LUẬN VĂN: Thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS ở tỉnh Quảng Ninh - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Thực hiện pháp luật phòng, chống
HIV/AIDS ở tỉnh Quảng Ninh MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Loài người đang phải đối mặt với HIV/AIDS, một đại dịch có sức tàn phá chưa từng
thấy trong lịch sử. Từ khi đại dịch xuất hiện, theo thống kê của Tổ chức UNAIDS, cho đến

Phòng, chống HIV/AIDS Quảng Ninh).
Tình hình lây nhiễm HIV/AIDS ở Quảng Ninh đã gây ra dư luận xấu và tâm lý lo
ngại, gây bất lợi đối với một tỉnh có tiềm năng du lịch, đang trên đà phát triển và hội nhập.
Trong những năm qua, công tác phòng, chống HIV/AIDS của tỉnh đã có nhiều cố gắng
nhưng hiệu quả đạt được còn thấp. Công tác truyền thông chưa sâu rộng, chưa phong phú,
đa dạng; còn nhiều người chưa nhận thức hết tính nguy hiểm của đại dịch và cách phòng,
chống cho bản thân và cộng đồng. Cấp uỷ, chính quyền một số địa phương chưa tập trung
chỉ đạo cho ngang tầm với mức độ nghiêm trọng của tình hình, chưa huy động được cả
cộng đồng tham gia phòng, chống. Nhiều tổ chức và cá nhân vẫn đứng ngoài cuộc. Còn có
nhiều nơi phó thác trách nhiệm cho ngành y tế. Đây là một vấn đề y tế - xã hội cấp bách và
nghiêm trọng cho cả nước nói chung, tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Vì vậy, việc nghiên cứu
thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS có ý nghĩa quan trọng và thiết thực.
Việc tác giả chọn Quảng Ninh là nơi tìm hiểu khảo sát thực hiện pháp luật phòng,
chống HIV/AIDS ở tỉnh Quảng Ninh là do:
Quảng Ninh là tỉnh trọng điểm về tệ nạn nhiễm HIV/AIDS, mặt khác, chỉ có những
đề tài được nghiên cứu về thực trạng nhiễm HIV/AIDS mà chưa có đề tài khoa học nào về
thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS ở tỉnh Quảng Ninh.
Với những lý do trên em chọn đề tài “Thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS ở
tỉnh Quảng Ninh” để làm luận văn thạc sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực hiện pháp luật là một trong những nội dung quan trọng của lý luận chung về
nhà nước và pháp luật nói chung và đối với hoạt động phòng, chống HIV/AIDS ở tỉnh
Quảng Ninh nói riêng, là một nội dung quan trọng nhằm góp phần bảo đảm các quyền con
người trong bối cảnh đại dịch HIV/AIDS và cũng nhằm phòng ngừa, chăm sóc, điều trị và
giảm thiểu tác động tiêu cực của HIV/AIDS, mà còn là phương thức cơ bản, một giải pháp

có hiệu quả trong phòng, chống HIV/AIDS nói chung, trong dự phòng – bảo vệ sức khoẻ
cộng đồng nói riêng, đưa ra các giải pháp bảo đảm việc thực hiện pháp luật, nâng cao hiệu
quả, hiệu lực thực hiện pháp luật.
Trong thời gian vừa qua ở nước ta đã có một số công trình và bài viết của các nhà khoa

Ninh.
- Đưa ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp
luật phòng, chống HIV/AIDS ở tỉnh Quảng Ninh.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích làm rõ khái niệm thực hiện pháp luật, làm cơ sở xây dựng khái niệm thực hiện
pháp luật phòng, chống HIV/AIDS để rút ra có đặc thù gì khác.
- Phân tích và làm rõ những yếu tố đặc thù về kinh tế - xã hội khiến dịch HIV/AIDS
lây nhiễm cao và nhanh ở Quảng Ninh.
- Thu thập các nguồn thông tin (có thể từ điều tra, giám sát dịch tễ) để làm rõ thực
trạng về việc thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS ở tỉnh Quảng Ninh.
- Từ thực tế của tỉnh liên hệ với tình hình nhiễm HIV/AIDS trên cả nước để làm rõ
tính đặc thù của của thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS, các hình thức thực hiện
pháp luật phòng, chống HIV/AIDS và tình trạng lây nhiễm HIV/AIDS ở tỉnh Quảng Ninh.
- Rút ra được những đặc điểm của dịch HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh để có dự báo xu
hướng biến động của dịch trong những năm tới, từ đó đưa ra các giải pháp và khuyến nghị
thích hợp nhằm thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS ở tỉnh Quảng Ninh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật như: Khái niệm thực hiện pháp luật,
khái niệm thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS, làm rõ các hình thức, nội dung và
vai trò của thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS, thực trạng thực hiện pháp luật
phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, từ đó đề ra các giải pháp nhằm bảo
đảm cho việc thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS ở tỉnh Quảng Ninh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề về thực hiện pháp luật phòng, chống
HIV/AIDS ở tỉnh Quảng Ninh từ năm 1998 - 2008.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG
HIV/AIDS
1.1.1. Phòng, chống HIV/AIDS
1.1.1.1. Quan niệm pháp luật về HIV và AIDS
* HIV:

Là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh (Human Immunodeficiency Virus) Là vi rút gây
suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây
bệnh.
Khi vào cơ thể con người vi rút tấn công các tế bào miễn dịch (là các tế bào bạch cầu)
là đội quân chủ lực bảo vệ cơ thể chống lại các vi trùng gây bệnh. Các tế bào miễn dịch bị
tấn công trong một thời gian (có thể là 10 đến 20 năm) sẽ bị giảm về số lượng và cơ thể
không có khả năng chống đỡ được các vi trùng gây bệnh như lao, tiêu chảy, vi rút, nấm…
dẫn đến suy kiệt và tử vong.
Có 2 loại HIV:
Cấu trúc vi rút HIV

- HIV1: Giống một loại vi rút ở loài khỉ Chiqanzel tại Gabong, HIV1 gây nhiễm bệnh
trên toàn cầu được tìm thấy vào năm 1983.
- HIV2: Giống một loại vi rút ở loài khỉ Sooty Mangabey tại Tây phi, HIV 2 gây
nhiễm bệnh chủ yếu ở khu vực châu Phi, tìm thấy vào năm 1986.
Hai loại virus này cùng một loại virus mà sau đó được hội nghị về danh pháp quốc tế
về AIDS do một loại virus gây suy giảm miễn dịch ở người gây nên, virus có tên gọi là
HIV (Human Immuno deficiency Virus).
Đặc điểm sinh học của HIV:
HIV xuất hiện tự nhiên có thể từ trước thập niên 60 của thế kỷ XX nhưng nguồn gốc

- HIV/AIDS là một “dịch” ẩm từ khi nhiễm HIV trở thành AIDS, trải qua nhiều giai
đoạn (giai đoạn sơ nhiễm (cửa sổ), giai đoạn nhiễm HIV không triệu chứng, giai đoạn cận
AIDS, giai đoạn AIDS). Người bệnh không hề có triệu chứng đặc trưng ở các giai đoạn
đầu, nhưng có khả năng lan truyền âm ỉ mà ta không hề biết. Điều này như hiện tượng
“Tảng băng trôi”, do đó rất phức tạp và khó khăn cho phòng và chống.
Theo một số nghiên cứu, ảnh hưởng của HIV/AIDS tác động như nhiều làn sóng kế
tiếp nhau: Giai đoạn đầu: người khoẻ mạnh trở thành người mang vi rút HIV. Đặc điểm
của giai đoạn này là thời gian ủ bệnh khó nhận biết, kéo dài có thể lây truyền sang người
khác… Giai đoạn hai, người mang vi rút HIV chuyển thành người bệnh, đồng thời xuất
hiện nhiều bệnh lây nhiễm khác như bệnh lao và nhiều bệnh khác do hệ miễn dịch bị phá
hoại. Giai đoạn này làm đảo lộn mọi đời sống của người bệnh đồng thời kéo theo những
khó khăn, tổn thất cho người thân, gia đình và xã hội… Giai đoạn thứ ba, người bệnh tử
vong, đây là một cái chết khủng khiếp… Giai đoạn thứ tư, là những hậu quả sau cái chết,

