BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
---------------------------
Nguyễn Thị Mai Thu
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS BÙI NGỌC OÁNH
SP : Sư phạm
UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Khoa học Công nghệ -
Sau đại học Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt khóa học và trong việc hoàn thành luận
văn này.
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, hướng
dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập,
nghiên cứu.
Xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình II,
các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ, giúp đỡ, động viên tạo điều kiện để chúng tôi
yên tâm học tập.
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS. Bùi Ngọc Oánh, người đã
tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo để chúng tôi hoàn thành luận văn này. Thành phố Hồ Chí Minh ngày tháng năm
Tác giả
Nguyễn Thị Mai Thu
kiểm tra và rèn luyện năng lực của chính bản thân mỗi người. Cũng thông qua đợt thực tập, các
em có dịp tôi rèn năng khiếu chuyên môn (viết, đọc, nói); khả năng ứng xử nhạy bén, thông
minh; kỹ năng giao tiếp, phẩm chất đạo đức của một nhà báo tương lai, đáp ứng tốt nhất yê
u
cầu vốn rất khắc khe của cơ quan báo chí nói riêng và xã hội nói chung về một phóng viên báo chí.
Trong từ 2 đến 3 năm được đào tạo tại trường Cao đẳng Phát thanh- truyền hình II (CĐ
PT-TH II), sinh viên và học sinh có đợt thực tập vào học kỳ cuối của năm 2 (đối với học sinh hệ
Trung cấp), và vào học kỳ cuối của năm 3 (đối với sinh viên hệ Cao đẳng). Đợt thực tập là dịp
để các em có điều kiện tiếp xúc với m
ôi trường thực tế, con người thực tế, hoàn cảnh thực tế,
trên cơ sở vận dụng những kiến thức đã học để sáng tạo ra những tác phẩm báo chí có chất
lượng, sử dụng được trên các phương tiện thông tin đại chúng, được bạn đọc, công chúng chấp
nhận.
Từ ngày thành lập đến nay, việc tổ chức và quản lý thực tập ở trường Cao đẳng PT-TH II
đã được các thế hệ Ban giám hiệu quan tâm chỉ đạo và thực hiện, song nhìn lại vẫn còn một số
tồn tại. Nhất là trong giai đoạn trước mắt, trường vừa được nâng cấp lên hệ Cao đẳng với số
lượng sinh viên tăng cao, đòi hỏi phải có kế hoạch tương ứng.
1.3. Nghiên cứu khoa học về vấn đề thực tập nghề cho học sinh sinh viên nói
chung đã có
nhiều tài liệu, luận văn thạc sĩ khác đề cập, song chưa có một công trình nghiên cứu về quản lý
thực tập báo chí của ngành Phá
t thanh-Truyền hình khu vực phía Nam. Vì vậy, chúng tôi mạnh
dạn chọn đề tài: “Thực trạng việc quản lý thực tập báo chí tại trường Cao đẳng Phát thanh-
Truyền hình II”, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả thực tập cho học sinh, sinh viên;
thực hiện phương châm giáo dục đúng đắn của Đảng “Học đi đôi với hành”.
2. Mục đích nghiên cứu
Phân tích thực trạng của việc quản lý thực tập của trường Cao đẳng PT-TH II trong
những năm qua, để tìm
ra những giải pháp cụ thể nhằm giúp nhà trường, các bộ phận có liên
quan có thể quản lý việc thực tập của học sinh hệ trung học chuyên nghiệp và sinh viên hệ cao đẳng
- Xử lý số liệu, thống kê, tính phần trăm
, bình luận từng vấn đề.
7.2. Phương pháp phỏng vấn
Nhằm tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn, mong muốn, nguyện vọng của các em về việc
thực tập, những ý kiến đóng góp đề xuất về việc quản lý của trường, khoa cho việc thực tập.
Đối tượng phỏng vấn:
Cán bộ quản lý
Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên t
hực tập
Cơ sở hướng dẫn thực tập
7.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm để đánh giá chất lượng:
Nhận xét kết quả học tập các môn báo chí của sinh viên.
