónh đạo công tác kiểm tra và
tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra xác thực, có hiệu quả.
2. Phải nắm vững và thực hiện tốt tư tưởng chỉ đạo công tác kiểm tra của
Đảng ta: “Chủ động, chiến đấu, giáo dục, hiệu quả".
Từ thực tiến hoạt động kiểm tra của Đảng, Đảng ta đó đúc kết được nhiều bài
học kinh nghiệm quý bỏu. Tư tưởng chỉ đạo toàn bộ hoạt động công tác kiểm tra của
Đảng hiện nay là: Chủ động, chiến đấu, giáo dục, hiệu quả. Quan điểm này được quán
xuyến trong toàn bộ hoạt động và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
+Tính chủ động của công tác kiểm tra của Đảng: Sau khi có nghị quyết, chỉ thị
phải chủ động xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện và chương trỡnh hành động. Công
tác kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên, có nề nếp, không thụ động chờ vụ việc
xảy ra rồi mới xem xét giải quyết, phải thường xuyờn nắm bắt tỡnh hỡnh hoạt động của
tổ chức Đảng và đảng viên, kịp thời biểu dương mặt tích cực, tiến bộ, ngăn ngừa mặt
tiêu cực, lạc hậu, hạn chế đến mức thấp nhất các khuyết điểm .
Khi phát hiện tổ chức Đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm phải xem xét xử lý
công minh, chính xác, kịp thời, không để khuyết điểm thành sai phạm, từ không nghiêm
trọng đến nghiêm trọng, từ một đảng viên, tổ chức Đảng vi phạm thành nhiều tổ chức
Đảng, nhiều đảng viên vi phạm. Các cấp ủy Đảng phải trực tiếp lónh đạo công tác kiểm
tác kiểm tra và thực hiện nhiệm vụ kiểm tra để xây dựng Đảng bộ ngày càng trong sạch
vững mạnh. Thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Đảng bộ, nâng cao bản lĩnh, phẩm chất,
năng lực người cán bộ kiểm tra và cơ quan kiểm tra các cấp, đấu tranh bảo vệ chân lý,
bảo vệ kỷ luật của Đảng, dám chịu trách nhiệm và đồng thời đề cao trách nhiệm trước
Đảng, trước đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng, bảo đảm tính hiệu quả của kiểm
tra, nhất là trong xem xét, kết luận và xử lý khi cú sai phạm theo tinh thần chung là rừ
ràng, minh bạch.
3. Phải nắm vững và thực hiện tốt phương pháp cơ bản của công tác kiểm
tra của Đảng:
Công tác kiểm tra của Đảng là công tác lónh đạo của Đảng, là công tác xây dựng
Đảng, là sinh hoạt nội bộ Đảng. Do Đó khi tiến hành công tác kiểm tra, phải giữ đúng
nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đúng tính chất công tác Đảng. Phải nắm vững và
thực hiện tốt phương pháp cơ bản của công tác kiểm tra cụ thể:
* Dựa vào tổ chức Đảng: Là phương pháp cơ bản của công tác kiểm tra, vừa là
vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng, nhưng tùy tỡnh hỡnh cụ thể
của tổ chức Đảng để có cách vận dụng cho phù hợp.Trường hợp cần thiết, có thể kiện toàn
tổ chức trước khi tiến hành kiểm tra.
* Phát huy tinh thần tự giác của tổ chức Đảng và đảng viên: Tự giác không chỉ
là phương tiện mà chính là mục đích của công tác kiểm tra nói riêng và của công tác xây
dựng Đảng nói chung. Tự giác là phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, ý thức, ý chí,
bản lĩnh của tổ chức Đảng và đảng viên, nên tự giác là một quá trỡnh và mức độ tự gíác
của mỗi tổ chức Đảng và đảng viên khác nhau, do điều kiện trưởng thành, công tác, sản
xuất, chiến đấu, thử thách, rèn luyện có khác nhau. Vỡ vậy, tiến hành cụng tỏc kiểm tra,
cỏc tổ chức Đảng cần coi trọng và làm tốt công tác tư tưởng đối với mọi đối tượng được
kiểm tra, nhằm phát huy và nâng cao tinh thần tự giác, tự phê bỡnh để nhận rừ ưu điểm,
nhược điểm, vi phạm và giúp cho tổ chức kiểm tra có cơ sở kết luận chính xác.
