Tiểu luận:
Tìm hiểu quan điểm đổi mới của Đảng
về giáo dục - đào tạo và tình hình phát triển
của sự nghiệp giáo dục - đào tạo trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
tộc Quan điểm không đúng về đầu tư cho giáo dục trước đây được uốn nắn lại: Phải
coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo
điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội.
Như vậy, đường lối phát triển giáo dục - đào tạo của Đảng có tầm quan trọng
như là một đường lối chiến lược nhằm chấn hưng nước nhà.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của giáo dục - đào tạo, tôi chọn vấn đề: " Tỡm
hiểu quan điểm đổi mới của Đảng về giáo dục - đào tạo và tỡnh hỡnh phỏt triển của
sự nghiệp giỏo dục - đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
" làm vấn đề nghiên cứu trong tiểu luận này.
II. Nội dung
1. Những yêu cầu cấp bách của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với sự
nghiệp giáo dục - đào tạo
Trên cơ sở đổi mới tư duy lý luận, nhận thức lại về thời kỳ quá độ và tổng kết,
khảo nghiệm thực tiễn, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986)
Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện.
Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã có sự chuyển mình
thực sự. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6-1996) đã kết luận: nước
ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đã hoàn thành chặng đường đầu tiên của
thời kỳ quá độ, đó là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa. Xuất phát từ những thành
quả của 10 năm đổi mới, từ những tiền đề đã được tạo ra, Đảng ta nhận định rằng nước ta
đã chuyển sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Yếu tố công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được Đảng ta xác định là nhiệm vụ
trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu, "công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường
thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước chung quanh, giữ được ổn định
chính trị, xã hội, bảo vệ được độc lập, chủ quyền và định hướng phát triển XHCN"
(1)
.
lực, là nền tảng để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Như vậy, muốn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải dựa vào con
người, nguồn lực con người. Đây là nhân tố quyết định thắng lợi của công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở nước ta.
Do đó, ngành giáo dục - đào tạo có nhiệm vụ rất lớn là phải mạnh dạn tìm ra
những cách đi hoàn toàn mới để tạo ra được nguồn nhân lực cho sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu thực hiện mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại.
2. Những quan điểm cơ bản của Đảng ta về giáo dục - đào tạo trong thời
kỳ đổi mới
a. Những quan điểm đổi mới của Đảng về giáo dục - đào tạo
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI (tháng 12-1986) Đảng ta đề ra đường lối
đổi mới toàn diện, trong đó mục tiêu của giáo dục - đào tạo đã được Đảng ta xác định:
"Giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách XHCN của thế
hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu
cầu phân công lao động của xã hội. Sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục đại học và
chuyên nghiệp, trực tiếp góp phần vào việc đổi mới công tác quản lý kinh tế và xã
hội"
(1)
.
Cùng với quá trình đổi mới, Đảng ta cũng đã từng bước thể hiện sự đổi mới tư
duy giáo dục. Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) Đảng ta
tiếp tục xác định cụ thể hơn: "Mục tiêu giáo dục - đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay
nghề, có năng lực thực hành, tinh thần yêu nước, yêu CNXH. Nhà trường đào tạo thế
hệ trẻ theo hướng toàn diện, có năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự
(tháng 6-1996) của Đảng đã nêu ra quan điểm và phương hướng phát triển giáo dục -
đào tạo với những nội dung sau:
- Giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành
quốc sách hàng đầu. Phải coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, tạo điều
kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế - xã hội. Huy động
toàn xã hội làm giáo dục dưới sự quản lý của nhà nước.
- Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài, đào tạo những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, kỹ năng nghề nghiệp,
lao động tự chủ, sáng tạo và có kỷ luật, giàu lòng nhân ái yêu nước, yêu CNXH. Phải
mở rộng quy mô, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, gắn học
với hành, tài với đức.
- Giáo dục phải vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước, vừa phù hợp với
xu thế tiến bộ của thời đại.
