LUẬN VĂN:Cơ sở lý luận và thực tiễn về kháng nghị phúc thẩm hình sự của - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Cơ sở lý luận và thực tiễn về kháng nghị phúc
thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ở
Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đấu tranh phòng và chống tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công
minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
là vấn đề hết sức quan trọng trong xã hội, đồng thời cũng là mục đích của tố tụng hình
sự.
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và Luật tổ chức Viện kiếm
sát nhân dân năm 2002 thì Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Mục đích hoạt động của Viện kiểm sát trong tố tụng
hình sự là nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra, xử lý
kịp thời; việc truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không
để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Thông qua việc thực

nghị đã từng bước được nâng lên, nhìn chung đã bảo đảm về hình thức, nội dung có căn
cứ pháp lý; tỷ lệ kháng nghị được Viện kiểm sát cấp phúc thẩm bảo vệ và Toà án cấp
phúc thẩm chấp nhận được tăng lên rõ rệt.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự
còn không ít bất cập. Tỷ lệ kháng nghị được Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận thường
chỉ chiếm 65%; số lượng kháng nghị phúc thẩm có chiều hướng giảm trong khi số án sơ
thẩm phải cải sửa, huỷ án thông qua kháng cáo chiếm tỷ lệ không nhỏ (từ 15% đến 20%
số vụ án xét xử phúc thẩm) hay có một số Viện kiểm sát trong nhiều năm liền không có
kháng nghị phúc thẩm hình sự
Những tồn tại, thiếu sót nêu trên có nhiều nguyên nhân từ nguyên nhân chủ quan đến
nguyên nhân khách quan. Do năng lực và trách nhiệm của cán bộ, kiểm sát viên; lãnh đạo
một số đơn vị chưa thật sự quan tâm tới công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự; mối quan
hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát các cấp về công tác kháng nghị phúc thẩm chưa cao; Bộ
luật tố tụng hình sự chưa có quy định cụ thể về căn cứ kháng nghị phúc thẩm, thời hạn
kháng nghị trên một cấp còn ngắn, việc sao gửi bản án sơ thẩm của Toà án cấp sơ thẩm cho
Viện kiểm sát cấp trên chưa được quy định; trang thiết bị hỗ trợ cho công tác thực hành

quyền công tố và kiểm sát xét xử chưa đáp ứng yêu cầu… những nguyên nhân trên làm cho
chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm bị ảnh hưởng không nhỏ.
Viện kiểm sát phải nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự nói riêng, làm tốt
công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử nói chung để đáp ứng theo yêu cầu
cải cách tư pháp trong tình hình mới và thực hiện tốt Chỉ thị số 03 của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao
Do vậy việc nghiên cứu luận văn “Cơ sở lý luận và thực tiễn về kháng nghị phúc thẩm
hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay” là cần thiết trong thời điểm
hiện nay. Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận về kháng nghị phúc thẩm hình sự và
thực trạng của công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự trong những năm gần đây, tìm ra
nguyên nhân của hạn chế và tồn tại, đưa ra một số giải pháp và kiến nghị để nâng cao
chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự theo tinh thần Chỉ thị 03/2008 ngày 19 tháng
6 năm 2008 về “Tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự” của Viện trưởng

năm 2007.
Tuy nhiên các nghiên cứu, bài viết và chuyên đề nêu trên đề cấp đến những khía cạnh
nhất định hoặc những vấn đề chung nhất. Mỗi bài viết, công trình nghiên cứu chỉ tập
trung giải quyết một hoặc vài nội dung cụ thể liên quan đến chế định kháng nghị phúc
thẩm hình sự, chưa có bài viết hay công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết
dưới góc độ lý luận, thực trạng của công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, lý giải các
yếu tố ảnh hưởng, rồi đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục và nâng cao hơn nữa
chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự trong thời gian tới.
Luận văn tập trung nghiên cứu đến chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện
kiểm sát nhân dân trong pháp luật tố tụng hình sự, từ khái niệm, đặc điểm, vai trò, trình
tự, thủ tục kháng nghị phúc thẩm hình sự (trong đó có nêu lịch sử hình thành, phát triển
chế định này, so sánh với quy định về kháng nghị phúc thẩm hình sự một số quốc gia
trên thế giới); thực trạng của công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự trong những năm
gần đây. Tìm ra nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất
lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự trong thời gian tới.

