Lời mở đầu
Vốn là điều kiện hàng đầu của tăng trởng của mọi quốc gia. Đối với Việt
Nam để đạt đợc tốc độ tăng trởng cao và ổn định cần phải có một khối lợng
vốn rất lớn. Vì thế trong bối cảnh nền kinh tế còn kém phát triển, khả năng
tích luỹ thấp thì việc tăng cờng huy động các nguồn vốn nớc ngoài để bổ xung
cho tổng vốn đầu t phát triển có ý nghĩa rất quan trọng, trong đó phải kể đến
vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI). FDI có vai trò hết sức quan trọng, nó là
nguồn bổ xung vốn cho đầu t, là một cách để chuyển giao công nghệ, là một
giải pháp tạo việc làm và thu nhập cho ngời lao động, tạo nguồn thu cho ngân
sách và thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Nhận thức đúng vị trí và vai trò to lớn của FDI, chính phủ Việt Nam đã ban
hành chính sách khuyến khích đầu t nớc ngoài vào Việt Nam, đồng thời tạo
mọi diều kiện thuận lợi cho các nhà đầu t nớc ngoài vào Việt Nam. Chúng ta
thực hiện đa dạng hoá và đa phơng hoá hợp tác đầu t với nớc ngoài hai bên
cùng có lợi. Việt Nam coi vấn đề huy động và sử dụng có hiệu quả FDI trong
tổng thể chiến lợc tăng trởng và phát triển kinh tế ở nớc ta hiện nay là một
trong những nhiệm vụ chiến lợc trọng yếu nhất. Nó góp phần thực hiện có hiệu
quả kế hoạch 5 năm (2001-2005), là bớc mở đầu quan trọng trong việc thực
hiện chiến lợc phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2001-2010 chiến lợc đẩy
mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Nhận thấy vai trò quan trọng của việc đầu t trực tiếp nớc ngoài ở Việt
Nam em đã mạnh dạn chọn đề tài: Những biện pháp cơ bản gia tăng việc
thu hút vốn đầu t trực tiếp đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế Việt Nam
thời kỳ 2001-2005.
Trong bài viết này em xin đợc trình bày những vấn đề sau:
Chơng I: Tổng quan về đầu t trực tiếp nớc ngoài
Chơng II: Thực trạng của thu hút FDI đến phát triển kinh tế Việt Nam
thời kỳ 1996-2000
có thể đợc huy động từ trong nớc cũng nh có thể đợc huy động từ nớc
ngoài.Trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế đợc đẩy mạnh nh thời đại
ngày nay thì vốn nớc ngoài ngày càng phổ biến và có vai trò không nhỏ. Mặc
dù đứng về lâu dàI thì vốn trong nớc luôn đóng vai trò quyết định. Vốn đầu t đ-
ợc sử dụng để phục vụ cho một mục đích nhất định căn cứ vào những tiêu thức
nhất định ngời ta có thể phân chia đầu t thành nhiều loại trong đó có đầu t trực
tiếp nớc ngoài .
Đầu t trực tiếp là đầu t trong đó ngời bỏ vốn trực tiếp tham gia điều hành
qui trình thực hiện và có thể quyết định toàn bộ hoạt động nếu là xí nghiệp
100% vốn của mình hoặc tham gia quyết định nếu là xí nghiệp liên
doanh.Trong đầu t trực tiếp ngời có vốn có thể bỏ vốn vào để làm tăng thêm
năng lực sản xuất mới song cũng có thể mua lại một số cổ phần để hy vọng
đợc lợi tức cổ phần .
Trong đầu t trực tiếp ngời có vốn bỏ ra có thể là ngời trong nớc mà cũng
có thể là ngời nớc ngoài. Trong trờng hợp vốn và ngời có vốn là ngời nớc ngoài
thì hoạt động đầu t trực tiếp đó là đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Nh vậy đầu t trực tiếp nớc ngoài là đầu t trực tiếp do nguồn vốn từ nớc
ngoài mà chủ thể của nó là t nhân hay nhà nớc hoặc các tổ chức quốc tế đợc n-
ớc chủ nhà cho phép đầu t vào những ngành hoặc những lĩnh vực nào đó của
một nớc nhằm thực hiện mục tiêu nhất định.
ở Việt Nam, văn bản pháp luật đầu tiên về đầu t trực tiếp nớc ngoài là
điều lệ về đầu t nớc ngoài kèm theo nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977. Điều
lệ này không nêu định nghĩa cụ thể về đầu t trực tiếp nớc ngoài nhng trong t t-
ởng của các quy phạm thì khái niệm đầu t trực tiếp nớc ngoài cũng giống nh
khái niệm đợc ghi nhận sau này trong luật đầu t nớc ngoài năm 1987: Đầu t
trực tiếp nớc ngoài là việc tổ chức, nhân nớc ngoàI trực tiếp đa vào Việt Nam
vốn bằng tiền nớc ngoài hoặc bằng bất kỳ tài sản đợc Chính Phủ Việt Nam
chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp
liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nớc ngoài.
