LUẬN VĂN: Tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến môi trường ở tỉnh Phú Thọ potx - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Tác động của công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đến môi trường ở tỉnh Phú Thọ Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng ta đã
đem lại những thành tựu kinh tế - xã hội to lớn, góp phần quan trọng trong việc phát triển lực
lượng sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
nhân dân, ổn định tình hình kinh tế xã hội góp phần giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực mà quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

hội. Thậm chí ở một số nơi, môi trường đã trở thành vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong
nhân dân. Những vấn đề xã hội đã có sự chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn nhiều hạn
chế.
Thực hiện đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng ta, Phú Thọ đang
phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp, với nhiệm vụ trung tâm là
thúc đẩy xây dựng các khu công nghiệp tập trung, với hệ thống cơ sở, kết cấu hạ tầng kỹ
thuật đồng bộ, đẩy mạnh tốc độ đô thị hoá, phát triển các điểm dân cư tập trung ở nông thôn,
nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân theo hướng văn minh hiện đại
Trước tình hình đó, Phú Thọ cần phải có những giải pháp bảo vệ môi trường thực sự hiệu
quả, đồng bộ, nhằm ngăn chặn, khắc phục sự ô nhiễm môi trường tự nhiên, đi đôi với bảo
vệ, cải thiện môi trường tự nhiên và xã hội.
Để đánh giá đúng thực trạng về tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến môi
trường ở tỉnh Phú Thọ, là cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách trong quá trình
bảo vệ môi trường, đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững, tôi chọn nghiên cứu đề
tài " Tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến môi trường ở tỉnh Phú Thọ " để
nghiên cứu Luận văn thạc sĩ Kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến thời điểm hiện nay, đã có một số công trình và bài viết đề cập đến vấn
đề về môi trường, đặc biệt về sự ô nhiễm môi trường ở nước ta. Nhưng đáng chú ý một
số công trình sau đây:
- GS, TS. Lê Quý An (chủ biên), Việt Nam môi trường và cuộc sống (tóm tắt),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. - TS Hoàng Hữu Bình, 2005, Vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình thực
hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc và miền núi, Nxb Lý luận
chính trị, Hà Nội.
- GS. TSKH Vũ Huy Chương (chủ biên), 2007, Vấn đề môi trường trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Chương trình môi trường Liên hiệp quốc, 2001, Báo cáo hiện trạng môi trường

* Mục tiêu:
Phân tích làm rõ sự tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến môi trường
ở tỉnh Phú Thọ. Từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm phát huy những tác động
tích cực, ngăn chặn, khắc phục những tác động tiêu cực của quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đối với môi trường ở tỉnh Phú Thọ, bảo đảm giữ gìn một môi trường trong
sạch, lành mạnh phục vụ cho con người, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế bền vững.
* Nhiệm vụ:
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tác động của công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đến môi trường.
- Làm rõ những tác động tích cực và tiêu cực từ quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đến môi trường tự nhiên và xã hội ở tỉnh Phú Thọ.
- Đưa ra một số những giải pháp cơ bản, nhằm bảo vệ, cải thiện môi trường của
tỉnh Phú Thọ dưới tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng tác động tích cực và tiêu cực
của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến môi trường tự nhiên và xã hội ở tỉnh Phú Thọ.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Đề tài hướng về việc nghiên cứu tác động của công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đến môi trường (Bao gồm những tác động đến cả môi trường tự nhiên và
môi trường xã hội ở tỉnh Phú Thọ. Trong đó chủ yếu là các tác động đến môi trường tự
nhiên). Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề trong những năm từ 2000 đến
2008, đây chính là giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh được đẩy mạnh trên
mọi lĩnh vực, tác động lớn đến môi trường của tỉnh.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận:
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận kinh tế chính trị Mác- Lênin và tư
Chương 1
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tác động
của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến môi trường