Nhận xét kết quả thực tập tại cơ sở.
So sánh, đối chiếu, đánh giá, phân loại, tổng kết.
7.4. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu các văn bản về chủ trương, chính sách của Bộ giáo dục đào tạo,
Nghị quyết của Đảng, văn bản của Ngành giáo dục.
Tham khảo các nguồn tư liệu từ sách báo, tạp chí, internet có liên quan đến
vấn đề nghiên cứu.
7.5. Phương pháp quan sát
Thực hiện bằng cách tiếp cận, xem xét để thu thập dữ liệu thực tế về hoạt động thực tập và
hoạt động quản lý thực tập, để đánh giá sự phù hợp giữa phương pháp quan sát và phương pháp
điều tra.
Đối tượng quan sát: Phòng đào tạo, Khoa báo chí, Sinh viên khoa báo chí, các Trưởng phó
khoa, các cơ sở tiếp nhận sinh viên đến thực tập.
Mục đích của việc quan sát là tìm hiểu thực trạng của việc quản lý thực tập của Phòng đào
tạo, Khoa báo chí, sự phối hợp với các bộ phận có liên quan.
7.6. Phương pháp sử dụng toán thống kê
iện nay. Đó chính là bộ chương trình được ban hành kèm theo các Quyết định
số 3086/GD-ĐT ngày 27/7/1996, Quyết định số 3637/GD-ĐT ngày 30/8/1996 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều dạng khác nhau, nhằm mục đích nâng cao
chất lượng thực tập như:
+ Cá
c Hội thảo, Hội nghị chuyên đề những năm gần đây:
- Hội thảo “Công tác thực tập sư phạm ở các trường sư phạm”
do Viện nghiên cứu Giáo
dục tổ chức tháng 04/2008, xoay quanh các vấn đề đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp
nâng cao chất lượng công tác thực tập sư phạm.
- Hội thảo hoa học Quốc gia “Sinh viên với đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu đất
nước” do GS.TSKH Nguyễn Thiện Nhân- Bộ trưởng Bộ GD-ĐT- Phó thủ tướng chính phủ chủ
trì, ngày 20/8/2008, nhấn mạnh việc ngành giáo dục chủ động xây dựng chương trình chú trọng
thực học, thực hành, chuẩn bị kỹ năng nghề cho người học; các cơ sở đào tạo tăng cường tổ
chức các hoạt động, các loại hình câu lạc bộ để si
nh viên có điều kiện rèn luyện các kỹ năng
liên quan đến nghề, phát huy đựơc năng lực của bản thân sau khi ra trường.
- Hội thảo “Công tác thực tập và đào tạo báo chí” do khoa Báo chí Trường Đại học khoa
học xã hội và nhân văn Hà Nội tổ chức ngày 19/04/2008.
- Hội thảo “Thực hành về nghiệp vụ Báo chí” do Chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng
Bắc Giang tổ chức trong 2 ngà
y 7, 8/4/2008.
- Hội thảo khoa học “Đào tạo Báo chí đáp ứng nhu cầu xã hội, thực tiễn và những vấn đề
đặt ra” do Học viện Báo chí và tuyên truyền tổ chức ngày 22/04/2008. Hội thảo tập trung thảo
luận về chất lượng sinh viên ra trường; đổi mới phương pháp đào tạo; bồi dưỡng cán bộ làm
công tác giảng dạy; tăng cường sự liên kết giữa nhà trường và các cơ quan báo chí.
- Hội thảo “Tiềm năng và khả năng của Trường Đại học Tiền Giang trong hợp tác về
khoa học công nghệ”, nhấn mạnh việc phối hợp tổ chức hướng dẫn si
nh viên khối ngành kỹ
-“Thực tập sư phạm” (1997) của Tiến sĩ Nguyễn Đình Chỉnh đã nêu lên và giải quyết
những vấn đề cơ bản như: xác định nội hàm khái niệm cơ bản là năng lực sư phạm; mối quan
hệ giữa lý thuyết và thực hành; thực tập sư phạm đối với những môn học công cụ như: tâm lý
học, giáo dục học, phương pháp dạy học bộ m
ôn; các hình thức tổ chức thực tập sư phạm ở các
trường sư phạm.