* Phát huy trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng: Mọi hoạt động của tổ
chức Đảng và cán bộ, đảng viên luôn luôn được quần chúng quan tâm, nhận biết. Thực
tiễn đó chứng minh là cú nhiều vụ việc tiờu cực xảy ra trong nội bộ Đảng là do quần
giải quyết những trường hợp có dấu hiệu vi phạm.
4.2. Kiểm tra định kỳ: Có thể kiểm tra toàn diện đối với tổ chức Đảng và đảng
viên, có thể chỉ kiểm tra chuyên sâu một nội dung cần thiết: Có đọt kiểm tra toàn diện
việc chấp hành nghị quyết Trung ương VI (Lần 2) khóa VIII về cuộc vận động xây
dựng chỉnh đốn Đảng, có đợt kiểm tra việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ
trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, có đợt kiểm tra chống tham nhũng….
4.3. Kiểm tra bất thường: Có số lượng ít, nội dung kiểm tra tập trung vào một số
vấn đề nhất định: yêu cầu kiểm tra để kịp thời ngăn chặn (như khi có dấu hiệu vi phạm,
có tố cáo) là phải xem xét, kết luận nhanh chóng.
Do đó tùy đối tượng, nội dung, yêu cầu kiểm tra mà có kế hoạch kiểm tra cho
phù hợp
Đảng cộng sản Việt Nam là một tổ chức, một bộ phận của xó hội, cú vai trũ lónh
đạo chính trị đối với toàn xó hội, đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta đến
thắng lợi. Sự lónh đạo của Đảng được tiến hành thông qua tổ chức Đảng và đảng viên
đang hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống xó hội, mỗi tổ chức Đảng và đảng viên
dù đang công tác ở lĩnh vực, cương vị nào đều phải tham gia xây dựng Đảng, tổ chức
thực hiện và kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng. Đó là nhiệm vụ
trực tiếp, thường xuyên của mọi tổ chức Đảng và đảng viên. Là tăng cường sự lónh đạo
của Đảng, không gỡ để khắc phục những khuyết điểm, yếu kém về nhận thức và hành
động trong thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra mà cũn làm cho Đảng thực hiện đầy
đủ các chức năng, nhiệm vụ của mỡnh, gúp phần xõy dựng, chỉnh đốn Đảng, đảm bảo
lónh đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Tóm lại : Công tác kiểm tra của Đảng là một trong các chức năng lónh đạo, có vị
trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lónh đạo của Đảng, là trách nhiệm của
Đảng, của các tổ chức Đảng và của đội ngũ cán bộ đảng viên. Hiệu quả, chất lượng
công tác kiểm tra của Đảng là một yếu tố phản ánh vai trũ lónh đạo của Đảng, sức chiến
đấu của Đảng. Vỡ vậy càng đi sâu vào thời kỳ đổi mới càng phải coi trọng và làm tốt
công tác kiểm tra của Đảng.
nhiệm vụ, 54 đảng viên có vi phạm.
II. thực trạng hoạt động của ubkt tỉnh uỷ lai châu.
Căn cứ quy định của Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra của Đảng và công tác
kiểm tra của UBKT các cấp, UBKT Tỉnh ủy Lai Châu đó chủ động xây dựng kế hoạch
cho toàn khóa, kế hoạch kiểm tra cho năm, quý, kiểm tra thường xuyên, kiểm tra đột
xuất, kiểm tra định kỳ, kiểm tra theo chuyên đề, kiểm tra việc chấp hành chính sách của
địa phương, nhiệm vụ của cấp ủy, kiểm tra đảng viên chấp hành điều lệ Đảng, giải
quyết kịp thời đơn thư khiếu nại tố cáo trong Đảng. Phối hợp chặt chẽ với các ngành
trong khối nội chính, các ban Đảng, tham mưu cho cấp ủy và thực hiện nhiệm vụ kiểm
tra do Điều lệ Đảng quy định, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ kiểm tra từ huyện đến cơ
sở.
Trong Đảng bộ tỉnh Lai Châu, loại hỡnh tổ chức Đảng đa dạng, có cơ sở trực tiếp
sản xuất, đơn vị hành chính sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang. Loại hỡnh phong phỳ,
đa dạng nên công tác kiểm tra ở cơ sở có vị trí đặc biệt quan trọng, tác động trực tiếp
đến việc xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, ngăn ngừa thiếu sót, khuyết điểm của
đảng viên và cơ sở Đảng phỏt huy tinh thần tự phờ bỡnh, phờ bỡnh, đặc biệt trong giai
đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, thực hiện nghị quyết Trung ương VI lần
II về xây dựng chỉnh đốn Đảng, công tác kiểm tra phải chủ động, sáng tạo, tích cực.