- Đa dạng hóa các hình thức đào tạo. Thực hiện công bằng xã hội trong giáo
dục. Bằng nhiều hình thức đa dạng bảo đảm cho mọi người được đến trường, nhất là
người nghèo và con em các gia đình chính sách.
- Cải tiến chất lượng dạy và học, khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong
ngành giáo dục để hoàn thành tốt việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn lực con người cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Chú trọng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo
dục nhân văn, lịch sử dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn
hóa của nhân loại.
- Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học.
- Củng cố và phát triển ngành giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số và những
vùng khó khăn.
- Tổng kết cải cách giáo dục, xây dựng chiến lược phát triển giáo dục và đào
tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Tăng cường các nguồn lực cho giáo dục - đào tạo: Đầu tư cho giáo dục - đào
tạo lấy từ nguồn chi thường xuyên và nguồn chi phát triển trong ngân sách nhà nước.
Tích cực huy động các nguồn lực ngoài ngân sách, cho phép các trường dạy nghề,
trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và các Viện nghiên cứu lập cơ sở sản xuất
và dịch vụ khoa học đúng với ngành nghề đào tạo. Xây dựng và công bố công khai
quy định về học phí và các khoản đóng góp theo nguyên tắc không thu bình quân,
miễn giảm cho người nghèo và người thuộc diện chính sách. Có chính sách ưu tiên ưu
đãi đối với việc xuất bản sách giáo khoa, tài liệu dạy học, nhập khẩu trang thiết bị
dạy học và trong nước chưa sản xuất được. Các ngân hàng lập quỹ tín dụng đào tạo
cho con em các gia đình có thu nhập thấp, cho vay với lãi suất ưu đãi để có điều kiện
học tập ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Nhà
nước quy định cơ chế cho các doanh nghiệp đầu tư vào công tác đào tạo và đào tạo
lại. Dành ngân sách nhà nước thỏa đáng để cử những người giỏi, có phẩm chất tốt để
đi đào tạo ở nước ngoài. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam ở
nước ngoài có khả năng về nước tham gia giáo dục - đào tạo. Sử dụng một phần vốn
vay và viện trợ của nước ngoài để xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục - đào tạo. Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể, các tổ chức xã hội, các cơ sở sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ tích cực góp sức phát triển giáo dục - đào tạo.
- Xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy và người học: Phải
củng cố và tập trung đầu tư nâng cấp các trường sư phạm. Không thu học phí và thực
hiện chế độ học bổng ưu đãi đối với học sinh, sinh viên ngành sư phạm; có chính sách
thu hút học sinh tốt, khá, giỏi vào ngành sư phạm. Thực hiện chương trình bồi dưỡng
thường xuyên, bồi dưỡng chuẩn hóa, nâng cao phẩm chất và năng lực cho đội ngũ
giáo viên. Lương giáo viên được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành
chính sự nghiệp và có thêm chế độ phụ cấp tùy theo tính chất công việc, theo vùng do
Chính phủ quy định. Có chính sách sử dụng và đãi ngộ đúng giá trị nguồn nhân lực
được đào tạo.
- Tiếp thu đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục - đào tạo và tăng cường cơ
mở rộng quan hệ trao đổi và hợp tác giáo dục - đào tạo với nước ngoài.
Với 4 giải pháp mà Nghị quyết đã nêu, muốn được triển khai thực hiện tốt thì
dứt khoát phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục - đào tạo. Đặc biệt
khi bước sang thế kỷ XXI, trên thế giới có nhiều biến đổi. Khoa học và công nghệ sẽ
có những bước tiến nhảy vọt Nền kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong
quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan
lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia.
Trước tình hình, Đảng ta tiếp tục có những định hướng quan trọng để thúc đẩy
sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) đã nêu
bật những quan điểm sau: Phát triển giáo dục toàn diện; xây dựng nền giáo dục theo
hướng "chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa"; thực hiện công bằng xã hội trong giáo
dục; phát triển giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, "học đi
đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội"; coi
trọng hướng nghiệp, dạy nghề, tập trung vào mục tiêu nhân lực.