Như vậy, các đề tài quản lý hoạt động thực tập tuy chưa nhiều nhưng thực sự là vấn đề
được nhiều người quan tâm nghiên cứu và cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về từng
chuyên ngành. Với nguồn tài liệu thu thập được, chúng tôi nhận thấy chưa có tác giả nào đề cập
và nghiên cứu vấn đề này ở phạm vi một trường Cao đẳng giảng dạy báo chí, nên đã chọn đề tài
“Thực trang quản l
ý thực tập báo chí tại trường Cao đẳng phát thanh-truyền hình II”. Những
công trình nghiên cứu nêu trên sẽ là cơ sở khoa học để tham khảo, giúp chúng tôi nắm chắc, sâu
hơn về lĩnh vực nghiên cứu.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Một số quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước
1.2.1.1. Về giáo dục đào tạo
Đảng cộng sản Việt Nam
luôn khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Văn kiện Đại hội Đảng VII ghi rõ: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo được
xem là quốc sách hàng đầu, đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu; vươn lên
trình độ tiên tiến của thế giới”.
Một trong những giải pháp phát triển giáo dục ở nước t
a từ nay đến năm 2010 được
chính phủ trình trước Quốc hội tháng 10 năm 2004 là: “Tập trung đổi mới mạnh mẽ phương
pháp dạy học…giảm bớt giờ lên lớp, tăng thời gian tự học và thảo luận chuyên đề”
Mục tiêu phát triển các cấp bậc học, trình độ và loại hình giáo dục được ghi rõ trong
Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010: “Phát triển giáo dục không chính quy như là một
hình t
Hiện đại hóa một số trường dạy nghề, tăng nhanh tỷ lệ lao động được đào tạo trong toàn bộ lao
động xã hội. Đào tạo để thế hệ trẻ có nghề nghiệp theo yêu cầu của xã hội là nhiệm vụ trước
mắt mà ngành giáo dục phải đặc biệt quan tâm.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống giáo dục đại học- cao đẳng chiếm một vị trí
vô cùng quan trọng. Vì thế, nâng cao chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học để đáp ứng yêu cầu
của thực tiễn giáo dục, thiết thực phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước l
à yêu
cầu bức thiết trong giai đoạn hiện nay.
Điều 36 của Luật giáo dục đã ghi: “Đào tạo trình độ cao đẳng phải đảm bảo cho sinh viê
n
có những kiến thức khoa học cơ bản và chuyên ngành cần thiết; chú trọng rèn luyện kỹ năng cơ
bản và năng lực thực hiện công tác chuyên môn”.
Nét đặc thù cơ bản trong nội dung và phương pháp đào tạo ở các trường cao đẳng, đại
học chính là đào tạo nghề. Trong đào tạo nghề thì việc rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh
viên để đáp ứng nhu cầu của thực tế xã hội là một yêu cầu phải đựơc đặt lên hàng đầu. Do vậy,
nội dung t
hực hành, thực tập phải chiếm một tỷ trọng khá lớn trong nội dung chương trình đào
tạo. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề, cũng chính là thực hiện theo tinh thần của Nghị quyết
IX: “Đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người
học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khóa, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt,
học chay”.
