LUẬN VĂN:
Nâng cao vai trò của chủ thể nhận thức trong
học tập của sinh viên ở tỉnh Thái Bình hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quán triệt quan điểm của Đảng, giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhằm phát triển
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế - xã hội
trong giai đoạn cách mạng hiện nay và để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chung của
đất nước, tỉnh Thái Bình đã không ngừng xây dựng và phát triển về mọi mặt. Đặc biệt
chú trọng phát triển giáo dục bởi “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”.
Từ xa xưa, Thái Bình vốn là một tỉnh thuần nông không những có truyền thống
thâm canh giỏi mà còn là một trong những tỉnh có nền văn hiến cao, có truyền thống
“hiếu học”.
Hơn nửa thế kỷ qua, tuy còn là một tỉnh rất khó khăn về kinh tế, nhưng Thái Bình
vẫn không ngừng đầu tư cho sự nghiệp “trồng người”, góp phần quan trọng vào sự nghiệp
xấu đến một bộ phận học sinh, sinh viên.
Tất cả những hiện trạng tiêu cực đó đã ảnh hưởng xấu đến quá trình học tập của
học sinh, sinh viên Thái Bình, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và đào tạo của tỉnh.
Những hiện tượng trên có rất nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên
nhân quan trọng là chúng ta chưa biết phát huy và nâng cao những mặt mạnh và tích cực của
những sinh viên, và bản thân mỗi sinh viên chưa thực sự cố gắng phát huy hết nội lực của
mình trong quá trình học tập và rèn luyện.
Trước thực trạng như vậy, cùng với yêu cầu đổi mới ở tỉnh Thái Bình và phát huy
truyền thống của quê hương, đất nước, chúng tôi thực sự thấy bức xúc và muốn góp phần nhỏ
bé để có thể giúp các em sinh viên Thái Bình có thể nâng cao vai trò nhận thức của họ trong
quá trình học tập. Chỉ có như vậy thì Thái Bình mới thực sự góp sức mình vào công cuộc phát
triển chung của đất nước.
Nhận thức được vấn đề cần phải nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập
của sinh viên ở Thái Bình trong thời kỳ đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của tỉnh, của đất
nước, là cần có một đội ngũ lao động có thể lực, trí lực, có tâm huyết, trung thành với lý
tưởng và nhiệt tình cách mạng. Vì lẽ đó tác giả đã chọn đề tài này với mong muốn có thể
góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp chung của đất nước.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề liên quan đến chủ thể nhận thức, khách thể nhận thức đã được một số tác
giả nghiên cứu như: Luận án tiến sỹ của Nguyễn Tiến Thủ “Quan hệ giữa chủ thể và
khách thể nhận thức với việc phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh
viên Việt Nam hiện nay”, Hà Nội 2001. Luận án tập trung nhiều vào lý luận về chủ thể và
khách thể nhận thức.
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Đức Hoàn “Phát huy vai trò chủ thể nhận thức
trong học tập của sinh viên cao đẳng ở Việt Nam hiện nay” (Qua thực thế một số trường cao
đẳng ở tỉnh Hải Dương), Hà Nội 2001. Luận văn tập trung vào đối tượng là sinh viên cao
đẳng khối Kinh tế kỹ thuật ở tỉnh Hải Dương.
Luận văn thạc sỹ của Phùng Minh Hải “Vấn đề phát huy vai trò chủ thể nhận thức
trong học tập của học viên hệ Trung cấp lý luận chính trị ở Cần Thơ hiện nay”, Hà Nội
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
+ Khảo sát sinh viên của Đại học Y khoa Thái Bình, sinh viên Cao đẳng Sư phạm
và sinh viên Cao đẳng Kinh tế - kỹ thuật.
