MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
THỜI KỲ ĐỔI MỚI
(GIAI ĐOẠN 1986-2007)
BÀI TẬP NHÓM 7
CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM
1) ĐỒNG KIM KHÁNH
2) NGUYỄN DUY HÒA
3) ĐỖ TRUNG HIẾU
4) PHÙNG THẾ VƯƠNG
5) TĂNG MINH CHÍNH
6) NGUYỄN TUẤN THANH
7) HOÀNG ĐỨC CƯƠNG
Mô hình kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
(GIAI ĐOẠN 1986-2007)
Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và
về chất của nền kinh tế. Mặt lượng của sự phát triển bao hàm nghĩa sự gia
tăng về quy mô thu nhập và tiềm lực của nền kinh tế còn sự thay đổi về chất
bao gồm quá trình thay đổi cấu trúc bên trong của nền kinh tế (chuyển dịch
cơ cấu kinh tế) và sự tiến bộ xã hội.
I. Mô hình phát triển toàn diện – sự lựa chọn của
Việt Nam trong thời kỳ đổi mới kinh tế:
Mặc dù Việt Nam đã dành được những thành tựu nhất định trong
nhiều lĩnh vực từ thập niên 90 của thế kỷ thứ 20, tuy vậy, bước vào thời kỳ
chiến lược 2001-2010, chúng ta vẫn bị đánh giá là có nguy cơ tụt hậu về
kinh tế, nếu so sánh với sự phát triển vượt trội của các nước trong khu vực,
khoảng cách tuyệt đối về thu nhập bình quân trên đầu người của Việt nam
ngày càng xa so với họ. Vì vậy, yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh đã trở
thành bức xúc, hàng đầu để thực hiện mục tiêu phát triển. Thực hiện tăng
trưởng nhanh mới có thể kéo nước ta ra khỏi danh sách các nước nghèo, kém
phát triển, và chống tụt hậu xa hơn, thu hẹp dần khoảng cách phát triển so
trường là khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, thực
hiện việc tái sinh tài nguyên và chống ô nhiễm môi trường.
Kinh tế phát triển 48A 3
Mô hình kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
II. Các giai đoạn phát triển kinh tế việt nam
từ năm 1986-2007:
1. Thời kỳ 1986-1990:
Đây được coi là giai đoạn “khởi động” từng bước đổi mới chính sách
kinh tế trên cơ sở đổi mới tư duy kinh tế và tổng kết các thực nghiệm trong
thực tế. Từ đó vạch rõ con đường đổi mới chưa từng được khai phá của một
nền kinh tế chuyển đổi trong điều kiện kinh tế chưa phát triển.
Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) thông qua kế hoạch năm năm
(1986-1990) với các mục tiêu cơ bản; xây dựng và hoàn thiện một bước
quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý; ưu tiên ba chương trình
kinh tế lớn: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu.
Việt Nam tập trung triển khai Ba Chương trình kinh tế lớn: lương thực
- thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu.
+ Bảo đảm nhu cầu lương thực của xã hội và có dự trữ; đáp ứng một
cách ổn định nhu cầu thiết yếu về thực phẩm. Mức tiêu dùng lương thực,
thực phẩm đủ tái sản xuất sức lao động.
+ Đáp ứng nhu cầu của nhân dân về những mặt hàng tiêu dùng.
+ Tạo được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực; tăng nhanh kim ngạch
xuất khẩu để đáp ứng được phần lớn nhu cầu nhập khẩu vật tư, máy móc,
phụ tùng và những hàng hóa cần thiết.
- Với chính sách đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có một bước
chuyển đổi cơ bản từ một nền kinh tế tập trung thành một nền kinh tế thị
Kinh tế phát triển 48A 4
Mô hình kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
trường đầy đủ. Và chính 3 chương trình kinh tế lớn là sự cụ thể hóa nội dung
(Nguồn: VN Economy và Báo cáo kinh tế xã hội 20 năm, 2005)
Kinh tế phát triển 48A 5
Mô hình kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
- Sản xuất nông nghiệp, nhất là lương thực có bước phát triển mới.