Quy định về “Công tác hướng nghiệp, tư vấn việc làm trong các cơ sở giáo dục đại học
và trung cấp chuyên nghiệp” (Ban hành kèm
theo Quyết định số: 68/2008/QĐ-BGDĐT ngày
09/12/2008 của Bộ trưởng Bộ giáo dục đào tạo) cũng ghi rõ: các đơn vị đào tạo cần “ Tăng
cường sự phối hợp giữa cơ sở giáo dục với đơn vị sử dụng lao động để việc đào tạo của nhà
trường tiếp cận với thực tiễn và đáp ứng nhu cầu của xã hội; Tổ chức câu
lạc bộ hướng nghiệp,
hoạt động ngoại khóa, giao lưu với đơn vị sử dụng lao động, giúp người học bổ sung kiến thức
phẩm
báo chí Việt nam….Muốn hiểu, muốn chia xẻ với nhân dân phải có mặt ở những nơi tiêu
biểu nhất, sôi động nhất của cuộc sống.
Phát biểu tại buổi làm việc với Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam, nhân kỷ niệm 82
năm ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, ngày 20/06/2007, đồng chí Trương Tấn Sang -Ủy
viên Bộ chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã có bài phát biểu quan trọng. Đồng chí nhấn mạnh:
“Báo chí góp phần tích cực vào việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thông tin, cổ vũ các
phong trào hành động cách mạng, phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp
nhân dân; phát hiện, cổ vũ những nhân tố mới, điển hình tiên tiến, chống tham nhũng, lãng phí,
quan liêu, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các
thế lực thù địch; góp phần thắt chặt tình hữu nghị, sự hợp tác nhiều mặt của đất nước ta với bạn
bè quốc tế.”
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X chỉ rõ: “Hướng báo chí xuất bản làm
tốt chức năng
tuyên truyền, thực hiện đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước; Tạo điều kiện
cho các lĩnh vực xuất bản, thông tin đại chúng phát triển, nâng cao chất lượng tư tưởng văn hóa,
vươn lên hiện đại về m
ô hình, cơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất- kỹ thuật; đồng thời xây dựng cơ
chế quản lý phù hợp, chủ động và khoa học”
Đặt báo chí trong tiến trình đổi mới, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá: “Sau Đại
hội Đảng lần thứ X, qua một số hoạt động của Đảng và Nhà nước, bước đầu đã tạo được sự
đồng t
huận và hưởng ứng tích cực của nhân dân, nhất là về phát triển kinh tế, cải cách hành
chính và về thái độ kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Kết quả này có
sự đóng góp tích cực của báo chí”.
Chỉ thị số 37/2006/CT-TTg, ngày 29/11/2006, của Thủ tướng Chính phủ về việc thực
hiện kết luận của Bộ chính trị về một số biện pháp tăng cường lãnh đạo và quản lý báo chí, ghi
rõ: Thực hiện nghiêm
- “Hoạt động có sự tác động qua lại giữa hệ thống và môi trường, do đó: quản lý được
hiểu là việc đảm bảo hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ
thống và m
ôi trường, là chuyển động của hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh
mới” [33]
- Quản lý là tác động có định hướng, có kế họach của chủ thể quản lý đến tập thể những
người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến. [31,
tr.35]
- Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân
biến thành những thành tựu của xã hội. (Trần Kiểm- Giáo trình “Quản lý giáo dục và trường
học”- Viện khoa học giáo dục, Hà Nội. [44, tr.15]
- Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể
quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung. (Khoa học tổ chức và quản lý-một số vấn đề lý luận và
thực tiễn, Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức quản lý - NXB Thống kê- Hà Nội - 1999).
[36]
- Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp
hoạt động của họ trong quá trình lao động. (TS. Nguyễn Bá Sơn: Một số vấn đề cơ bản về khoa
học quản lý, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000). [32]
- Quản lý là những t
ác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp,
sử dung, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức
(chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất. [45]
- Quản lý là: phải biết đào tạo, bồi dưỡng, chia sẻ trách nhiệm
, quyền hạn và phải biết ủy
quyền. [37]
- Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người
quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận
học, vừa có tính nghệ thuật, vừa có tính pháp luật Nhà nước vừa có tính xã hội. Chúng là những
mặt đối lập trong một thể thống nhất. Đó l
à biện chứng, là bản chất của hoạt động quản lý.