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Thông qua thực trạng của công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, những ưu điểm, hạn
chế trong quy định của pháp luật hình sự về kháng nghị phúc thẩm cũng như việc áp
dụng quy định này trên thực tế xét xử hiện nay nhằm góp phần hoàn thiện các quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân tối cao
năm 2002 đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp mà Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2 tháng 6
năm 2005 của Bộ Chính trị Ban đề ra.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Một là, làm rõ cơ sở lý luận của kháng nghị phúc thẩm hình sự: Khái niệm, đặc điểm,
vai trò và các yếu tố bảo đảm chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự, trình tự, thủ tục
kháng nghị phúc thẩm hình sự.
Hai là, đánh giá thực trạng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự. Những mặt tích cực và

kháng nghị phúc thẩm hình sự của Việt kiểm sát nhân dân, những mặt được và chưa
được, tìm ra những nguyên nhân.
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đề xuất một số giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao
chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 8
tiết.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH
SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1.1. Khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
Tố tụng hình sự là trình tự tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Tố tụng hình sự bao gồm toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng, người tham gia tố tụng cũng như các nhân, cơ quan, tổ chức khác góp phần
vào việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Để bảo đảm cho việc phát hiện, xác định tội phạm và người phạm tội được chính xác, xử lý
nghiêm minh, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội đồng thời bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Nhà nước, tổ chức Quá trình giải quyết một vụ

Ở Việt Nam, từ thời Pháp thuộc, Viện Công tố đã được thành lập, mô hình này tiếp tục
tồn tại sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trong cơ cấu hệ thống tổ chức của Nhà
nước Việt nam dân chủ cộng hoà. Hiến pháp năm 1946 tuy không đề cập đến Viện công
tố nhưng trong cơ cấu của Toà án có các Công tố viên làm nhiệm vụ buộc tội nhân danh
Nhà nước trước phiên toà trong các vụ án hình sự. Từ năm 1958 Viện công tố được tách
ra khỏi Toà án nhưng trực thuộc Chính phủ và hình thành hệ thống cơ quan Nhà nước
độc lập với Toà án từ trung ương tới địa phương, hoạt động chủ yếu vẫn là hoạt động
công tố trước Toà án. Theo Hiến pháp năm 1959, Viện kiểm sát ngoài chức năng công
tố còn thực hiện một chức năng thứ hai là kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Hiến pháp
năm 1980, Hiến pháp năm 1992 tuy có sửa đổi một số quy định về tổ chức và hoạt
động của Viện kiểm sát nhưng chức năng công tố vẫn giao cho Viện kiểm sát đảm
nhiệm. Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 thì Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng:
Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Nghị quyết số 49-
NQ/TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp

đến năm 2020 vẫn khẳng định: “Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như
hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” [23, tr.5].
Thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng
pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn
điều tra, truy tố và xét xử. Phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi có quyết
định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật (trừ trường
hợp vụ án bị tạm đình chỉ, đình chỉ hoặc có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của
pháp luật). Kiểm sát các hoạt động tư pháp hình sự là chức năng hiến định của Viện
kiểm sát, có nội dung giám sát mọi hoạt động của các cơ quan tư pháp và các cơ
quan được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động tư pháp trong quá trình điều
tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự nhằm bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình
sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và thống nhất. Phạm vi của kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp hình sự cũng bắt đầu từ khi vụ án
hình sự được khởi tố và kết thúc khi người phạm tội đã thi hành xong bản án. Với

đốc thẩm hoặc tái thẩm đảm bảo cho vụ án được xét xử chính xác, khách quan, đúng pháp
luật [47].
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm chỉ có Viện kiểm sát cùng cấp, cùng lãnh thổ với
Toà án đã ra bản án, quyết định sơ thẩm và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp của Viện
kiểm sát này mới có quyền kháng nghị những bản án, quyết định sơ thẩm [47].
Trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, ngay từ những văn bản pháp lý đầu tiên khi
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân
dân được quy định tại:
Điều thứ 34 Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng giêng năm 1946 của Chủ tịch nước “Toà đại
hình sơ thẩm, Ông Biện lý có quyền chống án lên Toà Thượng thẩm” [13, tr.7].
Tiếp đến, tại điểm c Điều 1 mục II Thông tư số 141-HCTP ngày 5 tháng 12 năm 1957
của Bộ Tư pháp “Ông công tố uỷ viên, dưới sự lãnh đạo của Bộ Tư pháp có nhiệm vụ
kháng nghị đối với bản án hoặc nghị quyết của toà án không đúng pháp luật” [6, tr.3].
Kháng nghị phúc thẩm hình sự được ghi nhận một cách chính thức tại Điều 17 Luật Tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 “Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện

kiểm sát nhân dân địa phương có quyền: kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ
thẩm của Toà án nhân dân cùng cấp và dưới một cấp” [28, tr.6].
Tại Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 quy định:
Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử, các viện kiểm sát nhân dân có quyền: …
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực
pháp luật của Toà án nhân dân cùng cấp và dưới một cấp, khi thấy có vi phạm pháp luật
[28, tr.7].
Kháng nghị phúc thẩm hình sự, từ chỗ được quy định là một vài điều trong các Sắc
lệnh, Thông tư, Luật Tổ chức Viện kiểm sát của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà,
sau đó được quy định thành những chế định riêng trong BLTTHS. Qua từng giai đoạn
cụ thể, kháng nghị phúc thẩm hình sự ngày càng được thay đổi, bổ sung và hoàn thiện
hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn trong hoạt động thực hiện chức năng của ngành kiểm
sát. Chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự được sửa đổi, bổ sung rất nhiều lần cho phù
hợp với tình hình thực tế của mỗi thời kỳ cách mạng Việt Nam.

Công tố viên có trách nhiệm tham gia phiên toà tại toà án cấp sơ thẩm nhưng không có
quyền tham gia phiên toà tại toà án hoàng gia. Sau khi kết thúc phiên toà Công tố viên
có quyền: Kháng nghị bản án, quyết định của toà án cấp cơ sở liên quan đến các vấn đề
về pháp luật lên toà án cấp cao; Kháng nghị bản án của toà án hoàng gia liên quan đến
việc tuyên hình phạt nếu cho rằng hình phạt đấy quá nhẹ; Kháng nghị quyết định của
toà phúc thẩm lên Thượng nghị viện nếu xét thấy có liên quan đến vấn đề pháp luật
chung cần có sự xem xét của Nghị viện.
Tại Pháp, Viện công tố Pháp được đặt bên cạnh hệ thống toà án nhưng không lệ thuộc
vào toà án, hoạt động độc lập với toà án. Bộ tư pháp giám sát hoạt động của Viện công
tố.Viện công tố là cơ quan truy tố tội phạm và là cơ quan đại diện cho xã hội bảo vệ lợi
ích chung, đảm bảo áp dụng pháp luật. Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà sơ thẩm
có quyền kháng nghị phúc thẩm bản án của Toà tiểu hình, Viện trưởng Viện công tố bên
cạnh Toà Phúc thẩm có quyền kháng nghị tất cả những bản án của Toà vi cảnh; Viện
công tố có quyền kháng nghị nếu toà án tha bổng bị cáo hoặc ra lệnh điều tra bổ sung
mà Viện công tố không đồng ý; Công tố viên cấp quận, công tố viên trưởng và cán bộ truy

tố bên cạnh Toà án cảnh sát và Toá án công cộng có quyền kháng nghị phán quyết của Toà
vi cảnh. Công tố viên có quyền kháng nghị độc lập hoặc kháng nghị kèm theo kháng cáo
của bị cáo phán quyết của Toà tiểu hình.
Tại Liên bang Nga, Viện kiểm sát Liên bang Nga là hệ thống cơ quan được xây dựng
theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành, theo đó các kiểm sát viên
phải phục tùng Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới phục tùng Viện trưởng
Viện kiểm sát cấp trên, Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp phục tùng Tổng kiểm sát
trưởng Liên bang Nga.Viện kiểm sát Liên bang Nga thực hiện các chức năng: Kiểm sát
việc chấp hành pháp luật của các bộ, các tổng cục thuộc Liên bang, của các cơ quan lập
pháp và hành pháp của các chủ thể thuộc Liên bang Nga; Kiểm sát việc chấp hành pháp
luật của các cơ quan tiến hành các hoạt động trinh sát nghiệp vụ, các cơ quan điều tra
ban đầu và điều tra dự thẩm; Kiểm sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan thi
hành án; Điều tra các vụ án hình sự theo quy định; Phối hợp hoạt động với các cơ quan
trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm. Theo quy định của pháp luật tố tụng

