MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA BRAXIN - Pdf 30

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tên đề tài: MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA BRAXIN
Nội dung
I. Giới thiệu chung về đất nước Braxin
1. Giới thiệu chung
2. Sự lựa chọn con đường phát triển ở Braxin
2.1 Giới thiệu về con đường nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế nhanh
2.2 Tại sao Braxin lại lựa chọn con đường phát triển kinh tế theo mô
hình “tăng trưởng nhanh”.
II. Quá trình phát triển kinh tế Braxin theo con đường tăng trưởng kinh tế
nhanh
1. Giai đoạn phát triển từ năm 1960 đến năm 1994
1.1 Từ năm 1960 đến năm 1980: giai đoạn phát triển thần kì
1.1.1 Cơ cấu ngành
1.1.2 Những thành tựu và hạn chế của nền kinh tế thời kì này
1.2 Từ năm 1980 đến năm 1994 : giai đoạn nền kinh tế bất ổn
1.3 Bài học chủ yếu cho Braxin
2. Nền kinh tế Braxin trong giai đoạn 1994 đến nay
2.1 Thời điểm khó khăn của nền kinh tế
2.2 Phục hồi kinh tế
2.2.1 Ổn định nền kinh tế vĩ mô
2.2.2 Sự phát triển của nền kinh tế,những thành tựu và hạn chế
2.2.2.1 Cơ cấu các ngành và tình hình đầu tư
2.2.2.2 Những hạn chế của nền kinh tế trong giai đoạn
này
III. Thực trạng về môi trường và xã hội của Braxin
1. Thực trạng xã hội của Braxin
1.1 Các vấn đề xã hôi
1.2 Những giải pháp về xã hội
2. Thực trạng về môi trường
2.1 Các vấn đề về môi trường

trên thế giới. Braxin cùng với Ấn Độ và Trung Quốc trở thành những nước có
nền kinh tế vượt trội trong những năm gần đây.
Nhưng ẩn sau những thành tựu kinh tế đạt được lại là một xã hội bất ổn,
những bất bình đẳng về thu nhập và sự hủy hoại nghiêm trọng về môi trường
2. Sự lựa chọn con đường phát triển kinh tế ở Braxin
2.1. Giới thiệu về con đường nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế
nhanh
Có 3 con đường phát triển kinh tế khác nhau: nhấn mạnh tăng trưởng
nhanh; coi trọng vấn đề bình đẳng,công bằng xã hội; phát triển toàn diện.
Braxin đã chọn con đường mô hình nhấn mạnh tăng trưởng nhanh, vậy
mô hình tăng trưởng nhanh là gì?
Là mô hình mà Chính phủ đã tập trung chủ yếu vào các chính sách đẩy
nhanh tốc độ tăng trưởng mà bỏ qua các nội dung xã hội. Các vấn đề bình
2
đẳng, công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư chỉ được đặt
ra khi tăng trưởng thu nhập đã đạt được một trình độ khá cao.
Ưu điểm:
Nền kinh tế rất nhanh khởi sắc, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân
năm rất cao.
Nhược điểm:
Những hệ quả xấu đã xảy ra: Sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã
hội ngày càng găy gắt, các nội dung về nâng cao chất lượng cuộc sống thường
không được quan tâm, một số giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống của dân tộc
và đạo đức, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của nhân dân bị phá hủy.
Mặt khác, tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, hủy hoại môi trường
sinh thái, chất lượng tăng trưởng kinh tế không đảm bảo và vi phạm những
yêu cầu phát triển bền vững. Chính những hạn chế này đã tạo ra lực cản cho
sự tăng trưởng kinh tế ở giai đoạn sau.
2.2 Tại sao Braxin lựa chọn con đường phát triển kinh tế theo mô hình
“tăng trưởng nhanh”?