trên các cấp độ: người thân (vợ, chồng, con cái) gia đình nhiều thế hệ, cộng đồng và xã
hội. Đó là tình trạng nghèo đói, mồ côi, thất học, goá bụa, nỗi lo sợ sự kỳ thị, xa lánh của
người thân và cộng đồng đối với người có HIV/AIDS và những người chung sống với
HIV/AIDS.
- Một khi đại dịch bùng nổ, HIV/AIDS không chỉ làm tổn thương đến những người
có HIV/AIDS mà còn phá hoại nhiều mặt của đời sống cộng đồng, từ kinh tế đến xã hội,
văn hoá như một thảm hoạ. HIV/AIDS có khả năng huỷ diệt không chỉ đến một gia đình,
một dòng họ mà có thể huỷ diệt cả một quốc gia, dân tộc. HIV/AIDS được cộng đồng quốc
tế xem như một vấn đề của sự phát triển của mỗi quốc gia.
* Đường lây truyền của HIV và cách phòng tránh
- Đường lây truyền của HIV
HIV, loại vi rút gây ra AIDS, thường lây nhiễm qua đường tình dục. Tuy nhiên, vi rút
HIV có thể lây nhiễm qua nhiều đường khác.

Thứ nhất, đường lây truyền qua quan hệ tình dục:
Những vết xước ở niêm mạc âm đạo, hậu môn, miệng hay dương vật có thể xảy ra trong

xét nghiệm trong phòng thí nghiệm, sự truyền máu có thể làm lây nhiễm HIV. Người cho
máu không có nguy cơ nhiễm HIV, trừ khi sử dụng kim tiêm không được khử khuẩn đúng
cách.
Tiếp xúc trực tiếp với máu của người nhiễm HIV. Ta có thể nhiễm nếu tiếp xúc trực
tiếp với máu (ví dụ qua các sây sát trên da của chúng ta) của người nhiễm HIV khi không
sử dụng các biện pháp phòng vệ như găng tay cao su, nhựa vinilong hoặc tấm nhựa. Tiếp
xúc này có thể xảy ra khi bị tai nạn, khi chữa răng hoặc chăm sóc y tế.
Thứ ba, đường lây truyền từ mẹ sang con:

Người ta có thể phân lập HIV hoặc DNA của vi rút trong tế bào bánh rau, máu của
thai nhi từ 8 tuần tuổi và ở nhiều tuần sau đó. Cơ thể lây truyền HIV từ mẹ sang con vẫn
chưa hoàn toàn sáng tỏ. Trẻ sơ sinh có thể nhiễm HIV từ mẹ xảy ra ở 3 giai đoạn:
Thứ nhất: Giai đoạn khi thai nằm trong tử cung:
Người mẹ có HIV (+) có thể truyền HIV cho con qua bánh rau. Người ta đã phát hiện
vi rút hoặc DNA của vi rut trong tổ chức này từ 10-15 lần. Lây truyền trong thời kỳ mang
thai chiếm khoảng 5% số trường hợp trẻ sơ sinh từ bà mẹ có HIV (+). Tỷ lệ lây truyền
trong thời kỳ mang thai chủ yếu xảy ra vào những tháng cuối của thai kỳ, đặc biệt khi thai
được khoảng 34 tuần.
Cơ chế lây truyền theo đường này rất phức tạp và chưa hoàn toàn biết rõ do cấu trúc
và chức năng của bánh rau thay đổi theo sự phát triển của thai. Vào thời gian cuối của thai
nghén các tế bào của mẹ có thể vào tuần hoàn của thai nhi. Do vậy đường này vi rút có thể
chuyển vào thai nhi qua bánh rau. Người ta thấy tỷ lệ lây truyền qua bánh rau khi thai nằm
trong tử cung của người mẹ HIV (+) tăng lên khi tuổi của mẹ cao, khi nồng độ HIV trong
máu mẹ cao, khi kháng nguyên P24 (+) và khi ở giai đoạn muộn đã có các triệu chứng lâm
sàng của AIDS hoặc tế bào TCD4<200 tế bào/mm3.
Thứ hai: Giai đoạn thai qua đường sinh dục người mẹ khi chuyển dạ
Khi chuyển dạ đứa trẻ có thể bị lây nhiễm do tiếp xúc trực tiếp với máu và các chất
dịch ở âm đạo người mẹ có HIV (+). Nguy cơ lây truyền qua đường này tăng lên khi ối đã
vỡ, khi đẻ khó, chuyển dạ kéo dài, phần mềm của người mẹ bị sang chấn, thai bị xây xước
và đặc biệt cơn co tử cung mạnh cũng có thể đẩy máu mẹ có HIV vào tuần hoàn con. Nếu