một cấp xét xử mà chỉ là xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
khi phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới). Theo Điều 230
Bộ luật Tố tụng hình sự thì xét xử phúc thẩm là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại
vụ án hoặc quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có
hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Xét xử phúc thẩm là việc xét xử lần thứ hai
(cấp thứ hai). Tính chất của xét xử phúc thẩm là xét xử lại chứ không phải là xem xét
như giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vì có như vậy mới bảo đảm nguyên tắc “hai cấp xét
xử”. Xét xử phúc thẩm là thủ tục quan trọng và có tính quyết định trong hoạt động xét
xử của Toà án.
Xét xử phúc thẩm có hai nhiệm vụ: xét xử lại vụ án về mặt nội dung; kiểm tra tính hợp
pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật cả về
nội dung và hình thức.
Ngoài kháng cáo của những người có quyền kháng cáo thì kháng nghị là điều kiện pháp
lý quan trọng để tiến hành xét xử phúc thẩm, xét xử lại vụ án ở cấp thứ hai. Khác với
kháng cáo, chỉ cần không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm là những người có

quyền kháng cáo sẽ thực hiện kháng cáo, còn đối với kháng nghị thì phải chỉ ra những
vi phạm trong bản án, quyết định sơ thẩm thì mới được kháng nghị. Khi thực hiện
quyền kháng nghị phúc thẩm, Viện kiểm sát phải tuân theo những quy định của pháp
luật về chế định này, không được kháng nghị tuỳ tiện, tràn lan theo ý chí của kiểm sát
viên. Đây là một quyền năng pháp lý đặc biệt duy nhất mà Nhà nước chỉ trao cho Viện
kiểm sát.
Thứ hai, theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân thì Viện
kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất có quyền truy tố người phạm tội ra
trước Toá án để xét xử. Đồng thời Viện kiểm sát cũng thực hiện chức năng kiểm sát các
hoạt động điều tra, hoạt động xét xử nhằm bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử
đúng người, đúng pháp tội, đúng pháp luật. Khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có
vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền
kháng nghị phúc thẩm để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án. Viện kiểm sát bảo vệ

Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất có quyền truy tố người phạm tội ra trước
Toà án để xét xử. Đồng thời Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát điều tra, kiểm
sát xét xử nhằm bảo đảm cho việc truy tố, điều tra, xét xử đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật. Vì vậy, khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm Luật hình sự
hoặc Bộ luật tố tụng hình sự Viện kiểm sát sử dụng quyền kháng nghị phúc thẩm hình
sự để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án.
Từ những phân tích trên đây, có thể đưa ra đưa ra khái niệm: Kháng nghị phúc thẩm là
một quyền năng pháp lý đặc biệt, một hoạt động quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân
và chỉ Viện kiểm sát mới có quyền kháng nghị phúc thẩm. Thông qua kháng nghị phúc
thẩm hình sự Viện kiểm sát bảo vệ quan điểm truy tố của mình đồng thời bảo đảm cho
mọi hoạt động tư pháp được tiến hành đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, khắc phục
tình trạng bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.

Từ những phân tích và lý giải nêu trên và những quy định về kháng nghị phúc thẩm
hình sự trong pháp luật tố tụng hình sự, có thể rút ra một số vấn đề liên quan đến quyền
kháng nghị phúc thẩm hình sự, đó là:
Chủ thể của quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự: Đó là Viện kiểm sát cùng cấp và
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp với Toà án đã tuyên bản án, quyết định sơ thẩm.
Đối tượng của quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự: Bản án hoặc quyết định sơ thẩm
chưa có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm.
Mục đích của quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự: Khi thực hiện quyền kháng nghị
phúc thẩm hình sự, Viện kiểm sát bảo vệ quyền truy tố của mình đồng thời bảo đảm cho
hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.
1.1.2. Đặc điểm của kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ở
Việt Nam
1.1.2.1. Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý đặc biệt, duy nhất mà
Nhà nước chỉ trao cho Viện kiểm sát
Lịch sử phát triển của đất nước cũng như lịch sử phát triển của Viện kiểm sát nhân dân,
từ khi mới thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cho đến nay đã chứng minh