Từ khi Đảng ta tiến hành và lónh đạo sự nghiệp đổi mới thu đựơc nhiều thành
tựu, đất nước đó vượt qua khủng hoảng, đi vào thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH, xuất
phát điểm của tỉnh thấp, vừa mới đựơc thành lập do chia tách Tỉnh Lai Châu thành 2
tỉnh Điện Biên và Lai Châu, kinh tế cũn gặp nhiều khú khăn, song toàn thể cán bộ, đảng
viên trong tỉnh giàu lũng yờu nước, cần cù chịu khó, khắc phục khó khăn, có kinh
nghiệm và bản lĩnh chính trị, nhưng so với yêu cầu của cuộc sống đặt ra và với tỡnh
hỡnh nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới thỡ cỏn bộ, đảng viên cũn nhiều bất cập,
chỳng ta đang xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường,
có sự quản lý của nhà nước, mở rộng thị trường, hội nhập kinh tế. Trong các mặt tích
cực của kinh tế thị trường, trong đó có khuyết tật và mặt trái của cơ chế thị trường, do
đó cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự rèn luyện, nêu cao phẩm chất đạo đức, chính
2. Các bước tiến hành một cuộc kiểm tra:
2.1. Bước chuẩn bị
Đây là bước quan trọng nhất của công tác kiểm tra. Nếu như trước đây chủ động
xây dựng chương trỡnh để kiểm tra theo số lượng cụ thể thỡ nay chuyển sang kiểm tra
đảng viên, tổ chức Đảng khi có dấu hiệu vi phạm. UBKT chủ động phân tích tỡnh hỡnh
và chịu trỏch nhiệm trước cấp ủy, xây dựng chương trỡnh kế hoạch kiểm tra, làm rừ nội
dung kiểm tra, thời gian kiểm tra, phương pháp kiểm tra, nhưng trước khi kiểm tra phải
trao đổi với tổ chức Đảng quản lý đối tượng kiểm tra, để đối tượng kiểm tra và tổ chức
Đảng quản lý đối tượng bố trí thời gian làm việc.
Kế hoạch kiểm tra gửi cho đơn vị quản lý đảng viên và đối tượng kiểm tra trước
ít nhất là 7 ngày để chuẩn bị . Trong thời gian đối tượng được kiểm tra, UBKT có vấn
đề gỡ cần xử lý thụng tin trước khi làm việc ở cơ sở : Như gặp người cung cấp tài liệu,
làm việc với cơ quan chuyên môn hoặc cơ quan có nắm được nội dung đảng viên vi
phạm, làm việc với cấp ủy quản lý đảng viên được kiểm tra, thành lập tổ kiểm tra.
2.2. Bước tiến hành kiểm tra:
Để thực sự dân chủ, khách quan, động viên tính tự giác đảng viên và chi bộ quản
lý đảng viên phải nêu cao tinh thần tự phê bỡnh và phờ bỡnh. Trước khi vào kiểm tra
UBKT gặp đối tượng kiểm tra yêu cầu họ làm bản tường trỡnh về những nội dung theo
UBKT gợi ý (theo KH). Bản tường trỡnh phải rừ ràng, cụ thể, và đúng nội dung . Đảng
viên được kiểm tra phải nhận thức đầy đủ các bằng chứng, nếu chưa đủ bằng chứng thỡ
chưa vội vàng kết luận, khi thẩm tra xác minh xong phải tiến hành họp chi bộ , để nghe
đảng viên được kiểm tra được trỡnh bày ý kiến và chi bộ phát biểu đóng góp ý kiến với
đảng viên đó. Nội dung nào rừ thỡ chi bộ ghi vào biờn bản, nội dung nào chưa rừ, chưa
thông thỡ tiếp tục làm rừ bằng đấu tranh phê bỡnh, phõn tớch làm rừ đúng, sai, nếu thấy
cần thỡ tiếp tục thẩm tra xỏc minh , khụng được để đồng chí mỡnh bị oan sai, tránh qua
loa, đại khái, xuê xoa. Khi chuẩn bị kết luận phải có căn cứ thuyết phục, đảm bảo chính
xác, đúng nguyên tắc, đúng pháp luật.