nhiễm HIV. Bao cao su được bảo quản đúng cách ở nơi mát, tránh ánh nắng trực tiếp, có thể để
được trong hai năm (kể từ ngày sản xuất) hoặc lâu hơn tuỳ loại và hạn dùng được ghi trên vỏ
bao.
- Chỉ duy trì mối quan hệ tình dục bền vững với một bạn tình duy nhất: Mối quan hệ tình
dục bền vững với một bạn tình sẽ giảm thiểu mối nguy cơ chừng nào cả hai người đều không
nhiễm HIV hoặc đều không có một bạn tình nào khác nữa, hoặc đều không có nguy cơ cao
như dùng chung bơm kim tiêm.
Thứ hai, phòng tránh lây truyền theo đường máu
Tránh tiếp xúc giữa máu với máu và tiếp xúc với các loại dịch cơ thể thông qua “các
biện pháp phòng ngừa chung”. Các biện pháp phòng ngừa chung bao gồm việc đối xử với

mọi bệnh nhân như họ đều là người nhiễm, chúng cũng bao gồm việc tránh tiếp xúc với máu
bằng cách sử dụng các trang bị bảo hộ như sử dụng găng tay cao su khi xử lý tai nạn lao động,
giúp giảm thiểu lây nhiễm HIV. Cần trang bị bảo hộ khi phải xử lý các loại dịch cơ thể hoặc
chất phế thải. Hầu hết các sở y tế đều có thể cung cấp thông tin chi tiết về việc thực hiện các
biện pháp phù hợp nhằm phòng tránh và xử lý tai nạn lao động.
Đảm bảo kim và các dụng cụ xuyên chích qua da khác phải mới hoặc đã khử trùng.
Lý tưởng nhất là các loại dụng cụ này chỉ nên sử dụng một lần và cho một người. Tuy
nhiên, nếu không thực hiện được như vậy, cần khử trùng cẩn thận các dụng cụ mỗi khi
dùng. Chỉ nên sử dụng các dụng cụ đã khử trùng để xăm mình và chọc lỗ đeo vòng mũi,
vùng rốn, hoặc bất cứ khu vực nào khác trên cơ thể.
Bảo vệ nguồn máu cung cấp.100% túi máu phải được xét nghiệm sàng lọc HIV trước
khi truyền. Lựa chọn nguồn lấy máu. Máu hiến tặng phải được sàng lọc xét nghiệm HIV
trước khi truyền cho người khác.
Thứ ba, phòng tránh lây truyền theo đường từ mẹ sang con.
- Giai đoạn trong tử cung: Sử dụng thuốc kháng vi rut cho mẹ và con: một số công
trình nghiên cứu đã công bố so sánh hiệu quả điều trị giữa Nevirapine và ZDV
(Zidovudine), kết quả cho thấy nhóm sử dụng Nevirapine liều duy nhất 200mg/ viên uống
cho mẹ ở tháng thứ 9 của thai kỳ và liều duy nhất 2mg/kg nhũ dịch uống cho con sau khi
sinh 72 giờ, tỷ lệ lây nhiễm HIV cho con thấp hơn so với dùng ZDV. Hơn nữa, sử dụng

Theo báo cáo của UNAIDS và WHO, mỗi ngày trôi qua có 14.000 trường hợp (2000
trẻ em và 12000 người lớn) nhiễm HIV mới và 95% các trường hợp này ở các nước đang
phát triển. Cho đến nay đã có hơn 14 triệu trẻ em bị mồ côi do AIDS. Một số nước như
Nigeria, số lượng trẻ em mồ côi do AIDS đã tăng lên 995.000 trường hợp, Kenia là
892.000 trường hợp. Hầu hết các trẻ em này không được đi học, theo thống kê tại Nam
Tỷ lệ nhiễm HIV
trên thế giới