1.1. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tác động của nó đến môi trường
1.1.1. Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Công nghiệp hoá, hiện đại (CNH, HĐH) hoá đã trở thành phương thức hữu hiệu
cho quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Bất kể nước nào, để phát triển kinh tế - xã hội
thì đều cần thiết thực hiện CNH, HĐH. Tuy nhiên, ở những nước khác nhau, trong những
điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, CNH, HĐH cũng có những đặc điểm riêng biệt.
Nếu tách riêng, thì công nghiệp hoá, theo nghĩa khái quát nhất, là quá trình biến
đổi xã hội từ một xã hội nông nghiệp (hay tiền công nghiệp), lạc hậu lên xã hội công
nghiệp. Quá trình biến đổi đó gắn liền với quá trình đổi mới kỹ thuật, công nghệ, chủ yếu
là gắn với cuộc cách mạng kỹ thuật. Hay nói một cách khác, công nghiệp hoá là quá trình
biến lao động thủ công thành lao động máy móc. Đó là quá trình trang bị kỹ thuật và
công nghệ hiện đại cho nền kinh tế quốc dân.
Hiện đại hoá là quá trình thường xuyên đưa trình độ kỹ thuật và công nghệ sản
xuất lên trình độ tiên tiến của thời đại. Công nghệ mới chính là nguồn gốc, là điều kiện
tồn tại, đồng thời là yếu tố then chốt thúc đẩy hiện đại hoá. Với những công nghệ mới,
con người sẽ nâng cao được năng lực của mình, phát triển những ý tưởng mới, thúc đẩy
xã hội phát triển.
Đánh giá chung nhất, CNH, HĐH thực chất là sự thay thế kỹ thuật thủ công, lạc
hậu thành kỹ thuật máy móc hiện đại, trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, nhằm đạt tới
năng suất lao động cao. Đó còn là quá trình thay đổi căn bản, toàn diện cách thức tổ chức
sản xuất, kinh doanh, hoạt động quản lý trong nền kinh tế, dựa trên sự ứng dụng cao về
công nghệ hiện đại. Trên cơ sở đó, sẽ tạo điều kiện để thay thế nền văn minh nông nghiệp
bằng văn minh công nghiệp, xây dựng một xã hội công nghiệp hiện đại, tạo nền tảng cho
phát triển nhanh và bền vững. Như vậy, thực hiện CNH, HĐH sẽ tạo điều kiện để nâng cao

động, cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng
suất lao động xã hội cao [16].
Trên cơ sở kinh nghiệm của thế giới, vận dụng vào thực tiễn của Việt Nam,
Đảng ta đã xác định CNH, HĐH là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Từ Đại hội Đảng lần thứ III, khi đất nước ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng
kinh tế xã hội, Đảng ta đã khẳng định, cần chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước.
Mục tiêu của CNH, HĐH ở nước ta hiện nay là xây dựng nước ta thành một
nước công nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, với quan
hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, có đời sống
vật chất, tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh; Phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại.
Trước những biến đổi của nền kinh tế toàn cầu và điều kiện cụ thể của đất nước,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta đã xác định: “đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với kinh tế tri thức, chúng ta tranh thủ các cơ hội thuận lợi do bối
cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta, để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức"[18,
tr.87]. CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức ở nước ta, thực chất đó là công nghiệp hoá rút
ngắn, có mục đích là kết hợp nguồn vốn tri thức tiên tiến của nhân loại, với nguồn vốn tri
thức của dân tộc. Trên cơ sở đó, một mặt sử dụng tri thức để đổi mới, nâng cao hiệu quả
các ngành truyền thống, mặt khác tập trung phát triển mạnh các ngành, sản phẩm kinh tế
có giá trị gia tăng cao, dựa nhiều vào tri thức, tạo ra những bước đột phá mới, những
bước tăng trưởng cao. Như vậy CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức, đó là bước đi đúng,
phù hợp với thực tiễn nước ta và phù hợp với thế giới trong giai đoạn hiện nay.
Quá trình CNH, HĐH đã có tác động, ảnh hưởng lớn đến những nhân tố quyết
định sự phát triển bền vững của các quốc gia và các vùng, miền trong lãnh thổ. Một trong