+ Phạm vi nghiên cứu tập trung và trực tiếp của luận văn là vấn đề “Nâng cao vai trò của chủ
thể nhận thức trong học tập của sinh viên ở tỉnh Thái Bình hiện nay”.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận văn
- Cơ sở lý luận
+ Luận văn được viết dựa trên những quan điểm triết học Mác - Lê nin về mối
quan hệ giữa chủ thể và khách thể nhận thức, về lý luận nhận thức. Luận văn cũng dựa trên
tư tưởng Hồ Chí Minh, các nghị quyết của Đảng và sử dụng kết quả nghiên cứu lý luận của
các công trình khoa học có liên quan đến đề tài.
+ Luận văn được viết dựa trên những nghị quyết, quyết định và thông tri về giáo
dục và đào tạo có liên quan của tỉnh Thái Bình, của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như
của Bộ Y tế.
- Phương pháp nghiên cứu
+ Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
DVBC và CNDVLS.
+ Kết hợp giữa phân tích và tổng hợp, phối hợp với các phương pháp so sánh,
thống kê… để làm rõ vấn đề mà luận văn đề cập.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Góp phần luận chứng cho vấn đề vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh
viên ở Thái Bình trong giai đoạn hiện nay.
Qua điều tra thực tế, tổng kết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn nhằm nâng
cao vai trò của chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên ở tỉnh Thái Bình trong giai
đoạn hiện nay.
Đưa ra các phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao vai trò chủ thể nhận thức
trong học tập của sinh viên ở tỉnh Thái Bình hiện nay.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt thực tiễn, luận văn là sự vận dụng, cụ thể hoá một số vấn đề lý luận của
lập luận lô gích, trong lĩnh hội tri thức, trí tưởng tượng, sự chú ý và nghi ngờ. Thời kỳ
này cũng là thời kỳ phát triển khả năng hình thành ý tưởng trừu tượng, khả năng phán
đoán, nhu cầu hiểu biết và học tập cao. ở độ tuổi này sinh viên có tính nhạy bén cao, khả
năng giải thích và gắn ý nghĩa cho những ấn tượng cảm tính nhờ vào kinh nghiệm và tri
thức có trước đây.
Sự phát triển nói trên cùng với óc quan sát tích cực và nghiêm túc sẽ tạo khả năng
cho lứa tuổi này biết cách lĩnh hội tối ưu tri thức và đó chính là cơ sở vững chắc cho toàn
bộ quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của mỗi một sinh viên.
Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng của lứa tuổi sinh viên là sự phát triển
tự ý thức. Tự ý thức có chức năng điều chỉnh nhận thức và có thái độ với bản thân, là sự
đánh giá toàn diện về bản thân và vị trí của mình trong cuộc sống. Tự ý thức chính là
điều kiện để phát triển và hoàn thiện nhân cách, hướng nhân cách theo các yêu cầu mà xã
hội đòi hỏi.
- Về mặt xã hội: Lứa tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất về đạo đức
và thẩm mỹ, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách. Đặc biệt là họ có vai trò xã hội
của người lớn. Người sinh viên đã có kế hoạch cho lao động của riêng mình, độc lập
trong phán đoán và hành vi, bắt đầu thể nghiệm mình trong cuộc sống.
Vì ở độ tuổi sau trẻ em và bắt đầu thành người lớn, nên thế giới nội tâm của họ là
vô cùng phức tạp, phát triển nhân cách của sinh viên là một quá trình chuyển từ các yêu
cầu bên ngoài thành nhu cầu của bản thân sinh viên và là quá trình tự vận động và hoạt
động tích cực của chính bản thân họ. Những mâu thuẫn chính là:
+ Mâu thuẫn giữa ước mơ của người sinh viên với khả năng điều kiện và kinh
nghiệm để thực hiện ước mơ đó.
+ Mâu thuẫn giữa mong muốn học tập chuyên sâu những môn ưa thích và yêu cầu
thực hiện toàn bộ chương trình học tập do nhà trường quy định.
+ Mâu thuẫn giữa khối lượng thông tin vô cùng phong phú với khả năng điều kiện
để xử lý thông tin.
Về thái độ học tập của sinh viên thì có rất nhiều kiểu khác nhau. Có sinh viên học
chỉ vì nghề nghiệp mà không hề quan tâm đến các lĩnh vực trí thức cũng như hoạt động
Hiểu được đặc điểm tâm lý, xã hội của sinh viên, bản chất tốt đẹp, khả năng cách
mạng của tuổi trẻ cũng như những hạn chế của họ là một vấn đề rất quan trọng để có nhận
thức đúng, có thái độ đánh giá đúng và có quan điểm giáo dục, vận động, phát triển họ một
cách khoa học, hiệu quả và như vậy sẽ tạo ra những thành quả lớn trong sự nghiệp giáo dục,
đào tạo nguồn nhân lực mới góp phần vào thắng lợi chung của sự nghiệp đổi mới và phát
triển của đất nước.
Sau 20 năm đổi mới, do những biến đổi trong chính sách kinh tế - xã hội và ngoại
giao, kinh tế chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị
trường nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. Chính
sách ngoại giao từ chỗ chỉ quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa là chủ yếu sang đa
phương hoá, đa dạng hoá dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong thang giá trị và định hướng
xã hội của thanh niên - sinh viên. Nhiều đề tài cấp Nhà nước như đề tài KX-04-09
“Những luận cứ khoa học của việc đổi mới chính sách thanh niên hiện nay”. Đề tài KX-
07-10 “ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế thị trường đối với sự phát triển nhân cách
con người Việt Nam”… đều nhận định rằng thang giá trị và sự lựa chọn giá trị trong
thanh niên, sinh viên hiện nay đã có sự thay đổi trên cả 2 khía cạnh.
Thứ nhất: Sự biến đổi của chính các giá trị.
Hiện nay, một số các giá trị truyền thống đã được thay đổi về nội dung như, những
giá trị đề cao tinh thần hy sinh , xả thân vì nước, vì dân trong thời kỳ chiến tranh đã được
thay thế bằng nội dung mới là phải làm tất cả những gì để dân giầu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. Các giá trị về ý thức cộng đồng, về truyền thống đoàn kết
không chỉ được quan niệm là hy sinh lợi ích của cá nhân mà còn là sự kết hợp giữa các
lợi ích xã hội tập thể và cá nhân, coi lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp để phát triển
kinh tế - xã hội. Trong lao động sản xuất không chỉ là cần cù, chịu khó mà cần phải lao
động có tri thức khoa học, có lương tâm trách nhiệm, có năng suất, chất lượng và hiệu quả
cao. Trong cơ chế hiện nay, đòi hỏi con người phải không chỉ dám nghĩ, dám làm mà còn
dám chịu trách nhiệm, chấp nhận cạnh tranh, liên doanh liên kết với các cá nhân, các tổ chức
kinh tế dịch vụ trong nước và quốc tế.
Thứ 2: Sự thay đổi trật tự ưu tiên trong hệ thống giá trị.
thang giá trị. Từ đó dẫn đến việc chúng ta cần phải nhận thức, đánh giá và định hướng
cho sinh viên biết kết hợp một cách hài hoà giữa các giá trị, nhằm giảm thiểu những lệch
lạc, cực đoan trong việc lựa chọn của các em.
Qua kết quả điều tra xã hội học ở 3 trường đại học Y Thái Bình, cao đẳng Kinh tế
kỹ thuật Thái Bình, cao đẳng Sư phạm Thái Bình và qua một số đề tài nghiên cứu về
thanh niên, sinh viên Việt Nam, chúng tôi thấy thanh niên - sinh viên là những con người
về thể chất đã đạt đến độ hoàn chỉnh, là thời kỳ phát triển đầy đủ các tố chất của con
người Việt Nam hiện đại. Và như vậy thì sinh viên Thái Bình cũng không nằm ngoài xu
hướng chung của sinh viên cả nước trong quan niệm về trật tự ưu tiên các hệ thống giá trị
cho dù họ có một số những quan điểm riêng.
Từ những điểm đã phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy rất rõ sinh viên với tư
cách là chủ thể nhận thức trong học tập là những người trẻ, với độ tuổi 18-25 là lứa tuổi
đẹp nhất trong cuộc đời, đầy ước mơ và khát vọng, tuổi của tương lai, với nghị lực tiềm
tàng, tính năng động trong cuộc sống, là một thế hệ hội đủ các tố chất: Yêu nước, thông
minh, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, có nghị lực, ham học lập để có việc làm và lập
nghiệp.
* Tính đặc thù của sinh viên với tư cách chủ thể nhận thức trong học tập
Chúng ta muốn nâng cao chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng thì không thể
không nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên chính ở đây là một
bộ phận quan trọng của quá trình dạy - học.
Trước hết chúng ta phải hiểu quá trình dạy - học là gì ? Từ đó tìm hiểu tính đặc thù
của sinh viên với tư cách là chủ thể nhận thức trong học tập.
Học là một hoạt động với đối tượng, trong đó học sinh, sinh viên là chủ thể, tri
thức khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh. Học là quá trình tự giác, tích cực chiếm lĩnh tri
thức khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên. Chiếm lĩnh tri thức khoa học là
mục đích của việc học, quá trình này được thực hiện từng bước như sau:
Trước hết học sinh, sinh viên phải nắm vững nghĩa, đào sâu ý chứa đựng trong các
khái niệm, các tri thức khoa học. Sau đó tái tạo các khái niệm, các tri thức khoa học đó
trong bản thân, và phải thao tác với nó, sử dụng nó giống như một công cụ, một phương
khái niệm khoa học, tri thức khoa học nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho người
học. Dạy học có mục đích là điều khiển sự học tập của học sinh, sinh viên.
Dạy có 2 chức năng tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau,
đó là truyền đạt thông tin và điều khiển hoạt động học của người học.
Sơ đồ 1.1: Quá trình dạy học Quá trình học tập của sinh viên thực chất là quá trình nhận thức, tức là đi từ “trực
quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”, chỉ có điều
quá trình đó luôn có sự giúp đỡ, định hướng, hướng dẫn của giáo viên. Đây chính là nét
đặc thù của quá trình nhận thức trong học tập của sinh viên.
Trong quan hệ với người dạy thì sinh viên là khách thể của quá trình giáo dục và
đào tạo, nhưng trong quan hệ với tri thức khoa học và thực tiễn xã hội thì sinh viên lại tồn
tại với tư cách là chủ thể của các quá trình nhận thức và ở góc độ này thì tri thức khoa
Khái ni
ệm khoa học,
tri thức khoa học
Dạy
Truyền đạt
khoa học và một phần thực tiễn xã hội.
- Sinh viên - chủ thể nhận thức đóng vai trò quyết định trong quá trình biến học
tập thành tự học tập.
- Sinh viên - chủ thể nhận thức đóng vai trò quyết định trong việc hình thành tri
thức mới từ những tri thức đã lĩnh hội.
- Sinh viên - chủ thể nhận thức đóng vai trò quyết định trong quá trình vận dụng
các tri thức đã lĩnh hội vào học tập và nghiên cứu khoa học.
1.1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến sinh viên - Chủ thể nhận thức trong học
tập
Chất lượng giáo dục, đào tạo có liên quan chặt chẽ với điều kiện kinh tế - xã hội
của đất nước. Muốn cho giáo dục, đào tạo của chúng ta đạt kết quả cao đáp ứng được những
đổi thay to lớn của thời đại (xu thế quốc tế hoá, tin học hoá - hướng tới xã hội thông tin và
nền kinh tế tri thức) Đảng ta cần phải tích cực chuyển nền giáo dục, đào tạo sang hệ thống
học tập suốt đời, tăng cường phát triển các chương trình phù hợp với nền kinh tế - xã hội và
yêu cầu của mỗi cá nhân. Chuyển giáo dục, đào tạo từ một hệ thống đồng nhất sang một hệ
thống giáo dục đa dạng và mềm dẻo, hiện đại hoá các phương pháp dạy học.
Để có thể thực hiện được những yêu cầu trên thì cần phải có một môi trường giáo
dục tốt, phải có một đội ngũ các thầy giáo, cô giáo giỏi cùng các cơ sở vật chất, trang
thiết bị, giáo trình, sách giáo khoa, thư viện… phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu
khoa học. Từ một hệ điều kiện có liên quan và ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, đào
tạo thì có thể nói có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sinh viên - chủ thể nhận thức trong
học tập như:
- Mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục, đào tạo
- Những vấn đề về quản lý, các quy chế, cách kiểm tra, đánh giá chất lượng.
- Đội ngũ giáo viên và chất lượng, động lực của đội ngũ này.
- Cơ sở vật chất, kỹ thuật và tài chính.
- Chế độ sử dụng và đãi ngộ với người có trình độ đại học, sau đại học.
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, chúng tôi chỉ xin được trình bày một
số yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh viên - chủ thể nhận thức trong học tập.
và kỹ năng hoạt động nghề nghiệp là chủ yếu, do đó trong chương trình đào tạo khối lượng
giáo dục đại cương giới hạn ở mức vừa đủ cho người học tiếp thu được các kiến thức nghề
nghiệp, một bộ phận kiến thức về nghề nghiệp được bố trí dưới dạng các học phần thực
hành (có thể đến 50% hoặc hơn).
Ngược lại, chương trình của các dạng cao đẳng cơ bản có thể xem như một bộ
phận cấu thành của chương trình đại học thuộc ngành tương ứng. Do vậy chương trình
của các dạng cao đẳng này có thể chứa trọn vẹn hoặc chứa một phần khối lượng kiến
thức giáo dục đại cương ở chương trình đại học.
Nội dung giáo dục đại học, cao đẳng phải đảm bảo thực hiện nguyên tắc hiện đại
và phát triển, kế thừa và phát huy bản sắc dân tộc, hội nhập với trình độ chung trên thế
giới. Nội dung cụ thể và mỗi lĩnh vực đào tạo đã được xác định theo Điều 36, Luật giáo
dục, chú ý sát hợp với yêu cầu của đất nước, và cập nhật trình độ Quốc tế. Mỗi một khoá
học cao đẳng 3 năm, đại học: 4-5 năm, riêng trường đại học Y khoa là 6 năm.
Như vậy, chính mục tiêu, cấu trúc, nội dung của chương trình giáo dục và đào tạo
sẽ quy định sinh viên - chủ thể nhận thức phải lĩnh hội đủ lượng tri thức đại cương, tri
thức chuyên nghiệp ở từng cấp học, ngành học như thế nào.
* Hệ thống giáo trình
Để việc học tập của sinh viên đạt kết quả cao và chất lượng tốt thì ngoài các tài
liệu phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu, hệ thống giáo trình có vai trò đặc biệt quan
trọng. Mỗi giáo trình của một môn học phải đạt được mục tiêu là trang bị một lượng tri
thức khoa học cơ sở của chuyên ngành và chuyên sâu có tính chất chuyên biệt nhưng
không có nghĩa là hoàn toàn độc lập, tách rời với các môn khoa học khác. Mỗi giáo trình
của môn học là một hệ thống cấu trúc toàn vẹn được tạo bởi 2 khối tri thức.
+ Khối tri thức nền tảng: Là một hệ thống tri thức thuộc về cơ sở của khoa học tạo
nên môn đó. Khối nền tảng được xây dựng, thiết kế như một hệ thống toàn vẹn theo lô
gíc chặt chẽ và khoa học, đồng thời phải kết hợp với lô gíc của sư phạm phù hợp với
những đặc điểm tâm, sinh lý của lứa tuổi. Khối tri thức nền tảng giữ vai trò quy định, chủ
đạo của môn học.
+ Khối tri thức hỗ trợ: Là những kỹ năng của khoa học khác mà ta cần huy động
Tuy đã được định hình một cách cơ bản từ khi còn là học sinh phổ thông. Song
vẫn là cần thiết khi các trường đại học, cao đẳng có nhiệm vụ giúp sinh viên của mình
định hướng và xác định lại, giúp họ tự tin và quyết tâm học tập hơn nữa để có một cơ sở
tốt cho tương lai, nghề nghiệp sau này.