Phi, trẻ em đi học năm 2008 thấp hơn 20% so với năm 2005. Theo báo cáo của UNAIDS
và WHO, dịch HIV/AIDS ở hầu hết các khu vực bắt đầu từ những năm cuối của thập kỷ
70 và những năm đầu thập kỷ 80. Hai khu vực Nam và Đông Nam Á, Đông Á - Thái Bình
Dương dịch HIV/AIDS xuất hiện muộn vào những năm cuối của thập kỷ 80 và vùng Đông
Âu và Trung Á phát hiện dịch vào những năm đầu thập kỷ 90. Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trên
thế giới ở người lớn cao nhất là vùng cận Sahara với 8,4 người lớn nhiễm HIV/AIDS, tiếp
theo là đến khu vực Caribe, Đông Nam Châu Á, khu vực Bắc Mỹ. Hình thái lây truyền chủ
yếu ở các khu vực là qua quan hệ tình dục khác giới, tiêm chích ma tuý và một vài khu vực
đồng tính nam giới là hình thức lây truyền chính. Theo báo cáo của UNAIDS, ở hầu hết
các khu vực nam giới mắc nhiều hơn nữ giới, riêng ở khu vực cận Sahara nữ chiếm tỉ lệ
nhiều hơn và hình thức lây nhiễm chủ yếu qua quan hệ tình dục khác giới.
* Tình hình dịch HIV/AIDS ở Việt Nam.
Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam được phát hiện vào tháng 12/1990 ở
thành phố Hồ Chí Minh cho đến ngày 31/10/2008 toàn quốc đã phát hiện được 135.171
trường hợp nhiễm HIV, trong đó 29.134 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS, và
41.418 trường hợp đã tử vong do bệnh AIDS. Như vậy, tình hình nhiễm HIV trên phạm vi
cả nước đã trở thành đại dịch với diễn biến ngày một phức tạp, nguy hiểm lan rộng đã ảnh
hưởng rất lớn đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

135171
29134
41418



i
i
nhi
nhi


m
m
HIV/AIDS
HIV/AIDS
hi
hi


n
n
đang
đang
còn
còn
s
s


ng
ng
v
v

đường tình dục và tiêm chích ma tuý và giống các chủng hiện đang lưu hành trong khu
vực.
- Dịch HIV/AIDS tiếp tục ngày càng gia tăng ngày càng phức tạp cả về số lượng,
nhóm đối tượng và địa cư dịch chưa được khống chế và kiểm soát đầy đủ. Nguy cơ lây
nhiễm qua dịch vụ y tế ngày càng được thể hiện rõ.
- Dịch HIV/AIDS xẩy ra chủ yếu trong giới trẻ, đại đa số người nhiễm HIV hiện đang ở độ
tuổi từ 13 đến 49 (95,30%). Nhưng tỷ lệ thanh thiếu niên nhiễm HIV trong tổng số người nhiễm
được phát hiện ngày càng tăng. Trong những năm gần đây, có khoảng 70-80% số người nhiễm
HIV còn đang ở độ tuổi dưới 30.

- Nhiễm HIV/AIDS không chỉ còn khu trú trong các khu vực đô thị mà đã và đang
lan rộng ra các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.
Nhất là theo các trục đường giao thông và trên các tuyến đường vận chuyển ma tuý.
- Do số người nhiễm HIV vào khám và điều trị (bị các bệnh nhiễm trùng cơ hội) tại
các cơ sở y tế hoặc đến các cơ sở dịch vụ xã hội ngày càng nhiều, điều này đã làm tăng
nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS qua các dịch vụ này. Vì vậy, chúng ta phải có biện pháp
phòng ngừa thiết thực và hữu hiệu trong công tác truyền máu và vô trùng.
- Như chúng ta đã biết, tỷ lệ lây nhiễm HIV/AIDS tỷ lệ thuận với ma tuý, mại dâm.
Điều đó những người bị nhiễm HIV/AIDS phạm tội ngày càng nhiều. Số người nhiễm
HIV/AIDS vào các trại giam, các cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, các trung tâm 05, 06
ngày càng nhiều tạo ra nguy cơ lây nhiễm trong các cơ sở này và từ đó lây nhiễm lan rộng
ra cộng đồng.
- Nếu như chúng ta không có biện pháp phòng, chống HIV/AIDS một cách có hiệu
quả thì dự báo đến năm 2020 ở Việt Nam có khoảng 700.000 người bị nhiễm HIV, trên
300.000 người chuyển sang giai đoạn AIDS và có trên 200.000 người chết do AIDS.
- HIV/AIDS đã trở thành đại dịch đây là mối hiểm hoạ lớn nhất đối với mỗi người và
toàn xã hội. HIV/AIDS vẫn còn trong xu thế phát triển và chứa đựng nguy cơ bùng nổ.
Đồng thời gây hậu quả nghiêm trọng trong kinh tế - xã hội nếu chúng ta không có một
chiến lược quốc gia về phòng, chống cho thích hợp và hiệu quả.
1.1.1.2. Pháp luật phòng, chống HIV/AIDS