3
ngoài thích bỏ 100% vốn đầu t.
- Giúp cho nhà đầu t nớc ngoài dễ chiếm lĩnh thị trờng tiêu thụ và nguồn
cung cấp nguyên liệu của nớc chủ nhà.
- Tránh đợc hàng rào bảo hộ mậu dịch vì thông qua đâù t trực tiếp mà họ
tạo đợc các xí nghiệp nằm bên trong lòng các nớc thi hành chính sách bảo
hộ mậu dịch.
* Về phía nớc tiếp nhận đầu t.
- Giúp tăng cờng khai thác vốn của từng chủ đầu t nớc ngoài. Nhiều nớc
thiếu vốn trầm trọng nên đối với hình thức đầu t trực tiếp không quy định mức
đóng góp tối đa của mỗi chủ đầu t, thậm chí đóng góp càng nhiều càng đợc h-
ởng các chính sách u đãi về thuế của nớc chủ nhà .
4- Giúp tiếp thu đợc công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý kinh doanh
của các chủ đầu t nớc ngoài.
- Nhờ có vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài cho phép nớc chủ nhà có điều kiện
khai thác tốt nhất những lợi thế của mình về taì nguyên, vị trí, mặt nớc
1.3. Một số hạn chế của đầu t trực tiếp nớc ngoài .
Bên cạnh những u điểm thì hình thức đầu t trực tiếp nớc ngoài cũng có
những hạn chế nhất định:
- Nếu đầu t vào môi trờng bất ổn định về kinh tế và chính trị thì chủ đầu t
dễ bị mất vốn.
- Nếu nớc chủ nhà không có một quy hoạch đầu t cụ thể và khoa học dẫn
tới sự đầu t tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức
và nạn ô nhiễm môi trờng nghiêm trọng. Vì hiện nay ở các nớc t bản phát triển
thực hiện sự kiểm soát gắt gao những dự án gây ô nhiễm môi trờng, nên xu thế
nhiều nhà t bản nớc ngoài đã và đang chuyển giao những công nghệ độc hại
sang các nuức kém phát triển.
- Mục đích của nhà đầu t là lợi nhuận nên họ chỉ đầu t vào nơi có lợi nhất.
khối lợng vốn đầu t ra nớc ngoài của các công ty xuyên quốc gia chiếm khoảng
80% tổng vốn đầu t nớc ngoài trên toàn thê giới. Đây là sự thay đổi trong chiến
lợc phát triển của các công ty xuyên quốc gia. Trớc xu thế xu thế hoá nền kinh
tế thế giới trong những năm gần đây các công ty xuyên quốc gia đă đặc biệt tập
trung vào chiến lợc cắm rễ ở nớc ngoài nhằm phát triển các mạng lới khu vực
trên qui mô lớn.
Tình hình trên đây có những lí do chủ yếu sau:
- Sự phát triển các phơng tiện giao thông liên lạc, kỹ thuật bán dẫn đã đạt
tới trình độ cho phép các chủ đầu t có thể nắm bắt kịp thời chuẩn xác các thông
tin cần thiết để có thể ra các quyết định hợp lý, hạn chế đợc các tổn thất cho
phép và rủi ro trong kinh doanh. Điều này cho phép các chủ thể đầu t có thể
điều hành hoạt động kinh doanh của họ ở khắp mọi nơi trên thế giới một cách
nhanh chóng và chính xác. Sự phát triển cho phép các chủ đầu t cung cấp hàng
hoá, dịch vụ đúng hạn, đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trờng.
- Thể chế chính trị, kinh tế, xã hội của nhiều quốc gia trong những thập kỷ
qua đã có những thay đổi phù hợp với nền kinh tế thị trờng mở cửa, với các
thông lệ quốc tế bảo đảm đợc các lợi ích của chủ đầu t nớc ngoài.
- Tình hình an ninh quốc tế ngày càng có xu hớng ổn định hơn nhất là sau
chiến tranh lạnh. Thế giới đã chuyển từ trạng thái đối đầu sang đối thoại hoà
bình hợp tác, xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá ngày càng phát triển
* Tác động kinh tế của FDI:
- Tạo nguồn vốn bổ xung quan trọng
- Chuyển giao công nghệ
- Thúc đẩy tăng trởng kinh tế
- Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
II. Lý luận về vốn FDI cho phát triển kinh tế ở Việt Nam
1. Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đóng vai trò quan trọng cho phát
triển kinh tế ở Việt Nam.
