MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA BRAXIN - Pdf 15

Tên đề tài: MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA BRAXIN
Nội dung
I. Giới thiệu chung về đất nước Braxin
1. Giới thiệu chung
2. Sự lựa chọn con đường phát triển ở Braxin
2.1 Giới thiệu về con đường nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế nhanh
2.2 Tại sao Braxin lại lựa chọn con đường phát triển kinh tế theo mô
hình “tăng trưởng nhanh”.
II. Quá trình phát triển kinh tế Braxin theo con đường tăng trưởng kinh tế
nhanh
1. Giai đoạn phát triển từ năm 1960 đến năm 1994
1.1 Từ năm 1960 đến năm 1980: giai đoạn phát triển thần kì
1.1.1 Cơ cấu ngành
1.1.2 Những thành tựu và hạn chế của nền kinh tế thời kì này
1.2 Từ năm 1980 đến năm 1994 : giai đoạn nền kinh tế bất ổn
1.3 Bài học chủ yếu cho Braxin
2. Nền kinh tế Braxin trong giai đoạn 1994 đến nay
2.1 Thời điểm khó khăn của nền kinh tế
2.2 Phục hồi kinh tế
2.2.1 Ổn định nền kinh tế vĩ mô
2.2.2 Sự phát triển của nền kinh tế,những thành tựu và hạn chế
2.2.2.1 Cơ cấu các ngành và tình hình đầu tư
2.2.2.2 Những hạn chế của nền kinh tế trong giai đoạn
này
III. Thực trạng về môi trường và xã hội của Braxin
1. Thực trạng xã hội của Braxin
1.1 Các vấn đề xã hôi
1.2 Những giải pháp về xã hội
2. Thực trạng về môi trường
2.1 Các vấn đề về môi trường
2.2 Những giải pháp về môi trường

nền kinh tế vượt trội trong những năm gần đây.
Nhưng ẩn sau những thành tựu kinh tế đạt được lại là một xã hội bất ổn,
những bất bình đẳng về thu nhập và sự hủy hoại nghiêm trọng về môi trường
2. Sự lựa chọn con đường phát triển kinh tế ở Braxin
2.1. Giới thiệu về con đường nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế
nhanh
Có 3 con đường phát triển kinh tế khác nhau: nhấn mạnh tăng trưởng
nhanh; coi trọng vấn đề bình đẳng,công bằng xã hội; phát triển toàn diện.
Braxin đã chọn con đường mô hình nhấn mạnh tăng trưởng nhanh, vậy
mô hình tăng trưởng nhanh là gì?
Là mô hình mà Chính phủ đã tập trung chủ yếu vào các chính sách đẩy
nhanh tốc độ tăng trưởng mà bỏ qua các nội dung xã hội. Các vấn đề bình
2
đẳng, công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư chỉ được đặt
ra khi tăng trưởng thu nhập đã đạt được một trình độ khá cao.
Ưu điểm:
Nền kinh tế rất nhanh khởi sắc, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân
năm rất cao.
Nhược điểm:
Những hệ quả xấu đã xảy ra: Sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã
hội ngày càng găy gắt, các nội dung về nâng cao chất lượng cuộc sống thường
không được quan tâm, một số giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống của dân tộc
và đạo đức, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của nhân dân bị phá hủy.
Mặt khác, tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, hủy hoại môi trường
sinh thái, chất lượng tăng trưởng kinh tế không đảm bảo và vi phạm những
yêu cầu phát triển bền vững. Chính những hạn chế này đã tạo ra lực cản cho
sự tăng trưởng kinh tế ở giai đoạn sau.
2.2 Tại sao Braxin lựa chọn con đường phát triển kinh tế theo mô hình
“tăng trưởng nhanh”?
Do điều kiện tự nhiên thuận lợi