2.3. Bước kết thúc
Tổ kiểm tra bỏo cỏo kết quả kiểm tra với UBKT Tỉnh ủy, trỡnh bày đầy đủ ý
dưới khi có dấu hiệu vi phạm = 48.57% so với nhiệm kỳ trước, trong đó UBKT Tỉnh ủy
kiểm tra được 3 tổ chức Đảng, UBKT huyện ủy và tương đương kiểm tra được 45 tổ
chức Đảng, UBKT cơ sở kiểm tra được 3 tổ chức Đảng. Về đối tượng kiểm tra có 2 ban
cán sự Đảng, 17 Đảng ủy cơ sở và ban thường vụ cơ sở, 32 chi bộ, chi ủy. Qua kiểm tra
kết luận 35 tổ chức Đảng có vi phạm, chiếm tỷ lệ 68.63 % so với tổ chức Đảng được
kiểm tra =53.58% so với nhiệm kỳ trước, trong đó phải thi hành kỷ luật 4 tổ chức Đảng,
chiếm 11.43% so với tổ chức Đảng có vi phạm.
Qua thực hiện nhiệm vụ kiểm tra đảng viên và tổ chức Đảng cấp dưới khi có dấu
hiệu vi phạm, cho thấy: UBKT các cấp đó chủ động khảo sát, tiến hành kiểm tra. Trong
quỏ trỡnh kiểm tra đó kết hợp giữa thẩm tra xác minh, khơi dậy ý thức tự giác, tinh thần
đấu tranh tự phờ bỡnh và phờ bỡnh của tổ chức Đảng và đảng viên đứợc kiểm tra, chỉ rừ
những yếu kộm, khuyết điểm của tổ chức Đảng và đảng viên, kiến nghị và xử lý kịp
thời những đảng viên có vi phạm đến mức phải xử lý, gúp phần vào việc ngăn chặn
phũng ngừa vi phạm của tổ chức Đảng và đảng viên. Kết luận của các cuộc kiểm tra,
tuy ở mức độ khác nhau nhưng đều phát hiện được vi phạm. Trong quỏ trỡnh tiến hành
kiểm tra UBKT ở cấp tỉnh và cấp huyện đó thực hiện đúng quy trỡnh, phương pháp
kiểm tra, làm tốt công tác tư tưởng, động viên tổ chức Đảng và đảng viên được kiểm tra
tự phê bỡnh và phờ bỡnh. Coi trọng khõu thẩm tra, xỏc minh, cũng cố hồ sơ tài liệu,
chứng cứ và sự phối kết hợp giữa UBKT cấp trên với UBKT cấp dưới, các cơ quan, ban
ngành có liên quan, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng hiệu quả các
cuộc kiểm tra. Từng bước khắc phục tư tưởng ngại khó, nể nang, né tránh. Thông qua
kiểm tra đó gúp phần tớch cực vào cụng tỏc giỏo dục, nõng cao ý thức trỏch nhiệm, chủ
động phũng ngừa vi phạm đối với đảng viên và các tổ chức Đảng .
Thực tiễn ở Đảng bộ Lai Châu vừa qua cho thấy, kiểm tra đảng và tổ chức Đảng
cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm, tuy khó nhưng nếu chủ động nắm bắt tỡnh hỡnh, phỏt
hiện dấu hiệu vi phạm và xỏc định nội dung và đối tượng kiểm tra không nhiều, nhưng
đó chọn đúng nội dung, đối tượng,, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, kết luận rừ vi
phạm, ngăn ngừa được tiêu cực làm cho cán bộ, đảng viên nhận thức đúng hơn về
nhiệm vụ kiểm tra này.
Tuy nhiờn, vẫn cũn một số tổ chức Đảng chưa thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy chưa thực sự quan tâm chỉ đạo, hàng quý, 6 tháng , một
năm chưa xây dựng được chương trỡnh, kế hoạch kiểm tra (chủ yếu là cơ sở) chưa sử
dụng sức mạnh tổng hợp của các Ban Đảng để giúp cấp ủy tiến hành công tác kiểm tra,
một số cuộc kiểm tra chưa đúng quy trỡnh, nờn hiệu quả tỏc dụng thấp. Một số tổ chức
Đảng nhận thức về công tác kiểm tra cũn hạn chế, chưa phân biệt được nhiệm vụ kiểm
tra của cấp ủy theo điều 30 của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ của UBKT, vai trũ tham mưu
của UBKT một số nơi thiếu chủ động .