Việt Nam cũng nh hầu hết các nớc đang phát triển, trong giai đoạn đầu của
sự phát triển kinh tế, do mức thu nhập thấp nên khả năng tiêu dùng và tích luỹ
thiết bị đa vào nớc ta thuộc loại trung bình thế giới nhng vẫn tiên tiến hơn
những thiết bị hiện có của ta. Một số công nghệ chuyển giao trong lĩnh vực dầu
khí, viễn thông thuộc loại hiện đại của thế giới. Đây là sự đóng góp khá quan
trọng của FDI tại Việt Nam, góp phần nâng cao chất lợng sản phẩm đa dạng
mẫu mã, từ đó nâng cao kim ngạch xuất khẩu, cải thiện môi trờng lao động.
Ba là:Bớc đầu tạo ra một số công ăn việc làm, góp phần giải quyết khó
khăn về việc làm cho ngời lao động. Tính đến năm 1997,các xí nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài đã tạo việc làm trực tiếp cho hơn 13 vạn lao động và hơn 10 vạn
lao động gián tiếp phục vụ cho hợp tác đầu t. Đồng thời đã thu hút hơn 4000
cán bộ Việt Nam làm việc trong các xí nghiệp này. Nhiều cán bộ đã phát huy đ-
ợc năng lực, vơn lên đảm nhiệm đợc những công việc quan trong, có uy tín đối
với các đối tác bên ngoài. Sự đóng góp này tuy còn nhỏ bé song lại đáng quý
trong điều kiện đang thiếu nhiều việc làm ở nớc ta.
Bốn là: Tăng thêm nguồn thu từ xuất khẩu, dịch vụ thu ngoại tệ và đóng
góp vào thu ngân sách nhà nớc. Trong suốt thời kỳ 1988-1996 đã tạo ra hơn 2
tỷ USD giá tri sản lợng hàng hoá và dịch vụ đóng góp hơn 2tỷ đồng cho ngân
sách. Tuy nhiên con số trên còn nhỏ bởi vì trong giai đoạn này khoảng 30% các
dự án đầu t đang trong thời gian đợc miễn thuế.
72.Vai trò và ý nghĩa của FDI tại Việt Nam.
Thực hiện hoạt động đầu t trên thế giới cũng nh ở Việt Nam đã cho thấy
đầu t trực tiếp nớc ngoài có vai trò hết sức to lớn đối với nớc tiếp nhận đầu t đặc
biệt là ở những nớc đang phát triển.
Ngày nay do vai trò quan trọng của FDI nên các nớc đang phát triển và cả
những nớc phát triển đều ra sc cạnh tranh để thu hút FDI.
Trớc hết FDI đóng vai trò là nguồn cung cấp vốn lớn, góp phần giải quyết
tình trạng thiếu vốn đầu t- một căn bệnh kinh niên và phổ biến của bất kỳ một
quốc gia chậm phát triển nào, ở Indonesia sau khi ban hành luật đầu t nớc ngoài
tiêu chuẩn kỹ thuật. ở Trung Quốc có luật quy định về giới hạn khoảng chênh
8lệch giữa thời gian sản xuất máy móc với thời gian nhập máy móc đó vào
Trung Quốc.
Cũng phải kể đến một xu hớng nữa trong đầu t trực tiếp nớc ngoài là trong
nhiều trờng hợp các nớc phát triển cần mang vaò nớc chậm phát triển những
công nghệ tiên tiến hơn cả nớc mình. Ví dụ ở Nhật Bản, do đồng yên
tăng giá nên ngày càng nhiều các công ty Nhật Bản mang nhiều công nghệ
tiên tiến ra nớc ngoài để sản xuất hàng hoá rồi nhập khẩu trở lại Nhật Bản
nhằm thu lợi nhuận cao.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài cũng có vai trò là một hình thức đào tạo giúp các
nớc tiếp nhận đầu t kiến thức sử dụng công nghệ hiện đại và học tập kinh
nghiệm quản lý của nớc ngoài trong sản xuất kinh doanh, nâng cao trình độ sản
xuất kinh doanh của đất nớc, hoà nhập vào sự phân công lao động quốc tế.
Hơn thế nữa, đầu t trực tiếp nớc ngoài còn góp phần đào tạo một đội ngũ
công nhân có trình độ kỹ thuật cao. Bên cạnh đó đầu t trực tiếp nớc ngoài có vai
trò rất quan trọng trong việc tạo ra công ăn việc làm, hạn chế tình trạng thất
nghiệp, nâng cao mức thu nhập cho ngời lao động.
ở Việt Nam, số lao động ngời Việt Nam làm việc trong các xí nghiệp có
vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đã tăng từ 65000 năm 1994 lên 90000 vào cuối
năm 1995. Ngoài ra đầu t trực tiếp nớc ngoài còn gián tiếp tạo việc làm và thu
nhập cho hàng chục vạn lao động làm các công ty dịch vụ có liên quan. Về cơ
bản, tiền lơng đợc giải quyết phù hợp với quy định, cao hơn mức lơng của các
doanh nghiệp cùng loại thuộc các thành phần kinh tế khác.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài có vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với
sự phát triển kịnh tế của các nớc tiếp nhận đầu t. Ngời Malayxia nhận xét rằng:
Trong một chừng mực nhất định đầu t trực tiếp nớc ngoài từ chỗ là nhân tố bên
ngoàichuyển thành nhân tố bên trongquyết định phần lớn thị trờng kinh tế,
ngắn con đờng hội nhập khu vực và thế giới đó là mở rộng và thu hút FDI.