pháp luật, khắc phục tình trạng bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người
vô tội. Viện kiểm sát chỉ thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm khi phát hiện bản án,
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật có sai lầm trong việc đánh giá chứng cứ
hoặc áp dụng pháp luật. Đối với kháng nghị, khi kháng nghị phúc thẩm Viện kiểm sát
phải chỉ ra được lý do tại sao kháng nghị và vi phạm của Toà án trong bản án sơ thẩm là
gì, vi phạm đến đâu…đó chính là bản chất của kháng nghị phúc thẩm, là việc Viện kiểm
sát chỉ ra được những vi phạm pháp luật trong bản án sơ thẩm.
1.1.2.3. Hệ quả của kháng nghị phúc thẩm hình sự là để tiến hành một phiên toà xét
xử cấp thứ hai (cấp phúc thẩm)
Theo quy định của BLTTHS thì Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp

luật khi có vi phạm. Khi Viện kiểm sát đã kháng nghị phúc thẩm thì buộc Toà án cấp
trên phải mở phiên toà xét xử (có sự tham gia của Toà án, Viện kiểm sát, bị cáo, bị
hại…) theo thủ tục phúc thẩm với một Hội đồng xét xử được thành lập. Hậu quả pháp lý
của việc kháng nghị phúc thẩm hình sự là những phần của bản án bị kháng nghị thì chưa
được đưa ra thi hành (trừ một số trường hợp theo quy định của luật) [5, tr.251]. Thẩm
quyền của Toà án cấp phúc thẩm là được giữ nguyên bản án sơ thẩm, sửa bản án sơ
thẩm, huỷ bản án để điều tra, xét xử lại, huỷ án và đình chỉ vụ án.
Khác với kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm là kháng nghị bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có những tình tiết mới có thể
làm thay đổi cơ bản nội dung của vụ án. Kháng nghị giám đốc thẩm thì cả Viện kiểm sát
và Toà án đều có quyền kháng nghị, kháng nghị tái thẩm thì Viện kiểm sát có quyền
kháng nghị, tuy nhiên kháng nghị giám đốc thẩm hay kháng nghị tái thẩm thì chỉ có cấp
trên được quyền kháng nghị, không có kháng nghị ngang cấp như kháng nghị phúc
thẩm. Khi có kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì người có quyền kháng nghị
cũng đồng thời có quyền ra quyết định tạm đình chỉ bản án hoặc quyết định bị kháng
nghị. Phiên toà giám đốc thẩm hoặc tái thẩm chỉ có sự tham gia của Viện kiểm sát và
Toà án (trừ trường hợp cần thiết mới có những người liên quan đến kháng nghị được
triệu tập). Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc hoặc tái thẩm là không chấp nhận kháng

Việt Nam
1.1.3.1. Kháng nghị phúc thẩm hình sự là công cụ hữu hiệu để bảo đảm pháp chế xã
hội chủ nghĩa trong hoạt động xét xử của Toà án
Pháp chế là một chế độ và trật tự pháp luật trong đó tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ
chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm
chỉnh và triệt để. Nó đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước phải được
tiến hành theo đúng quy định của pháp luật, mọi công chức Nhà nước phải nghiêm
chỉnh và triệt để tôn trong pháp luật khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, mọi
vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý nghiêm minh. Tính thống nhất của pháp chế xã hội
chủ nghĩa đòi hỏi bộ máy Nhà nước, các địa phương và mọi công dân trong cả nước
phải nhận thức và thực hiện giống nhau đối với toàn bộ hệ thống pháp luật đã ban hành.