Sản lượng lương thực năm 1990 đã đạt 21,5 triệu tấn tăng 18,2% (3,3 triệu
tấn) so 1985, sản lượng lương thực năm 1988 đạt 19,50 triệu tấn (vượt năm
1987 hơn 2 triệu tấn) và năm 1989 đạt 21,40 triệu tấn. Lương thực bình quân
nhân khẩu đạt 325 kg và năm 1989 Việt Nam đã xuất khẩu 1,42 triệu tấn
gạo, đánh dấu thời kỳ chuyển đổi tính chất sản xuất từ tự cung tự cấp sang
sản xuất hàng hoá gắn với xuất khẩu gạo. Sản xuất công nghiệp có bước phát
triển mới. Một số ngành then chốt của nền kinh tế tăng trưởng khá. Đáng
chú ý là sản lượng dầu thô tăng từ 40 nghìn tấn năm 1986 lên 2,7 triệu tấn
năm 1990 tuy nhiên công nghiệp chưa phát triển đúng với tiềm năng hiện có.
Hoạt động thương mại, dịch vụ khôi phục và tăng trưởng khá. Cơ cấu kinh tế
quốc dân chuyển dịch theo hướng tiến bộ.
Bảng tỷ lệ lạm phát năm 1986 – 1990
Năm Tỷ lệ lạm phát
1986 774,5%
1987 360.4%
1988 374.4%
1989 95.8%
1990 67.1%
(Nguồn: VN Economy và Báo cáo kinh tế xã hội 20 năm, 2005)
- Một thành tựu quan trọng nữa là đã bước đầu kiềm chế được đà lạm
phát. Lạm phát đã giảm mạnh từ năm 1986 – 774.5% xuống còn 36.0% năm
1990. Chỉ số tăng giá bình quân hàng tháng trên thị trường năm 1986 là
20%, năm 1987 là 10%, năm 1988 là 14%, thì năm 1989 là 2,5% và năm
1990 là 4,4%. Đây là kết quả tổng hợp của việc thực hiện Ba chương trình
kinh tế và đổi mới cơ chế quản lí, đổi mới chính sách giá và lãi suất, mở
Kinh tế phát triển 48A 6
và trẻ em có nhiều tiến bộ. Tỷ lệ tử vong của trẻ em đã giảm xuống bằng với
mức phổ biến ở những nước có thu nhập đầu người cao gấp 2-3 lần Việt
Nam Tuổi thọ bình quân tăng lên 64 tuổi năm 1990.
*) Đánh giá:
- Thành công trong kế hoạch năm năm 1986 - 1990 không đơn thuần
là phục hồi được sản xuất, kiềm chế lạm phát, tăng trưởng kinh tế mà quan
trọng hơn là đã chuyển đổ cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý
mới, thực hiện 1 bước quá trình đổi mới đời sống kinh tế xã hội và giải
phóng sức lao động.
- Tuy nhiên, các biện pháp đổi mới cơ chế quản lý phần lớn mới chỉ
tác động trong những năm cuối lì kế hoạch năm 1986-1990, nên mức độ
thực hiện các mục tiêu đề ra trong kế hoạch còn hạn chế:
+ Đất nước vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã
hội. Kinh tế phát triển chậm và không ổn định.
+ Hầu hết các cân đối lớn đều rất căng thẳng: thâm hụt ngân sách
chiếm 8% GDP. Lạm phát phi mã tuy đã đẩy lùi nhưng vẫn còn cao.
+ Thu nhập bình quân đầu người rất thấp, tỷ lệ tiết kiệm nội địa hầu
như không đáng kể, thị trường khan hiếm, đời sống nhân dân gặp nhiều khó
khăn.
+ Cơ sở vật chất, kỹ thuật phần lớn xuống cấp nghiêm trọng cả về số
lượng lẫn chất lượng.
Tuy 1 số chỉ tiêu định lượng đạt tháp so với mục tiêu đề ra, nhưng nền
kinh tế đã bắt đầu có những chuyển biến tích cực, đã tạo ra 1 số nhân tố mới
Kinh tế phát triển 48A 8
Mô hình kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
thúc đẩy chuyển biến bước đầu mở ra 1 thời kỳ phát triển mới cho những kế
hoạch năm năm sau.
2. Giai đoạn 1991-2000:
2.1. Chính sách của chính phủ:
Mục tiêu tổng quát của giai đoạn 1991-2000 là “ chiến lược ổn định
quân hàng năm (%)
Trong đó
Nông lâm ngư nghiệp %
Công nghiệp và xây dựng
%
Dịch vụ %
Kim nghạch xuất khẩu (tỷ
USD)
Kim nghạch nhập khẩu
(tỷ USD)
Tiết kiệm so với GDP %
Chỉ số giá tiêu dùng %
4,4
3,1
4,7
5,7
2,4
2,7
8,5
67,1
8,2
4,1
12,0
8,6
5,4
8,1
22,8
12,7
6,9
4,3
tham gia trực tiệp và hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.