Như vậy, khái niệm môi trường rất rộng, phức tạp và thực tế đã có nhiều quan
niệm khác nhau về môi trường. Tuy nhiên ở những khái niệm trên đều đi đến sự thống
nhất: môi trường không chỉ là những yếu tố tự nhiên tác động trực tiếp đến con người, mà còn là những yếu tố xã hội, ở bên ngoài luôn ảnh hưởng dần dần đến cuộc sống con
người, góp phần hình thành nên ý thức, nhân cách con người. Đó thực chất chỉ tất cả
những gì xung quanh con người, ảnh hưởng đến sự sinh tồn và phát triển của con người,
cho con người cơ sở sống và phát triển.
Gần đây, theo Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2006 đã đưa ra định nghĩa
sau về môi trường: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao
quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con
người và sinh vật”.
"Thành phần môi trường là các yếu tố vật chất tạo thành môi trường như: Đất,
nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất
khác” [8, tr.7-8].
Nếu quan niệm như vậy, thì các yếu tố xã hội có ảnh hưởng đến cuộc sống con
người chưa được coi là yếu tố môi trường. Đồng thời, môi trường ở đây chỉ được hiểu là
môi trường tự nhiên, chứ chưa thấy có môi trường xã hội. Theo cách hiểu như vậy chưa
đầy đủ. Bởi, trên thực tế, trong những yếu tố ảnh hưởng đến con người, không chỉ có
những yếu tố của môi trường tự nhiên, mà còn có các yếu tố xã hội, ảnh hưởng sâu sắc và
lâu dài đến cuộc sống con người, góp phần hình thành ý thức, nhân cách con người. Nếu
thiếu đi việc nghiên cứu về môi trường xã hội với những tác động, ảnh hưởng của nó đến
con người, thì nhận thức về môi trường sẽ bị lệch lạc, không đầy đủ, toàn diện, dẫn đến
việc tìm ra những giải pháp là không đồng bộ.
Theo luận văn, để nhận thức đầy đủ về môi trường, cần hiểu môi trường như
sau: "Môi trường sống của con người là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết
cho sự sinh sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất
nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội…" [5, tr.6].
Theo góc độ nghiên cứu này, môi trường có thể được chia thành các loại như

* Chức năng của môi trường:
+ Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.
Để tồn tại và hoạt động, con người cần một không gian nhất định, như nhà để ở,
nước dùng cho sinh hoạt và sản xuất, những quy ước, thiết chế ảnh hưởng chi phối cuộc
sống con người, bắt con người phải tuân thủ. Chức năng này đòi hỏi môi trường cần phải tạo một không gian thích hợp đảm bảo những yêu cầu nhất định về quy mô và chất
lượng, cho sự tồn tại và phát triển của con người. Thí dụ, cần phải đảm bảo diện tích
không gian sống hợp lý cho mỗi người; Không gian này lại phải đảm bảo những tiêu
chuẩn nhất định về vật lý, hoá học, sinh học, cảnh quan, các mối quan hệ xã hội nhất
định.
+ Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên, làm thành các nguồn lực cần
thiết cho quá trình sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người.
Để sản xuất ra của cải vật chất, con người phải lấy từ trong tự nhiên những
nguồn tài nguyên thiên nhiên cần thiết. Đó là những nguồn vật liệu, năng lượng, thông tin
cần cho hoạt động sinh sống, sản xuất và quản lý của con người. Chức năng này còn gọi
là nhóm chức năng sản xuất tự nhiên.Ví dụ như rừng tự nhiên có chức năng cung cấp
nước, gỗ dược liệu, không khí, năng lượng mặt trời, nhiệt độ giúp cho ta hít thở; động
thực vật cung cấp lương thực, thực phẩm; các loại quặng, dầu mỏ cung cấp năng lượng,
nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất…Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển của kinh
tế - xã hội, nhu cầu của con người đối với các nguồn tài nguyên ngày càng lớn cả về chất
lượng và số lượng. Mức độ, cách thức việc sử dụng nguồn tài nguyên đó, đều ảnh hưởng
đến chất lượng môi trường.
+ Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra.
Trong sản xuất và đời sống, con người luôn đào thải các chất thải vào môi
trường. Đồng thời với quá trình đó, môi trường không ngừng phân huỷ, trung hoà các
chất thải, dưới tác động của các vi sinh vật và các yếu tố khác, thông qua việc tham gia
vào hàng loạt các quá trình sinh địa hoá phức tạp. Khi lượng chất thải lớn hơn khả năng
hấp thụ của môi trường, thì chất lượng môi trường sẽ giảm, môi trường sẽ có thể bị ô