“Pháp chế và trình độ văn hoá minimum thống nhất, chứ không phải của tỉnh Ca-lu-ga”.
Nó không cho phép mỗi nơi có luật lệ riêng, duy trì tình trạng “phép vua thua lệ làng”,
thực hiện pháp luật của nhà nước theo cách vận dụng riêng của mình. bảo đảm tính thống
nhất của pháp chế là điều kiện không thể thiếu để thực hiện dân chủ đối với mọi công dân
và quyền lực nhà nước.
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là chế độ đặc biệt của đời sống chính trị xã hội, trong đó mọi
cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, nhân viên nhà nước, nhân viên của
các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh,
triệt để. Tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và Luật, đảm bảo tính thống nhất của pháp
chế trên quy mô toàn quốc. Viện kiểm sát thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình,
thực hiện quyền kháng nghị nói chung và quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự nói
riêng để đảm bảo cho hoạt động xét xử nói riêng của Toà án và hoạt động của các cơ
quan tư pháp tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh , bảo đảm cho mọi sai sót, mọi
vi phạm đều bị phát hiện và xử lý kịp thời. Thông qua thực hiện quyền kháng nghị của
mình, Viện kiểm sát thể hiện và bảo vệ quan điểm truy tố của mình, đảm bảo cho mọi
hành vi vi phạm pháp luật bị phát hiện, xử lý, không để lọt tội phạm, người phạm tội,
không làm oan người vô tội. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh
và công bằng trong phạm vi cả nước. Đồng thời thông qua việc thực hiện quyền kháng

bản án hoặc quyết định sơ thẩm (kể cả trước và sau khi có BLTTHS ra đời).
Theo Điều 36 Bộ luật tố tụng hình sự thì người có thẩm quyền quyết định việc kháng
nghị phúc thẩm là Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát các cấp. Điều 32 Quy
chế số 960/2007/VKSTC-V3 về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử
các vụ án hình sự nêu cụ thể là: Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
cấp huyện có quyền kháng nghị đối với những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu
lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ
thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh; Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao uỷ quyền cho Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện thực
hành quyền công tố và xét xử phúc thẩm kháng nghị những bản án, quyết định sơ thẩm

chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp tỉnh [35, tr.13]. Đối với các Viện
kiểm sát phúc thẩm thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì theo Điều 32 Quy chế số
960/2007/VKSTC-V3 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã uỷ quyền cho các
Viện trưởng Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà
Nẵng kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân
cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
1.2.2. Thời hạn kháng nghị kháng nghị phúc thẩm hình sự
Theo quy định của BLTTHS thì thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15
ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày tuyên án. Đây là điểm
khác so với quy định tại Thông tư số 19-TATC ngày 2/10/1974 đó là thời hạn kháng
nghị phúc thẩm hình sự trên một cấp là 30 ngày nhưng tính từ ngày nhận được bản sao
bản án. Mục đích của việc sửa đổi, rút ngắn thời hạn kháng nghị phúc thẩm này là để
bảo đảm tính ổn định của bản án. Tuy nhiên trên thực tế cho thấy việc sao gửi bản án
của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới cho Viện kiểm sát cấp trên còn chậm trễ, thậm chí
có đơn vị còn không gửi bản án ảnh hưởng tới hoạt động kiểm sát bản án sau phiên toà,
nhiều vi phạm không được phát hiện hoặc khi phát hiện vi phạm thì không còn thời hạn
kháng nghị làm cho công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự không đạt được hiệu quả.
1.2.3. Căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự

kháng nghị.
Khi có kháng nghị đối với toàn bộ bản án thì toàn bộ bản án chưa được đưa ra thi hành.
1.2.5. Thủ tục bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị phúc thẩm hình sự
Quy định của BLTTHS năm 2003 (sửa đổi, bổ sung) về trình tự, thủ tục thay đổi, bổ
sung, rút kháng nghị có tác dụng tạo điều kiện cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cân nhắc
để có được bản kháng nghị đúng pháp luật, có chất lượng. Vì vậy, mặc dù Viện kiểm sát
đã kháng nghị và gửi cho Toà án cấp phúc thẩm, nhưng rõ ràng trong thời gian chờ mở
phiên toà phúc thẩm là 60 ngày hoặc 90 ngày tương ứng với cấp phúc thẩm tại Toà án
cấp tỉnh, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát vẫn có quyền xem xét
hoàn thiện bản kháng nghị của mình.

Trích đoạn Xây dựng cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh và từng bước hiện đại, góp phần xây dựng, bảo vệ Đảng, Nhà nước. Cải cách tư pháp phải được tiến hành khẩn trương, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm với những bước đi vững chắc [23, tr.2]. Viện kiểm sát tối cao được tổ chức tương đương với Toà án tối cao. Hoàn thiện cơ chế giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các tổ chức xã hội của nhân dân đối với hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status