Braxin là một trong những nước có trình độ phát triển nhất ở châu Mỹ
la tinh: do đất đai, khí hậu hết sức thuận lợi nên nông nghiệp của Braxin phát
triển khá phong phú. Sản lượng cà phê đứng hàng đầu trên thế giới, ngô đứng
hàng thứ hai, ca cao đứng thứ ba và bông đứng thứ năm …(năm 1972).
Ngành chăn nuôi của Braxin cũng phát triển mạnh do có nhiều đồng
cỏ, thung lũng. Braxin có trên 200 triệu gia súc, là nguồn cung cấp chủ yếu
cho ngành công nghiệp thực phẩm. Năm 1971,ngành nông nghiệp chiếm 20
% tổng sản phẩm quốc dân.
Ngành công nghiệp
4
Braxin có nhiều tài nguyên phong phú, có những mỏ sắt, măng –gan,
bốc-xít, kền, chì, crôm, vàng, tung-xten, đồng, than đá, dầu mỏ với trữ lượng
khá lớn. Do đó công nghiệp khai thác chiếm một vị trí quan trọng trong nền
kinh tế. Ngoài công nghiệp khai thác, ngành công nghiệp nặng của Braxin còn
có công nghiệp xe hơi, đóng tầu khá phát triển. Mặc dù trong các ngành công
nghiệp tiêu dùng, tư bản bản xứ nắm các khâu sản xuất và làm chủ nhà máy,
nhưng thiết bị máy móc và một số nguyên liệu vẫn phải dựa vào tư bản nước
ngoài.
Ngành dịch vụ
Braxin tiến hành trao đổi chủ yếu với các nước tư bản Anh, Mỹ,
cộng hòa liên bang Đức, Nhật Bản, ý, Hà Lan …ngoài ra Braxin còn trao đổi
kinh tế với Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa khác.
Braxin xuất khẩu nhiều nhất là cà phê (hàng năm chiếm chừng 40% giá
trị hàng xuất khẩu) rồi đến quặng sắt, bông, đường, ngô, ca cao và nhiều loại
gỗ quý. Trị giá hàng xuất khẩu hàng năm xê dịch từ 2,5 tỷ đến 3 tỷ Đô la,
hàng nhập khẩu chủ yếu của Braxin là bột mì, máy móc và phụ tùng thay thế
cho ngành công nghiệp nặng, hóa chất, dầu thô … trị giá hàng nhập khẩu
hàng năm xấp xỉ trên dưới 3,5 tỷ Đô la.
Thành tựu đạt được
Trong vòng từ năm 1966 đến năm 1976, nền kinh tế Braxin đã có

hết sức béo bở mà các công ty tư bản độc quyền nước ngoài ít khi giám mơ
tưởng tới. Các công ty nước ngoài kinh doanh ở Braxin sẽ được giảm hoặc
miễn thuế, đảm bảo không bị quốc hữu hóa. Đồng thời, các nhà cầm quyền lại
thi hành chính sách “ ướp lạnh” tiền lương, duy trì mức lương rất thấp và
thậm trí còn bảo đảm không có sự tăng lương ở Braxin. Với đường lối đó các
tập đoàn cầm quyền Braxin đã mở đường cho tư bản nước ngoài mặc sức
cướp bóc vơ vét, biến Braxin thành thị trường tiêu thụ , một nguồn cung cấp
nguyên liệu và nhân công rẻ mạt. Chính vì vậy theo báo cáo của Ngân hàng
thế giới vào năm 1970, 82,5% nền kinh tế Braxin tập trung nằm trong tay TB
nước ngoài. Hậu quả nền công nghiệp Braxin lệ thuộc ngày càng nhiều CNTB
và nhân dân bị bóc lột nặng nề.
Điều đáng tiếc là, vấp phải cuộc khủng hoảng dầu thô năm 1973 và nối
tiếp sau đó là khủng hoảng trái phiếu, khủng hoảng kinh tế do lạm phát bùng
phát, Brazil chưa kịp cất cánh bao lâu đã rơi rụng, trở thành đại diện điển hình
“mười năm tụt hậu” của Mỹ Latinh.
Những năm 1980- 1994, nền kinh tế bất ổn
6
Những năm 1980 là thời kì khó khăn của Brazil, do nước này đã
vay nợ nước ngoài rất nhiều trong những năm 70.
Mức tăng chỉ số giá tiêu dùng hàng năm là 400%. Tỷ lệ trao đổi đối với
hàng xuất khẩu trong thập niêm đó ở mức âm,tiền lương thực tế giảm trung
bình 3%. Đồng tiền của Brazil bị phá giá. Trong những năm 1990, nước này
phát triển mô hình kinh tế mở của tự do. Sự can thiệp của nhà nước vào nền
kinh tế bị bãi bỏ thông qua tư nhân hoá ngân hàng và các ngành thuộc sở hữu
nhà nước.
Các bảng số liệu của nền kinh tế Braxin
Bảng số liệu về tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người
GDP/ người của Braxin tăng và giảm bất ổn
Năm 1985