10Chơng II
Thực trạng thu hút FDI cho phát triển
kinh tế Việt Nam giai đoạn 1996-2000
I. Đánh giá chung về vốn FDI ở Việt Nam thời kỳ 1996-2000.
1. Thực trạng thu hút vốn FDI trong giai đoạn 1996-2000.
1.1. Qui mô vốn FDI thực hiện
Trong giai đoạn này, do khủng hoảng kinh tế khu vực nên việc thu hút các
nguồn vốn nớc ngoài nói chung và vốn FDI nói riêng đều giảm sút. Điều này
thể hiện qua bảng sau:
Tình hình thu hút vốn FDI giai đoạn 1996-2000.
1996 1997 1998 1999( ớc) 1996-
2000 (ớc)
Số DA cấp giấy phép 368 331 260 230
1189
Vốn đăng ký(tr.USD) 8640 4514 4059 3190
20403
Vốn thực hiện(tr.USD) 2646 3250 1956 1500
9352
Tỉ lệ vốn TH/vốn ĐK 30,6 71,9 48,1 47,0
45,8
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu t
Nhìn vào bảng trên có thể thấy, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á
tháng 7/1997 đã tác động đến FDI vào Việt Nam. Sau thời kỳ luồng vốn FDI
đạt bình quân 2 tỷ USD hàng năm, trong giai đoạn 3 năm trớc 1997,vốn FDI
thực hiện năm 1998dã giảm 40% so với năm 1997 và năm 1999 đã giảm
khoảng 23% so với năm 1998. Sự giảm sút này nhiều nhất từ các nhà đầu t
Trong đó: Nông lâm nghiệp 6,3
Thuỷ sản 0,6
Dịchvụ 31,6
Trongđó: Khách sạn du lịch 10,7
Dịch vụ 0,2
Xây dựng văn phòng, căn hộ 9,4
Xây dựng hạ tầng khu công nghiệp 3,3
GTVT và bu điện 2,9
Văn hoá- y tế- giáo dục 1,0
TàI chính, ngân hàng 3,4
Tổng 100
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu t.
Qua bảng này có thể nhận thấy:Tỷ lệ FDI đầu t vào các ngành công nghệ
thực phẩm đã giảm từ 7,8% năm 1991-1995 xuống còn 4,8% năm 1996-1999.
Ngợc lại tỷ lệ FDI đầu t vào lĩnh vực khách sạn,du lịch lại có xu hớng tăng lên
từ 2,9% (giai đoạn 1991-1995) lên 10,7% (giai đoạn 1996-2000).
+ Cơ cấu FDI đầu t theo vùng kinh tế: Nhìn chung,cơ cấu FDI theo vùng
kinh tế vẫn cha đợc cải thiện, FDI lại chủ yếu đớc thu hút vào ba vùng kinh tế
trọng điểm. Trong ba vùng đó, FDI lại chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn
nh : Hà Nội, Đà Nẵng, T.P.H.C.M. Còn các tỉnh khác đặc biệt là các tỉnh miền
núi và Tây Ngyên vẫn còn quá ít các dự án đầu t bằng FDI. Điều này sẽ tiếp tục
12gây ra sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các vùng kinh tế, giải quyết việc làm
và xoá đói giảm nghèo.
1.3. Về đối tác đầu t nớc ngoài.
+ Đầu t trực tiếp của các nớc ASEAN ở Việt Nam:
- Số lợng dự án và vốn đầu t.
muốn chia sẻ rủi ro với các đối tác Việt Nam .Tuy nhiên, gần đây do các nhà
đầu t ASEAN đã quen với môi trờng đầu t của Việt Nam nên tỷ lệ dự án 100%
vốn nớc ngoài tăng lên và hình thức liên doanh giảm dần. Hình thức hợp doanh
13vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số dự án.Dữ liệu bảng 1 cho thấy, số dự án lớn
trên 50 trUSD còn cha nhiều, chỉ có 32 dự án, chiếm 9,9% tổng số dự án của
ASEAN tại Việt Nam.Số dự án còn lại đợc phân làm tỷ lệ ngang nhau giữa quy
mô trung bình (146 dự án) và quy mô nhỏ (144 dự án). Mặt khác đối với hình
thức xí nghiệp 100% vốn nớc ngoài và hợp doanh thì loại dự án quy mô nhỏ
chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm 51,8% và 63,2% theo thứ tự. Trong khi đó, loại dự
án quy mô trung bình lại chiếm tỷ lệ cao, 48,2% trong hình thức liên doanh.