- Chúng ta đã khống chế lạm phát trong vòng kiểm soát: chỉ số lạm
phát đo bằng chỉ số giá CPI được khống chế ở mức 67% năm 1990 giảm liên
tục xuống còn 12,7% năm 1995 và -0,6% năm 2000. thành quả này hết sức
quan trọng tạo điều kiện kinh tế vi mô ổn định.
- Nguồn vốn toàn xã hội tăng mạnh bao gồm vốn trong nước và nứoc
ngoài,. nguồn vốn trong nước đã khai thác khá hơn chiếm 60% tống vốn đồu
tư xã hội, trong đó khu cức dân cư và tư nhân đóng vai trò quan trọng.
2.2. Tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội:
* Tăng trưởng kinh tế với giải quyết việc làm và giảm nghèo:
- Trước hết về thu hút lao động. Trong khi số lao động làm việc trong
khu vực nhà nước từ 3,4 triệu người năm 1990 chỉ tăng lên 3,5 triệu người
vào năm 2000 (chỉ tăng 100000 người sau 10 năm), thì tại khu vực ngoài
nhà nước tổng số lao động làm việc tăng hơn 7 triệu người, giảm tỷ lệ thiếu
việc làm ở nông thôn. tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị 6-7%, tỷ lệ thiếu việc làm
ở nông thôn còn dưới 30% và ngày càng giảm đi.
Kinh tế phát triển 48A 11
Mô hình kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
- Giả quyết việc làm là điều kiện quan trọng nâng cao thu nhập thực
hiện xoá đói giảm nghèo. Theo đánh giá cục điều tra mức sống tỷ lẹ hộ
nghèo theo mọi tiêu thức hai giữa hai kỳ điều tra đã giảm hơn một nửa. Tỷ lệ
hộ nghèo theo chuẩn quốc tế năm 1992-1993 là 57% đến năm 2002 chỉ còn
29%. Năm 2000 cả nước còn 2,8 triệu hộ nghèo ( theo chuẩn nghèo Việt
Nam) chiểm 17,2% số hộ trong cả nước trong đó: 9,5% ở thành thị, 28% ở
vùng núi và 62,5% ở vùng nông thôn đồng bằng.
- Mặc dù thu nhập qua các năm đều tăng. Nhưng người giàu có khả
năng tăng thu nhập nhanh hơn người nghèo. Khoảng cách 20% dân cư giàu
nhất và 20% dân cư nghèo nhất từ mức 6-7 lần những năm đầu giai đoạn lên
8-9 l vào năm 2000. chỉ số GINI (0<g<1) phản ánh độ bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập càng gần 1 thì càng bất bình đẳng. Năm 2000 hệ số GINI
Còn nhiều hạn chế và yếu kém: Tiềm lực kinh tế còn non yếu hiệu quả
sản xuất kinh doanh năng lực lao động xã hội thấp, hàng hoá dịch vụ thiếu
tính cạnh tranh. Một số vấn đề xã hội bức xúc, gay gắt cần được giải quyết
như việc làm, tệ nạn xã hội, y tế Nguồn nhân lực tương đối lớn nhưng
chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu của đổi mới.
3.Giai đoạn năm 2001 – 2010:
* Mục tiêu tổng quát của chiến lược 10 năm 2001 - 2010 là:
- Đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời
sống vật chất văn hoá tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thanh nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực
con người, nâng cao khoa học công nghệ kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế,
quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị trường định hướng
Kinh tế phát triển 48A 13
Mô hình kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản vị thế nước ta trên thị trường
quốc tế được nâng cao.
3.1. Kế hoạch 5 năm 2001-2005:
3.1.1. Những thành tựu đạt được:
- Các chỉ tiêu kinh tế của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm
2001-2005 do quốc hội thông qua tại Nghị Quyết quốc hội số
55/2001/QH/10 như sau:
Chỉ tiêu Thời kỳ 1996-2000 Thời kỳ 2001-2005
Tốc độ tăng trưởng
Trong đó:
+ Khu vực nông lâm
thuỷ sản
+ Khu vực công
nghiệp xây dựng
+ Khu vực dịch vụ
6,9
- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 7,5%/năm đạt kế hoạch đặt
ra cao hơn 5 năm trước 0,6 điểm phầm trăm. Trong đó nông, lâm nghiệp,
thuỷ sản tăng 3,8%; khu vực công nghiệp tăng 10,2%; khu vực dịch vụ tăng
7%.
- Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp tăng 5,4% (kế hoạch 4,8%).
- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 16% (kế hoạch là 13,1%).
- Giá trị các nghành dịch vụ tăng 7,6% (kế hoạch 7.5%).
- Tỷ trọng nông lâm ngư nghiệp trong GDP đến năm 2005 đạt 20,89%
(kế hoạch 20_21%); công nghiệp và xây dựng đạt 41,03% (kế hoạch 38-
39%); dịch vụ đạt 38,08% (kế hoạch 41-42%).
Bảng số liệu tỷ trọng các ngành 2001 - 2005
Năm Nông nghiệp (%) Công nghiệp (%)
Dịch vụ
(%)
2001 23,24 38,13 38,63
2002 23,03 38,49 38,48
2003 22,54 39,47 37,99
2004 21,81 40,21 37,98
2005 20,97 41,02 38,01
(Bảng số liệu Tổng cục thống kê, Niêm giám thống kê)
- Cơ cấu kinh tế chuyển theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá. Tỷ
trọng các nghành đã tăng lên đáng kể. Chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông
nghiệp đạt nhiều kết quả.
Kinh tế phát triển 48A 15
Mô hình kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
- Kim nghạch xuất khẩu tăng 17,5% (kế hoạch 14-16%). Đã vượt kế
hoạch đặt ra, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2005 bằng 60% GDP và đạt
390USD/ người. Vốn ODA và FDI liên tục tăng có chuyển biến tích cực góp
phần lớn vào tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này.
- Công tác xoá đói giảm nghèo đạt thành tựu nổi bật, nhiều biện pháp
xoá đói giảm nghèo thực hiện tốt. Người nghèo từng bước tiếp cận với dịch
vụ xã hội cơ bản, cơ sở hạ tầng ở vùng nghèo, xã nghèo được tăng cường
nhất là vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bằng dân tộc thiểu số. Tỷ lệ
hộ nghèo theo chuẩn nghèo nước ta trong giai đoạn 2001-2005 ( Chuẩn
nghèo nước ta năm 2001-2005 100.000 VNĐ/1người/1 tháng ở khu vực
nông thôn, miền núi và 150.000 VNĐ/1người/1tháng khu vực thành thị) đã
giảm hơn một nửa từ 17,5% năm 2001 xuống còn 7% năm 2005. Đời sống
người nghèo nâng cao.
* Thứ ba:Tăng trưởng kết hợp với giáo dục- y tế- văn hoá xã hội:
- Việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có
chuyển biến tích cực.
Chỉ số phát triển con người không ngừng tăng lên:
Năm Chỉ số phát triển con
người
(HDI)
Thứ hạng nước ta
đứng thứ mấy so với
các nước
2001 0,682 101/162
2002 0,688 109/173
2003 0,688 109/175
2004 0,691 112/177
2005 0,704 108/177
- Năm năm giá trị tăng 0.022 (tức 2,22%) vẫn đứng ở mức dưới 100
nước đứng sau nhóm có HDI trung bình. Trong đó tuổi thọ trung binh vào
Kinh tế phát triển 48A 17
Mô hình kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
năm 2005 khoảng 71,3 tuổi đã vượt kế hoạch (kế hoạch 70 tuổi). Đáp ứng
45% thuốc chữa bệnh được sản xuât trong nước cượt kế hoạch đặt ra (kế
- Vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm đạt khoản 40% GDP
* Về xã hội:
- Tốc độ dân số khoảng 1,14%.
- Lao động nông nghiệp chiểm dưới 50% lao động xã hội.
- Tạo việc lào cho trên 80 triệu lao động, tỉ lệ thất nghiệp ở đô thị dưới
5% .
- Tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 10%-11%.
- Hoàn thành phổ cập giáo dục cơ sở, lao động dã qua đào tạo chiếm
40% tổng lao động xã hội.
- Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới năm tuổi xuống dưới 20%.
* Về môi trường:
- Tỷ lệ che phủ rừng 42%-43%
- Tỷ lệ dân cư được sử dụng nước sạch ở đô thị là 95%, ở nông thôn
75%.