Trên cơ sở những quan điểm trên, Đại hội IX đã đưa ra mục tiêu cho giáo dục
- đào tạo trong thế kỷ XXI như sau: "Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê
hương, gia đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn
trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo
hèn. Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp,
quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học
và công nghệ. Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa
học, nhà văn hóa, nhà kinh doanh, nhà quản lý. Chính sách sử dụng lao động và nhân
tài phải tận dụng mọi năng lực, phát huy mọi tiềm năng của các tập thể và cá nhân
phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước"
(1)
.
Những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo, các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu định
b. Những nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp để tiếp tục phát triển sự nghệp giáo
dục - đào tạo.
Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (khóa IX) đã đề ra 3 nhiệm vụ sau:
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, trong đó phải đẩy mạnh việc đổi
mới phương pháp dạy - học; đổi mới việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo
dục quốc dân; đưa tin học vào nhà trường và ứng dụng công nghệ thông tin truyền
thông vào quá trình dạy học; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán
bộ quản lý giáo dục; triển khai hệ thống kiểm định chất lượng; nâng cao chất lượng giáo
dục không chính quy và đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình kiên cố hóa trường
học, lớp học.
- Phát triển quy mô giáo dục cả đại trà và mũi nhọn, trên cơ sở bảo đảm chất
lượng và điều chỉnh cơ cấu đào tạo, gắn đào tạo với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
đào tạo với sử dụng. Phải phát triển mạnh cả đào tạo nghề dài hạn và ngắn hạn thích
hợp với từng vùng. Nhà nước chịu trách nhiệm đầu tư xây dựng cơ bản cho những
lĩnh vực đào tạo nghề quan trọng và những nơi khó khăn, hỗ trợ một phần chi phí
thường xuyên cho đào tạo nghề. Xây dựng các cơ sở đào tạo nghề lưu động để tổ chức
huấn luyện kỹ năng, phục vụ chuyển giao kỹ thuật cho vùng sâu, vùng xa. Củng cố và
phát triển các trung tâm giáo dục thường xuyên, các trung tâm giáo dục cộng đồng để
tạo cơ sở hạ tầng cho việc xây dựng xã hội học tập.
- Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục: Hỗ trợ học sinh sinh viên thuộc
diện chính sách và thuộc gia đình nghèo; phát triển chương trình cấp học bổng,
chương trình tín dụng đào tạo và chương trình hỗ trợ đặc biệt cho các xã nghèo. Phát
triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số, phát triển giáo dục trẻ khuyết tật và phát triển
hợp tác quốc tế để tăng cường nguồn lực cho giáo dục.
Để thực hiện những nhiệm vụ trên, kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa IX)
đã đề ra 5 giải pháp sau:
Một là: Đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước về giáo dục.
Trên thực tế sự chuyển đổi cơ chế và phát triển kinh tế đòi hỏi giáo dục - đào
tạo phải tiếp cận và thích nghi với cơ chế mới, phải luôn phát triển và đi trước một
bước đón đầu sự phát triển của xã hội. Do vậy toàn thể dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của
Đảng phải tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, lao động cần cù, tinh thần hiếu
học, thông minh sáng tạo để vận dụng tri thức và kỹ năng mới; cần vượt qua thách
thức, tranh thủ thời cơ để xây dựng một nền giáo dục - đào tạo đáp ứng nhu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng tới thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh./.
Tài liệu tham khảo 1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung
ương khóa VII.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung
ương khóa VIII.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngành giáo dục - đào tạo thực hiện Nghị quyết Trung
ương 2 (khóa VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, Nxb Giáo dục,
2002.
4. Ban Khoa giáo Trung ương, Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới chủ
trương, thực hiện, đánh giá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VIII,
IX.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ
khóa VII.
15