Đặc điểm này phản ánh các nhà đầu t ASEAN muốn chia rủi ro với các đối tác
Việt Nam.
Đến tháng 6/1998, tổng số vốn thực hiện của các dự án đầu t trực tiếp của
các nớc ASEAN ở Việt Nam mới đợc 3007 tr USD, đạt mức bình quân 31,9%.
Trong đó các dự án đầu t của Malaixia có tỷ lệ giải ngân cao nhất, đạt 78,2%.
Các nớc còn lại đều ở mức thấp dới 50%, trong đó đặc biệt là Singapo chỉ đạt
20,5%. Nh vậy so với tỷ lệ chung giũa vốn thực hiện trên tổng số vốn FDI trong
cả nớc, tỷ lệ vốn FDI thực hiện của ASEAN còn khá thấp so với 39,5% mức
bình quân chung của cả nớc. (Xem bảng 2).Các con số của bảng 2 phản ánh
khá rõ tốc đọ giải ngân của các dự án đầu t trực tiếp ASEAN không đều qua các
năm.
Bảng 2 : Vốn thực hiện của các dự án đầu t trực tiếp ASEAN ở Việt Nam
(tính đến tháng 6/1998) Đơn vị: 1000USD
Năm Xingapo Malaixia TháI Lan Inđonexia Philipin Tổng
1995 323.196 178.940 78.525 14.641 19.714 615.016
1996 169.674 147.687 72.288 10.921 9.291 409.861
1997 498.390 237.042 197.544 41.608 35.406 1.009.990
Nói cách khác, mức độ đảm bảo vốn từ nguồnFDI còn tháp so với kế hoạch đề
ra.
- Cơ cấu đầu t FDI tuy có cải thiện so với thời kỳ 1991-1995 nhng vẫn mất
cân đối lớn giữa các ngành và các vùng. Những năm gần đây, ít có đầu t vào
công nghiệp chế biến, đặc biệt là chế biến nông sản, còn xu hớng đầu t vào nhà
hàng, khách sạn và kinh doanh du lịch- những lĩnh vựccó khả năng thu hồi vốn
nhanh vẫn tỏ ra chiếm u thế.
Thực trạng thu hút FDI trong thời gian qua nh đã phân tích ở trên là do
những nguyên nhân chủ yêú sau:
+ Các nguyên nhân khách quan:
Do khủng hoảng kinh tế trong khu vực bắt đầu từ tháng 7/1997 đã tác động
rất lớn dến luồng FDI vào nớc ta. Vốn đầu t từ các nớc Đông á vào Việt Nam
chiếm khoảng 25%, riêng Hàn Quốc chiếm 12,03%. Do khủng hoảng, các nớc
này gặp căng thẳng về tài chính, thiếu vốn, khố khăn thị trờngkhiến họ phảI
hạn chếđầu t ra nớc ngoài, trong đó có Việt Nam. Khủng hoảng sẽ làm cho Việt
Nam khó khăn và chậm chễ hơn trong vấn đề giảI ngân vốn nớc ngoài. Do đó,
các chủ đầu t sẽ trì hoãn, thu hẹp, thậm chí từ bỏ ý định thực hiện các cam kết
đầu t.
Khủng hoảng cũng làm mất ổn định môI trờng đầu t của khu vực, khiến
các nhà đầu t phơng tây cũng e ngại, dè chừng. Do đó vốn FDI đổ vào khu vực
này sẽ ít hơn trớc và VIệt Nam cũng không nằm ngoài ảnh hởng đó.
Do Việt Nam còn đang trong giai đoạn hội nhập vào khu vựcvà thế giới
nên nhiều hoạt động của ta cha phù hợp với thông lệ quốc tế. Điều đó khiến
VIệt Nam cha đợc hởng nhiều điều kiện u đãi nh nhiều nớc láng going khác
khi xuất khẩu sang thị trờng Châu Âu và Bắc Mỹ. Đây là một trở ngại lớn đối
với các nhà đâu t khi muốn bỏ vốn vào lĩnh vực làm hàng xuất khẩu, vì khi xuất
khẩu phải chịu thuế suất cao, khó có thể cạnh tranh đợc với hàng hoá của các n-
ớc thành viên ASEAN khác.
Tình hình thế giới có nhiều biến đổi, làm xuất hiện nhiều thị trờng thu hút
vốn FDI mới và lớn trong khi Việt Nam đang trong giai đoạn tìm kiếm các đối
kém cụ thể là:
Đóng góp cho nền kinh tế theo số liệu do Bộ KH và ĐT công bố cho đến
hết tháng 10/2000 tổng số vốn FDI đa vào thực hiện (không kể phần vốn góp
trong nớc) đạt khoảng 10 tỷ USD( theo giá năm 1995) gấp 1,5 lần so với 5 năm
trớc. Tổng FDI cấp mới và bổ sung đạt 24,6 tỷ USD tăng so với thời kỳ trớc
34%. Cơ cấu thu hút vốn FDI ngày càng phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của nớc ta. Tỷ lệ vốn FDI thu hút vào lĩnh vực sản xuất vật chất, kết
cấu hạ tầng tăng từ 62% năm 1995 lên 85%vào năm 2000.
FDI từ các nớc thuộc liên minh Châu Âu, ASEAN có chiều hớng tăng lên
hơn 5 năm trớc (tỷ lệ vốn đăng ký của các dự án từ EU bìng quân chiếm 23,2%
thời kỳ 91-95 tăng lên 25,8% thời kỳ 1996-2000)
Tỷ lệ vốn đăng ký các dự án từ các nớc ASEAN đã tăng lên tơng ứng từ
17,3% lên 29,8%. Riêng các nớc thuộc EU, Mỹ, Nhật Bản chiếm 44% tổng vốn
đăng ký tại Việt Nam.
16Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đã tạo ra 34% giá trị sản xuất
toàn ngành công nghiệp, khoảng 23%kim ngạch xuất khẩu (cha kể dầu khí) và
đóng góp trên 12% GDP của cả nớc.
Tạo công ăn việc làm cho ngời lao động, khu vực có vốn đầu t nớc ngoài
đã thu hút trên 35 vạn lao động trực tiếp và hàng chục vạn lao động gián tiếp
làm việc trong các ngành xây dựng,thơng mại, dịch vụ liên quan. Góp phần
quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ công nghệ, trình
độ quản lý và mở rộng thị trờng.
II. VAI TRò của vốn FDI trong quá trình phát triển kinh
tế ở Việt Nam thời gian qua.
1.Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tăng cờng xuất khẩu tăng thu
cho ngân sách.
Kể từ khi Việt Nam bắt đầu thu hút FDI, cán cân thanh toán có những cải
giải quyêt mọi yêu cầu phát triển kinh tế và cải thiện đời sống đất nớc. Từ đó
tiến hành điều chỉnh cơ cấu kinh tế hạn chế bớt sự phát triển của công nghiệp
nặng bằng cách thu hẹp để tập trung nhiều hơn vào phát triển nông nghiệp và
công nghiệp nhẹ nhằm giải quyết vấn đề lơng thực, thực phẩm hàng tiêu dùng
và hàng xuất khẩu. Từ đó tạo tiền đề để thực hiện nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần. Ngoài ra cơ cấu lãnh thổ cũng đợc kết cấu lại theo hớng u tiên đối
với các vùng trọng điểm để phát triển mạnh hơn tạo nên những mũi nhọn về
kinh tế thúc đẩy sự tiến bộ của các vùng khác.
FDI có tác động đáng kể đến chuyển dịch cơ cấu ngành lãnh thổ theo hớng
CNH, đặc biệt khuyến khích đầu t vào các ngành công nghiệp trọng điểm có ý
nghĩa quyết định đối với việc thực hiện 3 chơng trình kinh tế lớn. Qua các năm
đầu t theo ngành có sự chuyển dịch ngày càng phù hợp với yêu cầu xây dựng cơ
cấu cuả thập kỷ 90.
Trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng cũng nhờ có FDI mà tổng công ty bu chính
viễn thông mới có đợc hệ thống thông tin liên lạc viễn thông qua vệ tinh thuộc
loại hiện đại trên thế giới, các tuyến đờng quốc lộ, hạ tầng các khu chế xuất
ngày nay hiện đại
4. Tác động đến chuyển giao công nghệ
Một trong những mục tiêu chủ yếu của thu hút FDI là thực hiện việc
chuyển giao công nghệ mới vào Việt Nam.
Phải thừa nhận rằng trang thiết bị về khoa học công nghệ của nớc ta quá
lạc hậu so với thế giới. Trong công nghiệp đa số máy móc thiết bị thuộc loại cũ
của những năm trớc năm 50, 60, nhiều máy móc đã khấu hao xong tới vài lần,
trang bị không đồng bộ nên năng suất thấp. Chính vì vậy việc thực hiện một số
chính sách đa dạng hoá các nguồn tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ nớc
ngoài vào, đặc biệt là thông qua FDI tất yếu sẽ có vị trí quan trọng.
Đứng về lâu dài đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với các nớc tiếp nhận
đầu t. FDI có thể thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật, góp phần tăng năng suất của các
yếu tố sản xuất, thay đổi cấu thành của sản phẩm và xuất khẩu thúc đẩy
phát triển các nghề mới đặc biệt là những nghề đòi hòi hàm lợng công
- Thủ tục phê duyệt dự án rờm rà phải qua nhiều cấp hành chính, nhiều cơ
quan chức năng. Ngoài ra nh đã nói trên việc thiếu chiến lợc cơ cấu và quy
hoạch đầu t tổng thể đợc luận chứng rõ ràng cũng làm chậm trễ hơn nữa quy
trình phê duyệt và thẩm định tính hiệu quả của dự án đề xuất.
- Các tiêu chuẩn đối xử (u đãi hoặc không u đãi) cho các đối tắc nớc ngoài
trong các quan hệ vơí các nhà kinh doanh bản địa trong nhiều trờng hợp có sự
phân biệt đối xử không dựa theo nguyên tác thị trờng. Nói chung các đối tác n-
ớc ngoài có nhiều u đãi theo luật so với nhà đầu t trong nớc đặc biệt là về thuế.
Song bên cạnh đó họ cũng phải đối đầu với nhiều quy chế mang tính phân biệt
(giá các dịch vụ, lơng công nhân) trong khi đó, nguyên tắc cần thiết là không
nên có những u đãi đặc biệt cùng sự phân biệt đối xử với các chủ đầu t.
Nhìn chung lại thể chế pháp lý đối với ĐTNN ở nớc ta cha cấu thành hệ
thống đồng bộ. Nghĩa là môi trờng pháp lý cha thuần nhất và thuận lợi. Nhân
lõi của tình trạng này là cơ cấu pháp luật hành chính của Việt Nam cha
hoàn toàn tơng thích với cơ cấu của nền kinh tế. Vì thế nó gây ra những trở
ngại cho tất cả các nhà đầu t trong đó có cả nhà đầu t nớc ngoài.
2. Những hạn chế của quá trình thực hiện.
Mặc dù tầm quan trọng thiết yếu của ĐTNN đã đợc thừa nhận và những
chuyển động mới của ĐTNN ở Việt Nam đã thể hiện đờng lối mở rộng nhất
19quán của Đảng và Nhà nớc ta, nhng cũng có nhiều vấn đề nảy sinh làm ngời ta
lo ngại . Những cái gọi là mặt tráI của FDI thờng bị lên án là sự cạnh tranh
mạnh mẽ của các nhà FDI với các nhà sản xuất trong nớc.
Những gian lận của các nhà đầu t trong quá trình thực hiện hợp đồng sản
xuất kinh doanh, nhập khẩu máy móc thiết bị những, căng thẳng trong quan hệ
lao động ở các xí nghiệp có vốn FDI một số nhà FDI cha hết than phiền về
tình trạng yếu kém của cơ sở hạ tầng, môI trờng đầu t kém dần tính cạnh tranh
so với các nớc khác trong khu vực.
học công nghệ không đồng bộ đã bị giải thể.
202.4 Về kỹ thuật công nghệ và kinh nghiệm quản lý.
Đây là mục tiêu ta đa ra khi tiến hành đầu t. Tuy đã có nhiều chuyển biến,
song do thiếu hiểu biết cha có sự hớng dẫn của các cơ quan quản lý vĩ mô nên
việc chuyển giao công nghệcòn tồn tại những vấn đề tiêu cực, có nhiều
trờng hợp nhập thiết bị cũ kĩ thiếu đồng bộ giá cả bị đẩy lên ít nhấtlà 20%.
Khi khảo sát việc chuyển giao công nghệ của 726 xí nghiệp liên doanh thuộc
công nghiệp nhẹ ở Việt Nam thì có khoảng 80% công nghệ đã bị hao mòn vô
hình đợc tân trang lại. Nh đã đề cập mục tiêu thu hút vốn đầu t là tranh thủ kỹ
thuật công nghệ mới, nâng cao trình độ, trang thiết bị của nền kinh tế đất nớc,
nhng trong quá trình thực hiện thì về mặt công nghệ hiện đại cha có tiến bộ rõ
rệt với nền kinh tế quốc dân .
Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số vấn đề làm chậm quá trình thực hiện
nh về bộ máy quản lý đầu t nớc ngoài và đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý
đầu t về vấn đề môi trờng, hệ thống ngân hàng và đặc biệt là thủ tục đầu t nớc
ngoài còn rờm rà gây rất nhiều phiền toái cho các nhà đầu t.
Tất cả các vấn đề trên đòi hỏi một mặt phải sửa đổi, bổ xung hoàn thiện
hơn nữa hệ thống pháp luật đầu t nớc ngoài, đồng thời phải giảm tới mức tối
thiểu những hạn chế ảnh hởng đến thực hiện luật đầu t trực tiếp nớc ngoài nhằm
tạo ra môi trờng đầu t hấp dẫn, thuận lợi thu hút có hiệu quả FDI vào nớc ta .
21 Chơng III
Một số biện pháp nhằm thu hút FDI đáp ứng
nhu cầu phát triển kinh tế Việt Nam thời kỳ
doanh nghiệp t nhân đầu t chiếm 24-25%, FDI theo tính toán và dự báo dự kiến
đa vào thực hiện chiếm 16-17%.