pháp luật vào cuộc sống. Với cách tiếp cận này, thực hiện pháp luật được hiểu như sau:
Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích, có chủ định để làm cho các
quy phạm pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hoạt động thực tế hợp pháp của
các chủ thể pháp luật [41, tr.270].
Thực hiện pháp luật nói chung và thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS nói
riêng đều có 4 hình thức cơ bản: Tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp
luật và áp dụng pháp luật. Cả bốn hình thức của thực hiện pháp luật trên đều nhằm đưa
pháp luật nói chung và pháp luật phòng, chống HIV/AIDS nói riêng vào thực tiễn cuộc
sống, bảo vệ quyền con người của những người có HIV/AIDS, bảo vệ quyền con người
của những người sống chung với HIV/AIDS mà còn là một phương thức cơ bản, một giải

pháp có hiệu quả trong phòng, chống HIV/AIDS nói chung, trong dự phòng - bảo vệ sức
khoẻ cộng đồng nói riêng.
Trên cơ sở khái niệm thực hiện pháp luật, có thể đi tới khái niệm thực hiện pháp luật
phòng, chống HIV/AIDS như sau: Thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS là quá
trình hoạt động có mục đích, có chủ định của các chủ thể bị nhiễm HIV/AIDS cũng như
toàn xã hội trong thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS, nhằm làm cho các quy
phạm pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS đi vào thực tiễn cuộc sống góp phần bảo đảm
các quyền con người trong bối cảnh đại dịch HIV/AIDS và cũng nhằm phòng ngừa, chăm
sóc và điều trị và giảm thiểu tác động tiêu cực của HIV/AIDS nói chung, trong dự phòng -
bảo vệ sức khoẻ cộng đồng nói riêng.
1.1.2.2. Đặc điểm thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS
Xuất phát từ khái niệm của thực hiện pháp luật, thì thực hiện pháp luật có đặc điểm,
đó là hành vi xử sự theo yêu cầu của pháp luật của các chủ thể trong xã hội nhằm mục đích
là bảo đảm cho pháp luật được thực hiện trên thực tế, trở thành hiện thực trong cuộc sống.
Thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS ngoài mang những đặc điểm của thực
hiện pháp luật nói chung, còn mang những đặc điểm riêng có của mình xuất phát từ vai trò,
vị trí của nó trong đời sống xã hội.
Trên cơ sở khái niệm thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS ta thấy có một số
đặc điểm sau:

thời, thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS cũng là một trong những cách tổ chức hoạt
động tuyên truyền pháp luật, là một kênh quan trọng để phổ biến giáo dục pháp luật thiết thực
và hiệu quả, góp phần cùng cộng đồng trong công cuộc phòng, chống HIV/AIDS. Đồng thời,
nó còn hỗ trợ để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp cho người nhiễm HIV. Việc họ
mang trong mình thứ vi rút cực kỳ nguy hiểm cũng không tước đoạt của họ các quyền và tự
do được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ghi nhận. Nếu như trước đây những người có
HIV/AIDS và những người sống chung với họ được hưởng đầy đủ các quyền và tự do cơ bản
là điều đương nhiên thì nay họ bị mất dần đi những quyền tự do vốn có của mình do kỳ thị và
phân biệt đối xử của xã hội, do những quan niệm đạo đức sơ cứng và do sự bất cập của pháp
luật. Nói một cụ thể, sự kỳ thị, phân biệt đối xử của xã hội đã khiến họ bị mất các quyền con
người. Tác động của HIV/AIDS đối với mỗi người, với vợ, với chồng, con cái của họ, với gia
đình truyền thống (lớn) và với cộng đồng; đối với mỗi người có HIV/AIDS và người sống