nền kinh tế quốc dân.
Braxin là một trong những nước có trình độ phát triển nhất ở châu Mỹ
la tinh: do đất đai, khí hậu hết sức thuận lợi nên nông nghiệp của Braxin phát
triển khá phong phú. Sản lượng cà phê đứng hàng đầu trên thế giới, ngô đứng
hàng thứ hai, ca cao đứng thứ ba và bông đứng thứ năm …(năm 1972).
Ngành chăn nuôi của Braxin cũng phát triển mạnh do có nhiều đồng
cỏ, thung lũng. Braxin có trên 200 triệu gia súc, là nguồn cung cấp chủ yếu
cho ngành công nghiệp thực phẩm. Năm 1971,ngành nông nghiệp chiếm 20
% tổng sản phẩm quốc dân.
Ngành công nghiệp
Braxin có nhiều tài nguyên phong phú, có những mỏ sắt, măng –gan,
bốc-xít, kền, chì, crôm, vàng, tung-xten, đồng, than đá, dầu mỏ với trữ lượng
khá lớn. Do đó công nghiệp khai thác chiếm một vị trí quan trọng trong nền
kinh tế. Ngoài công nghiệp khai thác, ngành công nghiệp nặng của Braxin còn
có công nghiệp xe hơi, đóng tầu khá phát triển. Mặc dù trong các ngành công
nghiệp tiêu dùng, tư bản bản xứ nắm các khâu sản xuất và làm chủ nhà máy,
nhưng thiết bị máy móc và một số nguyên liệu vẫn phải dựa vào tư bản nước
ngoài.
Ngành dịch vụ
Braxin tiến hành trao đổi chủ yếu với các nước tư bản Anh, Mỹ,
cộng hòa liên bang Đức, Nhật Bản, ý, Hà Lan …ngoài ra Braxin còn trao đổi
kinh tế với Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa khác.
Braxin xuất khẩu nhiều nhất là cà phê (hàng năm chiếm chừng 40% giá
trị hàng xuất khẩu) rồi đến quặng sắt, bông, đường, ngô, ca cao và nhiều loại
gỗ quý. Trị giá hàng xuất khẩu hàng năm xê dịch từ 2,5 tỷ đến 3 tỷ Đô la,
4
hàng nhập khẩu chủ yếu của Braxin là bột mì, máy móc và phụ tùng thay thế
cho ngành công nghiệp nặng, hóa chất, dầu thô … trị giá hàng nhập khẩu
hàng năm xấp xỉ trên dưới 3,5 tỷ Đô la.
Thành tựu đạt được

hết sức béo bở mà các công ty tư bản độc quyền nước ngoài ít khi giám mơ
tưởng tới. Các công ty nước ngoài kinh doanh ở Braxin sẽ được giảm hoặc
5
miễn thuế, đảm bảo không bị quốc hữu hóa. Đồng thời, các nhà cầm quyền lại
thi hành chính sách “ ướp lạnh” tiền lương, duy trì mức lương rất thấp và
thậm trí còn bảo đảm không có sự tăng lương ở Braxin. Với đường lối đó các
tập đoàn cầm quyền Braxin đã mở đường cho tư bản nước ngoài mặc sức
cướp bóc vơ vét, biến Braxin thành thị trường tiêu thụ , một nguồn cung cấp
nguyên liệu và nhân công rẻ mạt. Chính vì vậy theo báo cáo của Ngân hàng
thế giới vào năm 1970, 82,5% nền kinh tế Braxin tập trung nằm trong tay TB
nước ngoài. Hậu quả nền công nghiệp Braxin lệ thuộc ngày càng nhiều CNTB
và nhân dân bị bóc lột nặng nề.
Điều đáng tiếc là, vấp phải cuộc khủng hoảng dầu thô năm 1973 và nối
tiếp sau đó là khủng hoảng trái phiếu, khủng hoảng kinh tế do lạm phát bùng
phát, Brazil chưa kịp cất cánh bao lâu đã rơi rụng, trở thành đại diện điển hình
“mười năm tụt hậu” của Mỹ Latinh.
Những năm 1980- 1994, nền kinh tế bất ổn
Những năm 1980 là thời kì khó khăn của Brazil, do nước này đã
vay nợ nước ngoài rất nhiều trong những năm 70.
Mức tăng chỉ số giá tiêu dùng hàng năm là 400%. Tỷ lệ trao đổi đối với
hàng xuất khẩu trong thập niêm đó ở mức âm,tiền lương thực tế giảm trung
bình 3%. Đồng tiền của Brazil bị phá giá. Trong những năm 1990, nước này
phát triển mô hình kinh tế mở của tự do. Sự can thiệp của nhà nước vào nền
kinh tế bị bãi bỏ thông qua tư nhân hoá ngân hàng và các ngành thuộc sở hữu
nhà nước.
Các bảng số liệu của nền kinh tế Braxin
Bảng số liệu về tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người
GDP/ người của Braxin tăng và giảm bất ổn
Năm 1985