UBKT các cấp đó kiểm tra 41 tổ chức Đảng cấp dưới về thi hành kỷ luật Đảng
(bằng 89.13% so với nhiệm kỳ trước), trong đó UBKT Tỉnh ủy kiểm tra 10 tổ chức:
UBKT Huyện ủy và tương đương kiểm tra 31 tổ chức, gồm: 5 huyện ủy, Ban thường
vụ h uyện ủy và tương đương; 5 UBKT huyện
ủy và tương đương; 23 Đảng ủy cơ sở, 8 chi bộ. Qua xem xét 114 hồ sơ thi hành
kỷ luật trong mốc thời gian kiểm tra cho thấy: Chuẩn y 80 trường hợp, tăng hỡnh thức
kỷ luật 4 trường hợp: giảm hỡnh thức kỷ luật 1 trường hợp, số đảng viên bị thi hành kỷ
luật không đúng thẩm quyền 9 trường hợp: số bị thi hành kỷ luật không đúng nguyên
tắc, thủ tục 28 trường hợp: phát hiện 2 đảng viên có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ
luật nhưng tổ chức đảng cấp dưới không thi hành kỷ luật.
Số đảng viên có vi phạm bị thi hành kỷ luật đó được kiểm điểm làm rừ nội dung,
mức độ tính chất, tác hại , nguyên nhân. Tổ chức Đảng làm tốt công tác tư tưởng, nên
sau khi có quyết định thi hành kỷ luật, đa số đảng viên bị thi hành kỷ luật đó chấp hành
nghiờm chỉnh.
Tuy nhiờn qua kiểm tra việc thi hành kỷ luật vẫn cũn nhiều trường hợp chưa đảm
bảo nguyên tắc, thủ tục, quy trỡnh. Cú trường hợp đảng viên vi phạm đến mức phải thi
hành kỷ luật, nhưng đơn vị không thi hành kỷ luật.
3.3. Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề
nghị cấp ủy thi hành kỷ luật.
* Đối với Đảng viên: Cấp ủy và UBKT các cấp đó thi hành kỷ luật 315 đảng
viên chiếm 3,45% so với tổng số đảng viên trong đảng bộ, trong đó khiển trách chiếm
thi hành kỷ luật của Đảng, kết luận rừ được nội dung, tính chất, mức độ và tác hại của vi
phạm và làm tốt công tác tư tưởng, giúp đảng viên tự giác chấp hành nghiêm chỉnh kỷ
luật. Công tác thi hành kỷ luật đảng viên và tổ chức đảng đó phục vụ kịp thời, thiết thực
cho các yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của địa phương. Các đảng viên và tổ chức đảng bị
thi hành kỷ luật đều được kiểm điểm từ chi bộ, cấp ủy nơi đảng viên sinh hoạt, bản than
đảng viên và tổ chức đảng vi phạm đó nhận rừ khuyết điểm, chấp hành nghiêm chỉnh thi
hành kỷ luật của tổ chức đảng có thẩm quyền. Việc thi hành kỷ luật cơ bản đảm bảo
được phương châm “ Công minh, chính xác, kịp thời” có tác dụng giáo dục, phũng ngừa
đảng viên vi phạm, góp phần giữa nghiêm kỷ luật đảng, được cán bộ, đảng viên và nhân
dân đồng tỡnh ủng hộ, nờn đó hạn chế thấp nhất việc khiếu nại về kỷ luật Đảng(trong
nhiệm kỳ chỉ có 4 đảng viên khiếu nại về kỷ luật đảng ).
Tuy nhiên, việc thi hành kỷ luật Đảng vẫn cũn hữu khuynh, nộ trỏnh, dẫn đến
kéo dài trong việc xem xột kết luận vi phạm. Trong xử lý kỷ luật chưa đồng bộ, giũa kỷ
luật đảng và chính quyền. Đảng viên vi phạm phải thi hành kỷ luật Đảng, nhưng về
chính quyền chậm được xem xét xử lý, hoặc không xử lý. Nhận thức về kỷ luật Đảng và
việc thi hành kỷ luật ở một số ít tổ chức Đảng, ở nông thôn, vùng cao cũn hạn chế, chưa
nắm vững nguyên tắc, thủ tục thi hành kỷ luật.
nguyên nhân:
Đảng viên và tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật giảm so với nhiệm kỳ trước: Là
những năm đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng, các tổ chức đảng các cấp được cũng cố, việc
thực hiện quy định 19 của Bộ chính trị về những điều đảng viên không được làm, thực
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng
theo tinh thần nghị quyết TW VI (lần II) khóa IIX đó từng bước có kết quả, có sự
chuyển biến trong nhận thức của đại đa số tổ chức đảng và đảng viên; Công tác kiểm tra
của cấp ủy, UBKT các cấp được tăng cường đó gúp phần giỏo dục phũng ngừa vi phạm
của đảng viên và tổ chức đảng
3.4. giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên.