LỜI GIỚI THIỆU
I- Tính tất yếu của đề án
Theo xu hướng quốc tế đời sống kinh tế thế giới là kết quả của quá trình phân
công lao động xã hội để mở rộng trên phạm vi toàn thế giới đã tác độngđến tất
cả các nước và vũng lãnh thổ từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới và
trong xu thế đó , chính sách đóng cửa biệt lập với thế giới là không thể tồn tại
được. Nó chỉ là kim hãm quá trình phát triển của xã hội . Một quốc gia khó có
thể tách biệt khỏi thế giới vì những thành tựu của khoa học và kinh tế đã kéo con
người xích lại gần nhau hơn và dưới tác động quốc tế buộc các nước phải mở
cửa.
Mặt khác trong xu hướng mở cửa, các nước đều muốn thu hút được nhiều
nguồn lực từ bên ngoài để phát triển kinh tế đặc biệt là nguồn vốn đầu tư trực
tiếp của liên minh châu âu EU , hãy thường gọi là nguốn vốn đầu tư FDI. Vì thế
các nước đều muốn tạo ra những điều kiện hết sức ưu đãi để thu hút được nhiều
nguồn thuộc về mình.
Vấn đề này thì chính phủ Việt Nam đã thực hiện đường lối đổi mới theo
hướng mở cửa với bên ngoài bắt đầu từ năm 1986 sau khi mở cửa thị trường và
chính phủ Việt Nam đã thu được những thành tựu đáng kể cả trong lĩnh vực phát
triển kinh tế cũ cũng như trong thu hút nguồn vốn FDI từ bên ngoài thì cho đến
này hàng năm nguồn vốn FDI từ bên ngoài vào trong nước tăng nhanh cả về số
lượng dự án lẫn qui mô nguồn vốn . Tuỳ nhiên việc thu hút nguồn vốn FDI của
Việt Nam vẫn thuộc loại trung binh so với các nước trong khu vực và trên thế
giới , có thể nói rằng Việt Nam chưa thể hiện được tiềm năng của mình trong
việc thu hút vốn FDI để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước .
II-Mục đích nghiên cứu
Với vai trò và tầm quan trọng của nguồn vốn FDI nói chung và nguồn vốn
FDI của EU nói riêng tới quá trình phát triển kinh tế xã hội thời kỳ CNH,HĐH
theo tư tưởng của Đảng và nhà nước , và góp phần làm cho môi trường đầu tư
ngày càng hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nên em chọm đề tài “Những giải
pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp của EU vào VN”
làm đề án môn học. Đề tài chỉ tập trung phân tích thực trạng kinh nghiệm cơ hội
Đảng ta đã tái khẳng định “ phát huy cao độ nội lực , đồng thời tranh thủ nguồn
lực từ bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nền kinh tế
của mình , phát huy có hiệu quả và bền vững ….Chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực , nâng cao hiệu quả hợp tác
quốc tế , đảm bảo độc lập , tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa , bảo vệ lợi
ích dân tộc , an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc , bảo vệ môi
trường”.
từ khi 15 năm đổi mới , bộ mặt đất nước đã có nhiều khởi sắc , không ai
có thể phủ nhận vai trò của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự nghiệp
phát triển kinh tế đất nước , trong đó nguồn vốn từ Liên Minh châu Âu ( EU )
là một trong ba cực kinh tế lớn nhất thế giới hiện nay và nó đã góp phần không
nhỏ đến các nước đang phát triển , chẳng hạn như Việt Nam….
Thông qua quan hệ chíng thức giữa Việt Nam và liên minh châu ÂU
được thiết lập từ năm 1990 thì Việt Nam cũng đã phát huy toàn diện trong quan
hệ với nhiều thành viên của chủ chốt của EU trước đẩy . Năm 1995 là năm ghi
dấu lịch sử trong quan hệ giữa hai bên với sự kiện kí hiệp định khung hợp tác
Việt Nam – EU vào ngày 31/05/1995 tại Brucxen ( Bỉ ) . Quan hệ hai bên có cơ
sở pháp lý để phát triển toàn diện từ đó. Cho đến này , chúng ta đã ghi
nhận và rất vùi mừng vì những thàn tựu đóng góp rất to lớn của nguồn vốn đầu
tư trực tiếp của EU vào Việt Nam đã mang lại cho Việt Nam nhưng đánh giá
một cách khách quan thì hoạt động đầu tư trực tiếp của EU này vẫn chưa tương
xứng với tiềm năng lớn mạnh của khối này. Trước tình hình đó ,việc nghiên cứu
và tìm hiểu thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp của EU vào Việt Nam , phân
tích những thành công cũng như trở ngại của hoạt động này không những sẽ
giúp chúng ta hình dung đầy đủ hơn bức tranh FDI của EU tại Việt Nam , mà
còn góp phần đưa chúng ta biết thêm những giải pháp , kiến nghị nhằm thúc đẩy
3
việc thu hút FDI của EU vào Việt Nam , tăng cường hơn nữa mối quan hệ hợp
tác đầu tư giữa EU va Việt Nam.
- Đầu tư của tư nhân gồm : Đầu tư trực tiếp , đầu tư gián tiếp , tín
dụng thương mại.
Trong phạm đề án này , chúng ta sẽ quan tâm tới hình thức đầu tư trực
tiếp nước ngoài của tư nhân , gọi là đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI.
Vậy FDI là một loại hình kinh doanh mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ
vốn , tự thiết lập các cơ sở sản xuất kinh doanh cho riêng mình, đứng chủ sở hữu
, tự quản lý , khai thác hoặc thuê người quản lý , khai thác cơ sở này hoặc hợp
tác với đối tác nước sở tại thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh và tham gia sự
quản lý , cùng với đối tác nước sở tại chia sẻ lợi nhuận và rủi ro.
2- Đặc điểm của FDI
Hiện này xét bản chất của FDI thì chúng ta có thể nhận xét những đặc
điểm của nó như sau :
2-1 FDI trở thành hình thức chủ yếu trong đầu tư nước ngoài
Xét về xu thế và hiệu quả của FDI thì thể hiện rõ hơn sự chuyển biến về
chất lượng nền kinh tế thế giới , gắn với quá trình sản xuất trực tiếp , tham vào
sự phân công lao động theo chiều sâu và tạo thành cơ sở hoạt động của các công
ty xuyên quốc gia và các doanh nghiệp quốc tế.
5
2-2 FDI đang và sẽ tăng mạnh ở các nước đang phát triển
Đầu tư lẫn nhau giữa các nước công nghiệp phát triển tăng mạnh vài thập
kỷ đây, đặc biệt là ở cuối năm 1980 là một trong những đặc điểm quan trọng
nhất của các quan hệ kinh tế quốc tế kể từ khi sau chiến tranh thế giới thứ hai
kết thúc.
Có nhiều lý do về mức độ đầu tư cao giữa các nước công nghiệp phát
triển với nhau , nhưng có thể thấy hai nguyên nhân chủ yếu là :
Thứ nhất : Môi trường đầu tư ở các nước phát triển có độ tương hợp
cao. Môi trường này được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả môi trường công
nghệ và môi trường pháp lý.
Thứ hai : Xu thế khu vực hoá đã thúc đẩy các nước này xâm nhập thị
hiểm , các dịch vụ tài chính và giải trì. Tỷ lệ các nguồn vốn FDI vào dịch vụ
tăng rất mạnh từ thập kỷ 80:năm 1985 , FDI và dịch vụ tại Mỹ chiếm tỷ trọng
44% ( so với 32% tại năm 1950 ), vào Nhật bản là 52% ( so với 20% tại năm
1965 ), và Cộng hoà liên bang Đức là 47% ( so với 10% tại năm 1966 ).
Một vấn đề đang chú ý , đó là trong phương thức tiến hành FDI trong
thời gian gần đây là vai trò tăng lên của các công ty vừa và nhỏ . Chẳng hạn số
dự án FDI của các công ty vừa và nhỏ của liên minh châu Âu chẳng hạn đa tăng
lên nhiều so với những năm trước đây.
3- Vai trò của FDI
- Đối với nước đi đầu tư:
+ Xét trên góc độ quốc gia
FDI mang lại nhiều lợi ích cao cho nước đi đầu tư như :
* Quan hệ hợp tác với nước sở tại tăng cường
* Nước đầu tư co thể mở rộng thị trường của minh nhằm mục đích
tiêu thu sản phẩm
* Việc đưa chuyên gia đi theo để hướg dẫn hãy trực tiếp vận hành
máy móc , tạo công ăn việc làm cho một số nguồn lao động
* Tránh việc khai thác các nguồn lực trong nước một cách quá tải
tránh ô nhiễm môi trường.
* Dễ dàng tìm kiếm được lợi nhuận khi tận dụng được lợi thế tài
nguyên thiên nhiên, chuyển hưởng chính sách ưu đãi…
+ Xét trên góc độ doanh nghiệp
* Khả năng sử dụng vốn của các doanh nghiệp sẽ dẽ dàng hơn do các
nhà đầu tư có thể bán máy móc cũ cho các nước nhận đầu tư ( thường là các
nước đang phát triển ) với giá cao.
7
* Giảm giá chi phí vận chuyển cũng như chi phí trung gian khác do
cung cấp hàng hoá tại chỗ cho thị trường bản địa.
* FDI giúp cho các nhà đầu tư vượt qua hàng rào bảo hộ mậu dịch.
8
- Vai trò đối của FDI với kinh tế - xã hội ở Việt Nam
Kể từ ngày 01/01/1988 đến ngày 31/12/2002 đã có 4648 dự án được cấp
giấy phép với tổng số vốn đầu tư là 50,67 tỷ USD . Các dự án đầu tư nước ngoài
đã đưa trên 21,2 tỷ USD vào thực hiện ( chiếm 53,8% tổng vốn đầu tư còn hiệu
lực).
+ FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH và HĐH .
Theo thống kê, vốn ĐTNN tập trung 50,5% vào lĩnh vực công nghiệp , còn lại
45 % vào dịch vụ còn nước ngoài chiếm tỷ trọng nhỏ , và hiện nay ĐTNN chiếm
35% giá trị sản lượng công nghiệp .
+ Thông qua ĐTNN đã hình thành hệ thống các khu công nghiệp và khu
chế xuất . Đây là bước đi đúng đắn , góp phần phân bố công nghiệp hợp lý , tạo
điều kiện đưa các vùng đất khó canh tác vào sử dụng có hiệu quả hơn .
+ Tỷ lệ đóng góp của khu vực ĐTNN trong GDP tăng lên quá các
năm.Ngoài ra, khu vực ĐTNN cũng góp phần đáng kể vào nguồn thu nghân
sách .
+ ĐTNN đã góp phần phá thế bao vây cấm vận của một số thế lực phản
động quốc tế , tăng cường thế và lực của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh
tế với thế giới và khu vực .
+ ĐTNN tập trung vào những vùng có CSHT thuận lợi hơn như thành phố
Hồ Chí Minh , Hà Nội . Đông Nai,,,, đã góp phần làm cho các vùng kinh tế
trọng điểm có tốc độ tăng trường cao song cũng làm tăng khoảng cách về kinh tế
giữa các vùng kinh tế .
Luồng FDI vào Việt Nam đạt đỉnh cao vào giai đoạn 1995-1997, những
năm gần đây đang có xu hướng chững lại . Vấn đề đặt ra làm sao thu hút được
nguồn vốn FDI bằng các mức nhứng năm 1995-1997 đang là thách thức lớn
trong những năm đầu tư thiên niên kỉ mới .
4- Ưu , nhược điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
4-1 Đối với nước nhận đầu tư
- Tác động gián tiếp : ( còn gọi là “hiệu ứng lan toả” ) thông qua
việc các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tạo nên môi trường cạnh tranh mạnh
mẽ giữa các công ty trong nội bộ khu vực. Môi trường cạnh tranh buộc các công
ty trong khu vực phải hoạt động có hiệu quả hơn , do đó năng suất lao động của
tất cả các công ty sẽ tăng lên … Ngoài ra , hoạt động của các doanh nghiệp quản
lý .
b- Nhược điểm :
Việc quản lý vốn đầu tư trực tiếp của chủ nhà đầu tư có nhiều khó
khăn do các chủ đầu tư có kinh nghiệm né tránh sự quản lý của nước chủ nhà .
10
Trong khi đó nước chủ nhà lại chưa có kinh nghiệm , còn có nhiều cơ sở trong
quản lý hoạt động các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài.
Lợi dụng sự yếu kém , thiếu kinh nghiệm trong quản lý luật của
nước sở tại, tình trạng trốn thuế , gian lận , vi phạm những qui định về bảo đảm
vệ sinh sinh thái môi trường và những lợi ích khác của nước chủ nhà thường xảy
ra.
Trong các chủ đầu tư , có những trường hợp vào không có mục đích
là thu lợi nhuận mà với mục đích tình báo , gây rối trật tự an ninh chính trị . Các
công ty đa quốc gia đầu tư trực tiếp có thể sử dụng như một công cụ để can thiệp
vào các hoạt động chính trị , kinh tế , ngoại giao của nước sở tại.
II- Các hình thức và xu hướng vận động của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1-Các hình thức của đầu tư trực tiếp ngoài
Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và luật sửa đổi , bổ
sung một số điều của luật đầu tư nước ngoài ngày :09/06/2000 thì đầu tư trực
tiếp nước ngoài được định nghĩa là “việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn vào
Việt Nam bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo
qui đinh của luật này”.
Luật qui định các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam
dưới các hình thức sau:
Những năm gần đây, hoạt động đầu tư phát triển mạnh mẽ trên thế giới
và đã được tự do hoá trên trai mọi quốc gia , trên mọi mặt . Xu hướng đó thể
hiện trên ba hình thực đó là : Quốc gia , Khu vực và Quốc tế. Các quốc gia thì
giảm đầu những hạn chế về các hình thức đầu tư , lĩnh vực đầu tư , luật pháp
liên quan tới đầu tư , về vấn đề góp vốn, chuyển giao công nghệ…
Xu hướng tụ do hóa đầu tư và quá trình quốc tế hoá đã làm cho lượng
vốn đần tư gia tăng mạnh mẽ trên toàn thế giới .Tổng số vốn lưu chuyển quốc tế
trong những năm gần đây tăng mạnh khoảng 20-30%/năm . Những năm 70, vốn
đầu tư trực tiếp trên toàn thế giới trunh bình hành năm khoảng 25 tỷ USD , đến
thời kì 1980-1985 đã tăng lên gấp đối , đạt mức khoảng 50 tỷ UDS . Từ năm
1985-1990 , tỷ lệ gia tăng danh nghĩa của dòng FDI hàng năm là 34%, vượt xa
mức tăng 13% hàng năm của tổng số hàng xuất khẩu trên thế giới . Số vốn đầu
tư trực tiếp nứơc ngoài trên thế giới năm 1986 là 78 tỷ USD , năm 1987 là 133
tỷ USD , năm 1988 là 158 tỷ USD , năm 1989 là 195 tỷ USD và từ năm 1990
đến năm 1993 thì số lượng vốn đầu tư trực tiếp trên toàn thế giới hầu như không
tăng lên , chỉ dừng ở mức trên 200 tỷ USD . Đến năm 1994 , số vốn đầu tư trực
tiếp của nước ngoài trên thế giới lại tiếp tục tăng lên đạt mức 226 tỷ USD và đến
năm 1995 con số đó là 253 tỷ USD . 12
2-2 Địa bàn thu hút đầu tư có xu hướng thay đổi
Một trong những xu hướng lâu dài là vốn đầu tư được luận chuyển chủ
yếu giữa các nước đang phát triển về ngành công nghiệp. Năm 1950 số lượng
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục đổ vào các nước công nghiệp phát tiển
chiếm khoảng 40% trong tổng số vốn đầu tư nước ngoài trên toàn thế giới . Đến
năm 1960 đã tăng lên 69% , năm 1998 con số này là 73% và cuối thập kỷ đó đạt
mức 80% . Sự gia tăng đầu tư trực tiếp này vào các nước công nghiẹp phát triển
bị chững lại vào đầu năm 90 , do suy thoái kinh tế rộng khắp toàn thế giới . Tự
bản và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực này giảm mạnh trong
Năm 1987-1988 FDI vào các nước đang phát triển đạt 31 tỷ USD thì
đến năm 1990 35 tỷ USD , các dòng vốn đầu tư ( gồm đầu tư trực tiếp , gián tiếp
13
)vào các nước đang phát triển đã tăng lên 4 tỷ USD . tốc độ tăng FDI trung bình
hàng năm là hơn 30% và đạt mức 111,8 tỷ USD năm 1995, năm 1997 là 178,8
tỷ USD , năm 1999 là 207,6 tỷ USD , năm 2000 là 200 tỷ USD .
2-3 Cơ cấu đầu tư có sự thay đổi theo hướng tập trung vào lĩnh vực
công nghiệp chế biến và dịch vụ
Hiện nay, một cơ cấu kinh tế được coi là hiện đại là cơ cấu kinh tế trong đó
các ngành công nghiệp chế biến trên thế giới và xu hướng này đã chi phối toàn
bộ hoạt động đầu tư , trong đó đáng kể là hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài .
Vì vậy, mà hầu hết các nước đang phát triển đều tập trung mọi cố gắng để tạo ra
những điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm để phát triển
hai ngành này.
Xuất phát từ yêu cầu phát triển một cơ cấu kinh tế hiện đại theo hướng
công nghiệp hoá , chính phủ của nhiều nước đang phát triển đã dành nhiều ưu
đãi cho những người nước ngoài đầu tư vào hai ngành này , điều đó đã tạo ra
sức hấp dẫn mạnh mẽ cho các nhà đầu tư là chuyển từ đầu tư khai thác các
nguồn lực tự nhiên sang công nghiệp chế tạo và dịch vụ.
2-4 Vai trò của các tập đoàn xuyên quốc gia trong đầu tư trực tiếp
nước ngoài
Hầu hết các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là bắt nguồn từ các công
ty xuyên quốc gia . Các công ty xuyên quốc gia là nguồn cung cấp vốn, công
nghệ và kinh nghiệm quản lý chính trong đầu tư quốc tế . Năm 1995 có khoảng
39.000 tập đoàn với 270.000 chi nhanh và cơ sở nước ngoài , nắm giữ 2.700 tỷ
USD vốn FDI , tương đương với 10% GDP trên thế giới Do đó các tập đoàn
xuyên quốc gia chi phối hầu hết các hoạt động FDI trên thế giới . Điều đáng chú
ý thì các tập đoàn xuyên quốc gia ở các nước đang phát triển hầu hết tập trung ở
châu Á.
.Chính sách khuyến khích đầu tư với Hoa Kiều và người Hoa gồm:
+Người đầu tư là Hoa Kiều có thể đầu tư trong các tỉnh , khu tự trị,thành
phố trực thuộc, SEZs của Trung Quốc .
+Hưởng chính sách ưu đãi thuế :2 năm được miễn thuế , 3 năm sau được
giảm một cửa…
15