22Toàn bộ nguồn vốn bên ngoàI có thể thu hút cho đầu t là18-20 tỷ USD
trong đó:
- Dự báo về ODA: TRong 5 năm tới, khả năng thực hiện nguồn vốn ODA
khoảng 10-11 tỷ USD, bao gồm cả các dự án có vốn ODA đợc hợp thức hoá
bằng việc các hiệp định vay vốn nhng cha giaỉ ngân và các khoản có thể cam
kết trong thời gian tới.
- Dự báo về FDI: Dự kiến vốn FDI đợc thực hiện trong 5 năm tới khoảng 9-
10 tỷ USD, bao gồm vốn các dự án đã đợc cấp phép cha đợc thực hiện của các
năm trớc; vốn thực hiện các dự án cấp phép mới và vốn bổ xung các dự án đã
thực hiện.
Ngoài ra còn có khả năng thu hút vốn đầu t nớc ngoài khác khoảng 1-2 tỷ
USD thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu ra nớc ngoài, mở thị trờng chứng
khoán và tìm thêm các nguồn vay khác để đầu t trung và dài hạn.
II. Phơng hớng để thu hút FDI cho phát triển kinh tế
VIệt Nam thời kỳ 2001-2005
Để đáp ứng nhu cầu FDI đã nêu ở trên chúng ta phải tăng cờng khai thác
nguồn vốn này theo các phơng hớng sau:
1. Mở rộng quan hệ với các đối tác đầu t nớc ngoài.
Hiện nay vốn FDI vào Việt Nam chủ yếu từ các nớc NIC
s
và Đông á, các
nớc ASEAN và Nhật Bản. Các nớc này cung cấp khoảng 3/4 tổng số vốn
FDI vào Việt Nam, các nớc Châu Âu đặc biệt là Mỹ còn có luồng vốn FDI vào
Việt Nam quá nhỏ bé. Vì vậy trong thời gian tới cần tiếp tục duy trì quan hệ với
và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA. Đẩy mạnh huy động nguồn vốn
trong dân.
- Đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá các doanh ngiệp nhà nớc. Cổ phần hoá
sẽ cho phép các doanh nghiệp mở rộng nguồn tài chính để góp phần liên doanh
với các công ty nớc ngoài thay vì chủ yếu dựa vào giá trị quyền sử dụng đất nh
hiện nay. Cổ phần hoá cũng tạo điều kiện nâng cao trình độ của đội ngũ quản lý
giúp họ sẵn sàng tham gia vào bộ máy quản lý của xí nghiệp liên doanh.
- Nâng cao hiệu quả của các khu công nghiệp. Cần chú trọng công tác qyu
hoạch, đặt các khu công nghiệp ở những nơi có cơ sở hạ tầng và môi trờng kinh
doanh thuận lợi có khả năng hấp dẫn chủ đầu t nớc ngoài.
III. Những BIệN pháp cơ bản để thu hút vốn FDI cho phát
triển kinh tế Việt Nam thời kỳ 2001-2005.
1. Tiếp tục đổi mới chính sách tăng cờng thu hút FDI vào Việt Nam.
Về chính sách đất đai: Cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đất đai,phục vụ
cho dự án có vốn đầu t nớc ngoài đặc biệt là tiếp tục ban hành các văn bản dới
luật, cụ thể hoá ba quyền của nhà đầu t nớc ngoài tại Việt nam về đất đai :
Quyền chuyển nhợng, quyền cho thuê và quyền thế chấp. Đây là ba quyền cần
thiết cần đợc tiếp tục nghiên cứu và thể chế hoá để hoạch định chính sách về
đầu t nớc ngoài tại Việt Nam.
Thực hiện chính sách đất đai đối với đầu t nớc ngoài cần chú trọng các giảI
pháp sau :
Phát huy vai trò của các cơ quan hoạch định chính sách nh Quốc hội,
Chính phủ trong việc xây dựng các đạo luật, chính sách quy định về đất đai
áp dụng cho các hoạt động đầu t nớc ngoài .
Tập hợp ý kiến của các nhà đầu t nớc ngoài tại Việt Nam về chính
sách đất đai cũng nh chính sách đất đai áp dụng đối với khu vực có vốn đầu t
24nớc ngoài của các nớc, thông lệ quốc tế để hình thành chính sách đất đai ổn
cho các dự án này cần nhìn nhận cả thị trờng đầu vào và thị trờng đầu ra. Đối
với thị trờng đầu vào cần chú trọng đảm bảo các loại máy móc thiết bị, công
nghệ đa vào dự án thuộc thế hệ mới hiện đại không gây ô nhiễm môI trờng.
Đối với thị trờng đầu ra, cần chú trọng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm cả thị
trờng trong nớc lẫn thị trờng nớc ngoài. Mở rộng thị trờng cho các dự án FDI
thông qua khuyến khích thúc đẩy xuất khẩu và xúc tiến thơng mại. Các giảI
pháp cần thực hiện là:
25