Quản lý còn có tác dụng định hướng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục
tiêu và hướng mọi nỗ lực của các cá nhân, của tổ chức vào mục tiêu chung đó. Tổ chức, điều
hòa, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân trong tổ chức, giảm độ bất định nhằm
đạt đựơc mục tiêu quản lý đã xác định. Tạo ra động lực cho hoạt động bằng cách kích thích
,
đánh giá, khen thưởng, trách phạt, tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cá
nhân và tổ chức, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và có hiệu quả.
Bản chất của hoạt động quản lý là tổ chức, chí huy và điều khiển phù hợp quy l
uật của
chủ thể quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả những mục tiêu của tổ chức (đơn vị) đã đề ra.
1.2.2.2. Quản lý giáo dục
- Theo M.M. Mêchti- Zade, quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức,
phương pháp cán bộ, kế hoạch hóa, tài chính, cung tiêu…) nhằm bảo đảm sự vận hành bình
thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ
thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng.
- Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục (và nói riêng, quản lý trường
học) là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp với qui luật của chủ thể quản lý
(hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đuờng lối
và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực
hiện được các tính chất của nhà trường XHCN của Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình
dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới
về chất.” [31]
- Theo TS Trần Kiểm thì khái niệm “quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ. Hai cấp độ chủ
yếu là cấp vĩ mô và cấp vi mô. [44]
Đối với cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích,
Như vậy, chúng tôi
hiểu rằng, quản lý giáo dục là sự tác động liên tục có tổ chức, có
định hướng, của chủ thể quản lý lên đối tượng giáo dục và khách thế quản lý giáo dục về các
mặt chính trị, văn hóa, xã hội
, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các
nguyên tắc, các phương tiện, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự
phát triển của đối tượng. Nói khác, quản lý giáo dục là tìm kiếm, xây dựng những giải pháp,
biện pháp quản lý phù hợp, dựa trên tình hình thực tế về nhân lực, về điều kiện vật chất của một
cơ quan giáo dục để có thể ngày càng nâng cao, phát triển hệ thống giáo dục đó trong chiều
hướng phát triển của toàn xã hội.
Quản lý giáo dục được xem như một khoa học nhằm góp phần nâng cao hiệu quả, chất
lượng đào tạo.
Đối tượng và
khách thể quản lý
giáo dục
Chủ thể quản lý
giáo dục
Phương pháp
Công cụ
- Quản lý hoạt động thực tập là quá trình vận dụng các chức năng quản lý (lập kế hoạch
,
tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) một cách sáng tạo để tổ chức, điều hành toàn bộ các hoạt động có
liên quan đến việc thực tập. Cụ thể là:
Xây dựng kế hoạch thực tập với nội dung thực tập rõ ràng.
Tổ chức thực hiện hoạt động thực tập với sự phân công phân nhiệm cho từng nội
dung công việc đến từng người, từng bộ phận có liên quan.
Kiểm tra t
hực tập theo những quy định và thời điểm nhất định.
Đánh giá hoạt động thực tập.
- Quản lý hoạt động thực tập cũng bao hàm ý nghĩa tìm những giải pháp tốt nhất để thực
hiện một cách có hiệu quả nội dung thực tập trên cơ sở đảm bảo những điều kiện thuận lợi giúp
sinh viên có thể thực tập tốt và tích lũy thêm được kiến thức, kinh nghiệm cho bản thân. Từ đó,
kiến thức đã học được củng cố và nâng cao để sinh viên có thể vững vàng hơn về các kỹ năng
cũng như có những nhận thức đúng đắn hơn về nghề nghiệp.
Mục đích cuối cùng của quản lý thực tập là thực hiện được mục tiêu của kỳ thực tập bằng
những biện pháp tốt nhất, khả thi nhất.
Quản lý tốt việc thực tập cũng chính là thông qua các biện pháp m
à nâng cao hiệu quả
thực tập cho sinh viên, làm cho thực tập trở thành một thời gian bổ ích đối với sinh viên.