- Tỉ lệ các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch
hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải 100% , tỷ lệ các cơ
sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn môi truờng trên 50%. Xây dựng hệ
thống xử lý nước thải tại 100% số đo thị loại 3 trở lên, 50% số đô thị loại 4
và tất cả các khu công nghiệp khu chế xuất , 80%-90% chất thải rắn, 100%
chất thải y tế được thu gom xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường.
Tình hình kinh tế:
•
Tăng trưởng kinh tế:
Kinh tế phát triển 48A 19
Mô hình kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Bảng số liệu tăng truởng nước ta từ năm 2006_2007:
Năm
GDPn danh
nghĩa
GDPr thực
269 trường trung cấp với 14,5 nghìn giáo viên, 468,8 nghìn học sinh, số sinh
viên tốt nghiệp Đại học và Cao đẳng là 230 nghìn người, tốt nghiệp các
trường trung cấp là 149,3 nghìn người. Tổng số người đi học lên tới 23,2
triệu người, bình quân 1 vạn dân có 2841 người đi học, tỷ lệ trẻ em đi học
mẩu giáo khoảng 50%, tỷ lệ người lớn biết chữ tăng từ 88% năm 1993 lên
90,3% năm 2003 và 94 % năm 2006. Bên cạnh hệ công lập, hệ ngoài công
lập cũng có những bước phát triển mạnh để khai thác nguồn lực xã hội, chia
sẻ với nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân.
Tỷ lệ chi phí cho giáo dục ở Việt Nam 2000-2005
2000 2002 2003 2004 2005
Tổng chi cho 23,219 34,088 37,552 54,223 68,968
Kinh tế phát triển 48A 21
Mô hình kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
giáo dục(1000tỷ)
Tỷ lệ chi/GDP(%) 5,3 7,8 6,1 7,6 8,3
Tỷ lệ NS cho
giáo dục/GDP 3,2 4,7 3,7 4,6 5
- Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đạt khoảng 18,25% tổng chi
ngân sách giai đoạn 2001-2006. Tỷ lệ chi phí cho giáo dục/GDP là 8,3%
nhưng do tổng GDP của nước ta rất thấp nên chi phí cho một học sinh ở Việt
Nam vẫn thấp xa so với các nước. Tuy nhiên xét về mặt nào đó thì đó là một
cố gắng lớn của Đảng và nhà nước trong sự nghiệp phát triển giáo dục đào
tạo.
Về y tế:
- Công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân có những tiến bộ đáng kể.
Tuổi thọ bình quân nếu năm 1995 mới đạt 62,5 tuổi thì đến năm 2007 đã đạt
73,3 tuổi. Tuổi thọ tăng do những thành tựu về y tế và chăm sóc sức khoẻ.
Đến năm 2006 số cơ sở khám chữa bệnh là 13232 cơ sở với 198,4 giường
bệnh và hơn 200 nghìn cán bộ y tế, bình quân có khoảng 6,3 bác sỹ trên một
vạn dân. Số hộ ở nông thôn được sử dụng nước sạch đạt tỷ lệ 62%;
ICOR
Việt Nam 2001-2005
2006
2007
2008
37,7%
40%
43%
7,5
8,17
7,48
6,5
5,0
5,01
5,8-6
Kinh tế phát triển 48A 23
Mô hình kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
- Chưa phát triển kinh tế theo chiều sâu, chưa kết hợp thật tốt giữa
tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và chăm lo đúng
mức cho sự phát triển con người khai thác, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và
bảo vệ cải thiện môi trường.
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm và chưa đồng đều chưa phát
huy tốt thế mạnh trong từng nghành từng vùng, từng sản phẩm, cơ cấu dịch
vụ chưa có sự chuyển dịch đáng kể dịch vụ cao phát triển chậm. Trong nông
nghiệp sản xuất chưa gắn kết chặt chẽ cà có hiệu quả cao tới thị trường, ứng
dụng khoa học công nghệ còn chậm, thiếu tính bền vững.
- Tỷ trọng công nghiệp gia công lắp ráp còn lớn; công nghiệp bổ trợ
kém phát triển, tốc độ đổi mới công nghệ còn chậm. Tỷ trọng dịch vụ còn
càng xa. Khoảng dãn cách thu nhập đo bằng Hệ số chênh lệch về thu nhập
Kinh tế phát triển 48A 25