1991 386081 439882
1992 377943 435764
1993 438930 453886
1994 564553 480246
8
Bảng số liêu về tốc độ tăng GDP
năm 1985 1986 1987 1990 1991 1992 1993 1994 1995
tốc độ
tăng
GDP
8.3 7.7 7.1 -2.4 0.4 -0.9 4.2 5.8 4.2
tốc độ tăng gdp
1 2 3 4 5 6 7 8 9
năm
tốc độ tăng gdp
năm
9
Ta có tỷ lệ lạm phát từ năm 1981 đến năm 1997
.Tỉ lệ lạm phát ở Bra-xin, 1981 đến 1997
Năm Tỉ lệ lạm phát
1981 100%
1982 100%
1983 138%
1984 192%
1985 226%
1986 147%
1987 228%
1988 629%
1989 1.430%
1990 30.377%

gia có hiệu quả của chính phủ để tạo dựng môi trường đầu tư thuận lợi, duy trì
cạnh tranh công bằng, khống chế có hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoài, xử lý
kịp thời những nguy hiểm trong các lĩnh vực như tài chính. Kinh tế mở mang
11
đến một trình độ nhất định đều buộc phải bước vào giai đoạn thu hẹp. Trong
tình hình đó, đúng ra Brazil cần thực hiện điều chỉnh kinh tế thông qua quá
trình giảm tốc tăng trưởng. Nhưng lựa chọn của chính phủ đương nhiệm lại là
bằng con đường phát hành trái phiếu vay nước ngoài, tuy việc làm này duy trì
được tốc độ tăng trưởng khá nhưng nó lại dẫn tới những vấn đề nghiêm trọng
chủ yếu là từ những gánh nặng và trách nhiệm đi kèm các khoản vay và kết
cục đẩy nền kinh tế Brazil vào cuộc khủng hoảng trái phiếu vào thập kỷ 80
của thế kỷ 20.
Nhiều chuyên gia cho rằng, bước thăng trầm của kinh tế Brazil giai đoạn
này là một kinh nghiệm quý báu cho lần trỗi dậy mới này của kinh tế hiện nay
và đồng thời nó cũng là nguyên nhân quan trọng cho sự trỗi dậy ấy.
Nền kinh tế Brazil trong giai đoạn từ năm 1994 đến nay
2.1 Thời điểm khó khăn của nền kinh tế
Lạm phát cao
Sau nhiều thập kỷ có mức lạm phát cao và nhiều nỗ lực kiểm soát,
Brasil đã thực thi một chương trình ổn định kinh tế với tên gọi Kế hoạch -
Plano Real (được đặt theo tên đồng tiền tệ mới real) vào tháng 7 năm 1994 Tỷ
lệ lạm phát vốn từng đạt mức gần 5.000% thời điểm cuối năm 1993, đã giảm
rõ rệt, ở mức thấp 2,5% vào năm 1998. Cụ thể : lạm phát năm 1994 là 2076%
năm 1995 chỉ còn 66% , năm 1996 là 16% , năm 1997 là 7% và đến năm
1998 như đã nói – 2.5%.
Tuy nhiên Sự phát triển của Brazil là hệ quả của hiện tượng đô thị
hóa và sự bùng nổ nền kinh tế thị trường. Rồi chịu ảnh hưởng nặng nề của
cuộc khủng hoảng kinh tế 1997, và bùng nổ vào 2 năm sau. Tháng 1 năm
1999, đồng Real mất giá 37%, sau khi bị phá giá, ngân hàng trung ương nâng
lãi suất lên 37% . Giá cả leo thang , IMF đã đề nghị tăng lãi suất ngân hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status