* Thực tập là gì?
Thực tập là làm trong thực tế để áp dụng và củng cố kiến thức lý thuyết, trau dồi thêm
về nghiệp vụ chuyên m
ôn (Từ điển tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên -
NXB Đà Nẵng 1998)
Theo định nghĩa của Đại tự điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên): Thực tập là tập
làm trong thực tế để áp dụng, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn: sinh viên đi thực tập ở nhà máy,
sau đợt thực tập phải nộp tổng kết, báo cáo cho nhà trường.
Thực tập (Stage) theo định nghĩa của tự điển LaRousse thì đây là giai đoạn học tập,
cao tay nghề, hoàn thiện ý thức và tình cảm nghề nghiệp. Đây là khoảng thời gian sinh viên tìm
một cơ sở truyền thông và đến đó làm việc như một nhân viên thực thụ, chấp hành mọi qui định
của nơi thực tập, được nơi tiếp nhận quản lý và đánh giá. Thời gian này sẽ giúp sinh viên làm
việc một cách vững vàng hơn sau khi tốt nghiệp, hoặc sẽ chọn đựơc những công việc phù hợp
hơn với khả năng của chính mình trong tương lai.
Như vậy, việc thực tập báo chí là một hình thức đào tạo có mục đích rõ ràng là rèn luyện
và nâng cao tay nghề làm báo cho sinh viên thông qua việc cọ xát với môi trường thực tế, góp
phần đào tạo những phóng viên báo chí vừa hồng vừa chuyên, đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của
hoạt động báo chí căng thẳng trong xã hội hiện đại.
* Yêu cầu thực tập báo chí
Sinh viên sẽ được phân công t
hực hiện những công việc cụ thể theo chuyên ngành bá
o
chí đã được đào tạo. Đối với nhà trường, sinh viên thực tập cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Sinh viên báo chí hệ trung cấp thực hiện tối thiểu 8 tin hoặc 1 bài có khả năng được
phát sóng hoặc đăng báo. (Với những t
in, bài được đăng hoặc phát sóng, tùy theo đánh giá của
cơ sở thực tập mà Hội đồng chấm thực tập quyết định cộng thêm điểm)
- Sinh viên báo chí hệ cao đẳng t
hực hiện tối thiểu 10 tin và 2 bài; có thể kết hợp viết bài,
làm chương trình theo nhóm. (Với những tin, bài được đăng hoặc phát sóng, tùy theo đánh giá
của cơ sở thực tập mà Hội đồng chấm thực tập quyết định cộng thêm điểm)
- Tin, bài đã viết phải có ý kiến nhận xét, sữa chữa và xác nhận của người hướng dẫn tại
cơ sở thực tập, có ký duyệt của người chịu trách nhiệm nội dung với loại hình PT-TH, có kèm
theo băng thu chương trình, bài
báo có kèm manchette đối với báo in.
- Kết thúc đợt thực tập cơ sở, sinh viên phải nộp báo cáo cùng phiếu thực tập có nhận xét
và xác nhận của cơ sở thực tập, có thể kèm theo băng cassette, băng ghi hình hoặc đĩa thu
chương trình đã được phát sóng.
iảng dạy, quản lý các hoạt động học tập của sinh viên, mục tiêu và nội dung thực tập,
các quy định về báo cáo lịch giảng dạy, đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo nội quy,
quy chế của trường; quản lý việc thực hiện các nội dung công tác giáo viên chủ nhiệm của gi
áo
viên chủ nhiệm các lớp.
* Quản lý việc chuẩn bị thực tập
- Quản lý việc chuẩn bị thực tập là quản lý việc làm cho giáo viên, sinh viên nhận thức
được mục tiêu thực tập, nắm vững kế hoạch thực tập, nắm vững chương trình thực tập, hình
thức thực tập.