bền vững của mỗi quốc gia. Việc nghiên cứu những tác động của CNH, HĐH đến môi
trường giúp ta có cơ sở khoa học, để từ đó có thể tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm
phát huy những tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực đối với môi trường.
* Tác động tích cực của CNH, HĐH đến môi trường
Thứ nhất CNH, HĐH tác động tích cực đến môi trường tự nhiên:
CNH, HĐH với những tư duy tích cực, những tiến bộ về khoa học kỹ thuật và công
nghệ mới ứng dụng vào trong sản xuất và đời sống, cùng với những cách thức sản xuất, tiêu thụ tiên tiến của con người, giúp cho việc ngăn chặn và giảm thiểu ô nhiễm, nhằm bảo vệ, cải
thiện môi trường một cách có hiệu quả.
Thực tế cho thấy, khoa học, công nghệ có vai trò ngày càng quan trọng và không
thể thiếu trong quá trình phát triển nói chung và quá trình CNH, HĐH nói riêng. Trong
đó, công nghệ môi trường là một trong những công cụ hữu hiệu cho việc bảo vệ và cải
thiện môi trường.
Công nghệ môi trường (CNMT) là các sản phẩm hoặc quá trình có thể
hạn chế, phòng ngừa, giảm thiểu hoặc xử lý các tác động có hại gây ra, do hoạt
động của con người lên môi trường. CNMT còn bao gồm các quá trình sản
xuất hiệu quả hơn, ít chất thải hơn hoặc tiêu thụ ít nguyên liệu hơn. CNMT còn
bao gồm các phương pháp làm sạch môi trường ô nhiễm đang tồn tại hoặc tiêu
huỷ an toàn hoặc tái chế chất thải [57].
Đặc biệt, với nhiều phát kiến khoa học, có thể tận dụng được tính năng của các
loại tài nguyên, làm giảm lượng nguyên liệu tiêu dùng trong sản xuất. Mặt khác công
nghệ còn giúp con người khai thác được nguồn tài nguyên truyền thống khó tiếp cận, từ
đó góp phần làm tăng số lượng nguồn nguyên liệu thô [56, tr.60]. Hơn thế nữa, có thể tạo
ra những tài nguyên mới, năng lượng mới, hữu ích với môi trường. Trên cơ sở đó, số lợi
ích thu được từ một đơn vị tài nguyên và số lượng tài nguyên sẽ tăng lên, góp phần bảo
vệ, phục hồi môi trường sinh thái. Với những công nghệ "xanh", “sạch", có thể cải thiện
được môi trường tự nhiên, theo hướng có lợi cho con người. Hiện nay, công nghệ môi
trường được phát triển ở nhiều quốc gia, trong đó những quốc gia được áp dụng một cách

dụng công nghệ Silver Nano. Qua khảo sát cho thấy, những sản phẩm này đều sử dụng
màng lọc khí đa tầng, kết hợp tia cực tím để khử mùi, vi khuẩn, hút khí nhiễm khuẩn ra,
đồng thời thu luồng khí sạch vào phòng.
Với công nghệ sạch, có thể giúp cho việc giảm được nguyên liệu, năng lượng
sản xuất và tiêu dùng. Từ đó giảm thiểu sự ô nhiễm không khí. Điển hình, như công nghệ
phụ gia Maz- chất phụ gia cho xăng dầu (công nghệ của Mỹ). Theo thử nghiệm của các
chuyên gia, đối với phụ gia MAZ trên động cơ xăng (MAZ 100) đã tiết kiệm được 5-10%
nhiên liệu, các khí độc hại CO giảm 5-11%, HC giảm 13-15%; đối với động cơ diesel
(MAZ 200) tiết kiệm 24% nhiên liệu; đối với động cơ dầu diesel sinh học tiết kiệm tới 25% nhiên liệu… [4]. Trong nông nghiệp, sự phát triển của ngành nông nghiệp hữu cơ
với những phương pháp canh tác khoa học, đã không những mang lại độ phì nhiêu cho
đất, tăng mực nước ngầm mà còn giảm lượng các-bon và đa dạng sinh học.
áp dụng công nghệ mới còn để tái tạo nguồn năng lượng mới thay thế năng
lượng cũ, nhằm ngăn chặn, hạn chế sự ô nhiễm không khí. Thí dụ việc sử dụng khí đốt
sinh học Biogas - nguồn năng lượng tại chỗ và rẻ tiền đã đem lại hiệu quả tích cực cho
việc xử lý ô nhiễm môi trường từ nguồn chất thải chăn nuôi tạo ra, vừa đem lại hiệu quả tích
cực trong việc thay thế các dạng năng lượng khí đốt như xăng, dầu… phục vụ cho sản xuất và
đời sống nhân dân, mà không gây ảnh hưởng gì tới sức khoẻ con người. Hay, nhờ vào những
ứng dụng công nghệ mới, người ta có thể sản xuất ra những sản phẩm sạch từ những
nguyên liệu thay thế sạch. Điển hình là nhiên liệu sinh học (NLSH) là loại nhiên liệu
được hình thành từ các chất có nguồn gốc động thực vật (sinh học), như từ chất béo động
thực vật (mỡ động vật, dầu dừa), ngũ cốc (lúa mỳ, đậu tương ), chất thải nông nghiệp
(rơm rạ, phân), chất thải công nghiệp (sản phẩm gỗ thải) có tính chất thân thiện với môi
trường, sinh ra ít hàm lượng khí gây hiệu ứng nhà kính, ít ô nhiễm. Bên cạnh đó, việc tìm
kiếm, ứng dụng công nghệ mới nhằm khai thác nguồn năng lượng mới như năng lượng
mặt trời, năng lượng tạo ra từ sức gió… nguồn năng lượng sạch, không gây hiệu ứng nhà
kính đã đem lại hiệu quả to lớn về kinh tế và môi trường trên thế giới và đang bắt đầu áp
dụng ở Việt Nam…

trong việc tiết kiệm nguồn nước, góp phần bảo vệ và cải thiện môi trường. Năm 2005, ước
tính ở nước ta, do ứng dụng công nghệ sạch và phương pháp sản xuất mới, đã tiết kiệm
lượng nước tiêu thụ 40 % - 70%; tiết kiệm tiêu thụ điện 20% - 50%; giảm các chất độc hại
50% - 100%; giảm tải lượng BOD trong nước khoảng 50 - 70%; giảm tổng số lưu huỳnh
trong nước [47].
+ Công nghệ hiện đại cho phép ngăn chặn, hạn chế nguồn phát thải gây ô nhiễm
cho đất, cho phép xử lý trực tiếp những chất thải gây ô nhiễm cho đất như chất thải rắn
công nghiệp, chất thải nguy hại phát sinh từ các nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật,
hoá chất, sản xuất linh kiện điện tử…
Thiêu huỷ chất thải rắn được coi là một phương pháp để khắc phục sự ô nhiễm.
Trên cơ sở công nghệ cao, có thể xây dựng những lò đốt rác có nhiệt độ cao, có thể đốt được chất thải rắn thông thường và cả nguy hại, mà không gây ô nhiễm ra môi trường.
Bên cạnh đó, còn có những công nghệ đang được triển khai, nhằm giảm thiểu ô nhiễm
môi trường từ các nguồn rác thải: Ví dụ như xử lý rác thải bằng giun, xử lý rác thải bằng
ruồi đen, xử lý mùi hôi sinh ra từ bãi rác, bằng chế phẩm EM… Một số địa phương, như TP
Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai; Huyện Hải Ninh, tỉnh Ninh Thuận áp dụng công nghệ ủ yếm
khí, kết hợp sản xuất phân bón hữu cơ. Những chất thải rắn hữu cơ dễ bị phân huỷ như rau,
quả, cỏ, lá cây… có thể chế thành phân compost dùng cho nông nghiệp.
Hơn nữa, với những công nghệ hiện đại, có thể đem lại khả năng tái chế nguyên
nhiên vật liệu cao. Điển hình là những công nghệ mới như Seraphin, Tâm Sinh Nghĩa,
Công ty thuỷ lực đã được áp dụng ở một số thành phố như Hà Nội, Vinh, Huế… đã đem
lại kết quả khả quan về tái chế. Tỷ lệ tái chế tới hơn 90%, chỉ còn dưới 10% chất thải
được chôn lấp, từ đó sẽ hạn chế nhiều sự ô nhiễm đối với đất Hiện nay người ta còn sản
xuất ra đất sinh học, một loại chất cải tạo đất, giàu chất hữu cơ, vi sinh hữu ích… Thí dụ
như đất sinh học DASI, DASO - XO của công ty TNHH DASI. Như vậy, CNH, HĐH
thúc đẩy sự ứng dụng mạnh mẽ công nghệ vào sản xuất và đời sống, thúc đẩy việc áp
dụng những phương pháp sản xuất tiên tiến, đây chính là yếu tố góp phần quan trọng
trong việc bảo vệ, cải thiện môi trường tự nhiên.