1993 1.929%
1994 2.076%
1995 66%
1996 16%
Tỷ lệ thất nghiệp
Năm 198 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995
tỷ lệ
thất
nghiệp
2.4 3.6 3.8 3.0 3.7 - 6.5 5.3 5.1 4.6
Từ năm 1992 đến nay, nền kinh tế phát triển khá ổn định vì nước này
đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, phát triển một nền kinh tế khai mỏ và
xuất khẩu nông sản,buôn bán gỗ,kim cương…, sau đó là sự phát triển của
ngành công nghiệp chế tạo máy, luyện kim.
Như vậy từ năm 1981-1994, tỷ lệ lạm phát của Brazil đều có xu
hướng tăng với tốc độ khá nhanh, tuy nhiên tù năm 1992- 1995, tỷ lệ thất
nghiệp và tỷ lệ lạm phát đã được giảm xuống. Điều này cho thấy chính sách
của Brazil có tác động tích cực tới nền kinh tế.
Bài học chủ yếu cho Brazil.
Thứ nhất, tăng trưởng không thể chỉ là giúp một số ít người thu lợi. Thời
kỳ “kỳ tích” những năm 60 và 70 của thế kỷ trước cũng là thời kỳ phân hoá
giàu nghèo ở đây diễn ra đặc biệt sâu sắc. Xã hội có thể duy trì được ổn định
chỉ bởi được đặt dưới tầm khống chế của một chính quyền quân sự. Lúc bấy
giờ, nếu các vấn đề xã hội hay vấn đề dân sinh không được xử lý tốt, sự ổn
định xã hội chắc chắn vẫn sẽ bị đe doạ và khả năng trỗi dậy một lần nữa hoàn
toàn chỉ là viễn tưởng.
Thứ hai, phải phát huy vai trò của cơ chế thị trường kết hợp với sự tham
gia có hiệu quả của chính phủ để tạo dựng môi trường đầu tư thuận lợi, duy trì
cạnh tranh công bằng, khống chế có hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoài, xử lý
kịp thời những nguy hiểm trong các lĩnh vực như tài chính. Kinh tế mở mang

tương đương 46% GDP và cuối cùng cũng không ngăn được thâm hụt ngân
sách lên tới 6-7% trong thập niên 1990. Tình trạng thâm hụt tài khoản vãng
lai bắt đầu manh nha từ 1995. Tới 1998, thâm hụt tài khoản vãng lai lên tới
con số chóng mặt : 4.2% GDP. Trong năm thứ 2 liên tiếp , Brazil không còn
nhận được các dòng tiền từ bên ngoài bù đắp cho khoản thâm hụt này . Chính
vì vậy , trong các năm 1997 và 1998 , chính phủ Brazil đã phải trích ngân
sách ra để trang trải .
Tình trạng này kéo dài cho đến năm 2001 , nền kinh tế Brazil mới tạm
thời ổn định trở lại , tuy vậy cũng chỉ là dậm chân tại chỗ thậm chí , còn tụt
11
lùi , 1 ví dụ minh chứng là Nền kinh tế Brasil tăng trưởng 4,4% năm 2000,
giảm xuống còn 1,3% năm 2001.
Tốc độ tăng trưởng tụt giảm
Năm 2003, Tổng thống Lula đưa ra một chương trình kinh tế kham khổ
bằng cách kiểm soát lạm phát và tìm kiếm thặng dư nhằm đưa tình trạng nợ
nần của Brasil về mức ổn định. Lí do mà trong giai đoạn từ 2002-2005, sự
phát triển của Brazil là không ổn định. Cụ thể : GDP 2002 đạt 2.7% , song tới
năm 2003 lại chỉ còn 1.1% , còn thấp hơn so với năm 2000. Tới năm 2004,
GDP tăng đột biến, từ 1.1% lên tới 5.7%. Nó làm cho Mức tăng trưởng kinh
tế của Brasil thấp hơn các nước Mỹ Latinh khác và hai cường quốc mới nổi
Ấn Độ, Trung Quốc. Brasil đã tụt 11 bậc trong bảng Chỉ số Tăng trưởng Cạnh
tranh của diễn đàn kinh tế thế giới trong giai đoạn 2003 – 2005 .
Vì nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, cho nên năm 2005, GDP của
Brazil tăng không đạt mức dự kiến (3,5%), mà chỉ tăng 2,6%, đạt 619,7 tỷ
USD, so với 604,6 tỷ USD năm 2004. Các chuyên gia Liên hiệp quốc cho
rằng, đây là mức tăng thấp nhất năm 2005 trong số 24 nền kinh tế thị trường
đang nổi lên hiện nay.
Các ngành kinh tế trọng điểm
Ngành Công nghiệp chủ đạo:
Braxin có nền công nghiệp phát triển nhất Mỹ La tinh. Sản lượng công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status