- Công tác chuẩn bị thực tập phải được khoa báo chí báo cáo với lãnh đạo phòng đào tạo,
Ban giám hiệu vào đầu năm học mới.
- Phòng đào tạo lên kế hoạch để thông báo chung cho sinh viên và giảng viên toàn
trường.
- Quản lý việc khoa báo chí kết hợp với giáo viên chủ nhiệm hỗ trợ việc liên hệ tìm địa
điểm thực tập cho sinh viên.
* Quản lý việc triển khai kế hoạch thực tập:
- Phổ biến mục tiêu thực tập
- Hướng dẫn sinh viên thực tập
- Phương pháp hướng dẫn sinh viên thực tập
- Kết quả thực tập
- Đánh giá về thực tập:
+ Mức độ vừa sức của nội dung thực tập
+ Mức độ hợp lý về thời gian thực tập
+ Việc quản lý tổ chức thực tập
* Quản lý việc kiểm tra, đánh giá thực tập
- Quản lý việc tổ chức theo dõi thực tập (tại cơ sở trường, tại cơ sở báo chí) của sinh
viên.
- Quản lý việc ra qui định về chế độ kiểm tr
a, cho điểm kết quả thực tập.
hoặc nhận thức rõ hơn về việc thực tập của mình.
- Hướng dẫn sinh viên thực tập
Trong thời g
ian thực tập, người theo sát, hướng dẫn sinh viên là các giáo viên thực hành
bộ môn (đối với thực tập tại trường), các phóng vi
ên, biên tập (đối với thực tập tại các cơ sở
báo chí). Vì vậy chúng tôi đã tiến hành thăm dò về việc này để biết sinh viên được hướng dẫn
như thế nào?
- Phương pháp hướng dẫn thực tập
Phương pháp hướng dẫn thực tập cũng là vấn đề được quan tâm hàng đầu của những
người làm công tác quản lý thực tập. Tuy nhiên, trong điều kiện có hạn, chúng t
ôi chỉ mới thăm
dò ý kiến về phương pháp hướng dẫn thực tập tại cơ sở trường, chưa thăm dò được ý kiến về
phương pháp hướng dẫn của các cơ sở báo chí.
- Nội dung thực tập:
Nội dung thực tập là những gì mà sinh viên thực tập cần phải hoàn thành để đạt được
mục tiêu thực tập. Việc nắm rõ và thực hiện được nội dung của mỗi đợt thực tập cũng giúp si
nh
viên chủ động hơn trong quá trình thực tập, giúp họ hoàn thành tốt hơn mục tiêu thực tập của
mình, đồng thời, cũng giúp giáo viên và nhà trường biết được khả năng của sinh viên để có ý
kiến bổ sung hoặc chỉnh sửa hợp lý hơn nội dung này.
- Kết quả của việc t
hực tập
Việc thực tập sẽ mang lại những hiệu quả và những lợi ích nhất định. Trong mỗi lần thực
tập, sinh viên sẽ học hỏi được n
hiều vấn đề từ lý thuyết đến thực tế làm việc.
- Mức độ vừa sức của nội dung thực tập
Thăm dò mức độ vừa sức của nội dung thực tập l
à việc mà những người làm công tác
quản lý thực tập quan tâm. Vì vậy chúng tôi đã tiến hành t
thiết bị thực tập (ở cơ sở trường) là công cụ giúp ích trực tiếp cho việc thực thập.
Vì vậy chúng t
ôi có tiến hành tìm hiểu về việc quản lý trang thiết bị thực tập tại cơ sở trường để
biết trang thiết bị có đáp ứng được nhu cầu học tập của sinh viên và việc giảng dạy của giáo
viên hay không.
* Tìm hiểu những khó k
hăn của sinh viên trong quá trình thực tập:
Bước vào thực tập, sinh viên sẽ gặp những khó khăn nhất định về nhiêu mặt, nhiều khâu.
Chúng tôi đã thăm dò để tìm hiểu một số khó khăn trong quá trình thực tập của sinh viên.