tạo môi trường xã hội tốt hơn cho con người. Trong giai đoạn CNH, HĐH gắn với phát
triển kinh tế tri thức như hiện nay, thì vai trò của tri thức có tác động lớn đến việc củng
cố, hoàn thiện các thiết chế. Mạng thông tin điện tử tăng cường sự kết nối giữa mọi tổ
chức, mọi cá nhân trong xã hội trong việc thực hiện các hoạt động quản lý, hoạt động
kinh tế, hoạt động giáo dục, văn hoá giúp cho những người thuộc nhóm lãnh đạo có đủ
khả năng để giám sát, quản lý xã hội, đồng thời dưới tác động của mạng thông tin điện tử,
mọi tổ chức, mọi cá nhân sẽ có cơ hội nhận thức tốt hơn, nhanh hơn những quy định,
nguyên tắc, về quy ước thiết chế xã hội. Từ đó giúp cho việc điều chỉnh hành vi của mình
phù hợp với những thiết chế đó, giúp cho guồng máy xã hội thực hiện trôi chảy, thuận
lợi. Trong xã hội hiện đại, internet giúp các chủ thể phát huy khả năng sáng tạo của cá
nhân, theo xu thế tích cực.
CNH, HĐH thực chất là chuyển dịch từ nền văn minh thấp sang nền văn minh
cao hơn. Đó là sự chuyển biến toàn diện, sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Từ thói quen, nếp nghĩ, tư duy. Đặc biệt đối với đời sống xã hội nông thôn. CNH,
HĐH giúp đẩy lùi những lạc hậu, lối sống tiểu nhân hạn hẹp. Tư duy thay đổi, thói quen
và tác phong của con người cũng thay đổi theo, để phù hợp với nhịp sống văn minh thời
CNH, HĐH. Những phong tục tập quán lạc hậu như bất bình đẳng giới, hủ tục ma chay,
cưới xin sẽ dần bị xoá bỏ. Người dân được trang bị kiến thức về dân số, giới, sức
khoẻ do vậy biết cách để nâng cao sức khoẻ bản thân, gia đình.
Dưới tác động của CNH, HĐH, cấu trúc xã hội có sự thay đổi. Những ngành
nghề mới ra đời. Người phụ nữ ngày càng có cơ hội lựa chọn nghề nghiệp, cơ hội tham
gia vào các hoạt động trong xã hội, nhất là hoạt động kinh tế. Họ không phụ thuộc hoàn
toàn vào người chồng như xưa nữa. Bởi vì, họ đã có công việc, địa vị, có thu nhập riêng,
độc lập. Điều đó khiến họ tự tin. Vị thế người phụ nữ được nâng lên. Vai trò của họ được
khẳng định. Bất bình đẳng giới được giảm đi nhiều.
CNH, HĐH còn góp phần tích cực trong việc hình thành mô hình gia đình hiện
đại, thay thế cho mô hình gia đình truyền thống trước đây. Hình thức phổ biến chế độ
một vợ, một chồng, cùng một đến hai con, thay thế cho hình thức một gia đình có nhiều