chung với HIV/AIDS trước hết họ mất dần đi các quyền về sức khoẻ, họ bị từ chối khám chữa
bệnh, bị khước từ của các quỹ bảo hiểm. Tiếp đó họ có thể bị các doanh nghiệp, cơ quan, tổ
chức từ chối quyền được làm việc và tham gia các hoạt động của những tổ chức, cơ quan này.
Các cháu có HIV/AIDS hoặc các cháu có bố mẹ có HIV/AIDS không được đến trường, thậm
chí bị bỏ rơi.
Người có HIV/AIDS có các quyền cơ bản như mọi người, bảo đảm quyền của người
có HIV/AIDS là tôn trọng nhân phẩm và tự do cá nhân của họ trong mối quan hệ biện
chứng với việc tôn trọng quyền của nhóm và lợi ích cộng đồng. Pháp luật quốc tế và pháp
luật quốc gia là cơ sở pháp lý, cùng với truyền thống nhân đạo, khoan dung tạo nền tảng
cho việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện các quyền con người cơ bản của người có
HIV/AIDS. Bảo đảm quyền của người có HIV/AIDS một mặt, tác động tích cực đến đời
sống của người có HIV/AIDS, mặt khác có tác động ngăn chặn, phòng ngừa nạn đại dịch
HIV/AIDS, góp phần ổn định kinh tế - xã hội.
Quyết định số 36/2004/QĐ-TTg ngày 17/3/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc
phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến 2010 và tầm nhìn
2020 đã nêu rõ: HIV/AIDS là đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm hoạ đối với sức khoẻ, tính
mạng của con người và tương lai nòi giống của dân tộc. HIV/AIDS tác động trực tiếp đến

khác theo quy định của Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội. Ngoài ra, tại Điều 35 của
Luật Phòng, chống HIV/AIDS 2006 đã quy định chính sách ưu tiên đối với các đối tượng này
như sau: “Phụ nữ mang thai tự nguyện xét nghiệm được miễn phí, phụ nữ mang thai nhiễm
HIV được tạo điều kiện tiếp cận các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con, Cơ
sở y tế có trách nhiệm theo dõi, điều trị và thực hiện các biện pháp nhằm giảm sự lây nhiễm
HIV từ mẹ sang con trong thời kỳ mang thai” [32, tr.34].
Đối tượng nhiễm HIV/AIDS được tiếp cận thuốc kháng HIV miễn phí hoặc trợ giá,
để đảm bảo sẵn có ARV cung cấp miễn phí cho những người có nhu cầu thiết yếu nhất,
Chính phủ đã ra quy định đối tượng đủ điều kiện để sử dụng miễn phí các thuốc này. Theo
quy định tại Điều 39 Luật Phòng, chống HIV/AIDS năm 2006 thì: “Người bị phơi nhiễm
với HIV, bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp, do rủi ro của kỹ thuật y tế, phụ nữ
nhiễm HIV trong thời kỳ mang thai, trẻ em dưới 6 tuổi nhiễm HIV được Nhà nước cấp
miễn phí thuốc kháng HIV" [32, tr.36].

1.2. CÁC HÌNH THỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS
1.2.1. Tuân thủ pháp luật phòng, chống HIV/AIDS
Là một hình thức thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS trong đó các chủ thể
thực hiện pháp luật phòng, chống HIV/AIDS kiềm chế không tiến hành những hành vi mà
pháp luật phòng, chống HIV/AIDS ngăn cấm, chẳng hạn Điều 8 quy định những hành vi bị
nghiêm cấm:
1. Cố ý lây truyền hoặc truyền HIV cho người khác; 2. Đe doạ truyền HIV
cho người khác; 3. Kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV; 4. Cha, mẹ bỏ
rơi con chưa thành niên nhiễm HIV; người giám hộ bỏ rơi người được mình
giám hộ nhiễm HIV; 5. Công khai tên, địa chỉ, hình ảnh của người nhiễm HIV
hoặc tiết lộ cho người khác biết việc một người nhiễm HIV khi chưa được sự
đồng ý của người đó, trừ trường hợp quy định tại Điều 30 của Luật này; 6. Đưa
tin bịa đặt về nhiễm HIV đối với người không nhiễm HIV; 7. B¾t buéc xÐt
nghiÖm HIV, 8. Truyền máu, sản phẩm máu, ghép mô, bộ phận cơ thể có HIV
cho người khác; 9. Từ chối khám bệnh, chữa bệnh cho người bệnh vì biết hoặc
nghi ngờ người đó nhiễm HIV;10. Từ chối mai táng, hoả táng người chết vì lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status