Như vậy, CNH, HĐH đã thúc đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất,
nâng cao nhận thức của con người, nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh
tế - xã hội, từ đó thúc đẩy xã hội phát triển. Với những tác động tích cực đó, làm cho môi
trường xã hội tốt hơn, từ đó góp phần cải thiện môi trường xã hội.
* Tác động tiêu cực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến môi trường
Thứ nhất, đối với môi trường tự nhiên:
Sự phát triển của quá trình CNH, HĐH làm nảy sinh nhiều nhân tố gây ô nhiễm,
suy thoái môi trường tự nhiên.
"Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường, không phù hợp với
tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”.
Suy thoái môi trường: "là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi
trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật" [8, tr.8].
Trước khi có CNH, HĐH thì con người đã có tác động ảnh hưởng tiêu cực đến
môi trường. Nhưng sự tác động đó chỉ đến một mức độ nhất định. Khi con người xuất
hiện trên trái đất, con người đã tác động làm thay đổi trái đất. Để sinh tồn, con người đã khai thác tự nhiên, để phục vụ cho lợi ích nhu cầu của con người. Con người lúc này đã
tác động tiêu cực đến môi trường, tuy nhiên ở mức độ hạn chế. Phương thức sản xuất
nông nghiệp, dựa trên cơ sở lao động thủ công, với những công nghệ truyền thống và
kinh nghiệm cổ truyền, khiến cho năng suất lao động thấp, năng lực khai thác các nguồn
lực trong tự nhiên là rất hạn chế, thấp xa so với khả năng tái tạo của giới tự nhiên. Mặt
khác, trên cơ sở khả năng sử dụng ít tài nguyên, nên mức phát thải ra tự nhiên cũng rất ít.
Hơn nữa, xuất phát từ đặc thù của nền sản xuất nông nghiệp và văn minh nông nghiệp,
nên những phế thải được đưa ra môi trường chủ yếu là phế thải hữu cơ. Do vậy chúng ít
có khả năng trở thành những nhân tố gây tổn hại đến môi trường. Có thể nói phương thức
sản xuất dựa trên nông nghiệp là chủ yếu ít gây tổn hại đến tự nhiên. Nó phát triển trong
trạng thái cân bằng với khả năng tái tạo của thế giới tự nhiên.
Đến xã hội công nghiệp, con người đã chế tạo được những công cụ sản xuất tinh
vi, hiện đại hơn. Kỹ thuật, máy móc đã trở thành phương tiện hữu hiệu, mạnh mẽ nhất để

nghiệp hoá chất.
Mặt khác, CNH, HĐH thúc đẩy việc hình thành các đô thị, với tốc độ nhanh
chóng. ở nước ta mạng lưới đô thị gia tăng rất nhanh, từ 629 đô thị năm 1999, tăng lên
754 đô thị hiện nay [35, tr.17]. Đô thị là nơi tập trung dân cư, tập trung các trung tâm
công nghiệp, do vậy sẽ thúc đẩy nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, trong khi cơ sở hạ tầng
chưa đáp ứng kịp. Bởi một mặt đô thị ở rộng đã bành trướng nông thôn, lấn chiếm đất
nông nghiệp, mặt khác đô thị càng phát triển thì tiêu thụ càng nhiều tài nguyên và phá
hoại môi trường thiên nhiên. Phát triển đô thị, có nghĩa là tài nguyên đất bị khai thác triệt
để, để phục vụ cho quy hoạch đô thị, đồng thời nhu cầu về nước và các dịch vụ khác gia
tăng, dân số đổ nhiều về đô thị, sản xuất công nghiệp phát triển làm phát sinh lớn lượng
chất thải gây sức ép cho môi trường đô thị. Bên cạnh đó, đô thị phát triển kéo theo sự
bùng nổ các phương tiện giao thông cơ giới Hiện nay dân cư các đô thị đi lại chủ yếu
bằng xe máy, chiếm đến 72,2% ở Hà Nội, chiếm đến 87,2% ở thành phố Hồ Chí Minh
[29]. Đó là những tác nhân gây ô nhiễm môi trường.
CNH, HĐH được đẩy mạnh, thì các làng nghề thủ công truyền thống cũng dần
được phát triển và mở rộng quy mô. Sự phát triển đó, lại không đi kèm với những biện

Trích đoạn Hoàn thiện hệ thống phỏp luật về mụi trường, bảo vệ mụi trường tự nhiờn Tiếp tục xõy dựng, ban hành, hoàn thiện hệ thống chớnh sỏch kinh tế xó hội, nhằm thỳc đẩy quỏ trỡnh cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ gắn với bảo vệ mụ Đẩy mạnh cụng tỏc thụng tin, tuyờn truyền, giỏo dục nhằm nõng cao nhận thức và trỏch nhiệm bảo vệ mụi trường Tăng cường cụng tỏc quản lý nhà nước trong bảo vệ mụi trường Tập trung đầu tư cho nghiờn cứu khoa học, đẩy mạnh việc chuyển giao, ứng dụng cụng nghệ và đào tạo nguồn nhõn lực cho hoạt động bảo vệ mụ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status