+ Phát triển tư duy trừu tượng, tư duy lý luận
Lượng kiến thức mà mỗi sinh viên cần phải lĩnh hội khi học tập và nghiên cứu tại
các trường đại học, cao đẳng là rất lớn. Vì lẽ đó người giảng viên chỉ có truyền đạt một
số lượng kiến thức cơ bản nhất, việc còn lại là phải dạy cách học cho sinh viên. Bởi có tới
1/3 các khái niệm, phạm trù là sinh viên phải tự học để hiểu. Do đó, dạy phương pháp
cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng chính là rèn luyện tư duy lý luận, tư duy trừu
tượng, rèn luyện ngôn ngữ để nắm được các thuật ngữ mới, sử dụng để diễn đạt, làm bài
kiểm tra, bài thi chuẩn xác và lô gíc.
+ Rèn luyện năng lực vận dụng các tri thức và giải pháp hoạt động trí tuệ để nắm
được các đối tượng và các quá trình mới. Bồi dưỡng năng lực dự báo khoa học.
Đây là một năng lực cần thiết của mỗi sinh viên trong quá trình học tập và nghiên
cứu. Từ những tri thức cơ bản và chuyên ngành đã có, sinh viên có thể dự báo được
những tiến bộ của nó trong tương lai và những ứng dụng của nó trong đời sống xã hội.
+ Bồi dưỡng năng lực tổ chức lao động một cách khoa học.
Trong những năm gần đây ngành giáo dục, đào tạo đã tích cực đổi mới phương
pháp dạy học, nhưng do rất nhiều nguyên nhân mà việc đổi mới phương pháp còn rất
nhiều hạn chế làm cho sinh viên chưa thể chủ động trong học tập và chưa phát huy được
tính sáng tạo của mình.
* Đội ngũ giảng viên đại học, cao đẳng: Giảng viên là một trong những yếu tố
quyết định sự phát triển của sự nghiệp giáo dục, đào tạo, là nhân tố quan trọng có ảnh
hưởng lớn tới chất lượng học tập và nghiên cứu của sinh viên. Đảng, Nhà nước và nhân
dân luôn đánh giá cao công lao của các thầy giáo, cô giáo, của nhà trường đối với việc
giảng dạy thế hệ trẻ. Trong những năm đổi mới, truyền thống tôn sư trọng đạo (hoặc như
dân gian nói: Không thầy đố mày làm nên) đã được giữ gìn. Từ năm 1984, Chính phủ
quyết định lấy ngày 20/11 hàng năm là “Ngày nhà giáo Việt Nam” trở thành ngày hội
Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đại học, cao đẳng cũng là một nhân tố có ảnh
hưởng lớn tới việc học tập và nghiên cứu của sinh viên - chủ thể nhận thức trong học tập.
Vì vậy, việc xây dựng lực lượng cán bộ quản lý và chuyên gia vững vàng trong giáo dục,
đào tạo là hết sức quan trọng. Đội ngũ này phải nắm vững được mục tiêu và quan điểm
giáo dục của Đảng, đồng thời phải quan tâm nghiên cứu về khoa học giáo dục đại học,
cao đẳng. Tổng kết những kinh nghiệm đã có để có thể làm tốt công việc của mình.
* Cơ sở vật chất, điều kiện sống và chính sách đối với sinh viên.
- Cơ sở vật chất.
Quá trình giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên dù được tiến hành dưới
bất kỳ hình thức nào cũng đều được diễn ra trong những điều kiện vật chất nhất định. Vì
lẽ đó, cơ sở vật chất của nhà trường sẽ ảnh hưởng nhất định đến quá trình học tập, nghiên
cứu khoa học của sinh viên. Trong những năm qua chất lượng của sinh viên đại học, cao
đẳng còn thấp, phần lớn sinh viên ra trường về làm việc ở các cơ quan, trường học kiến
thức thực hành còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Một trong
những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do cơ sở vật chất dành cho quá trình giáo
dục, đào tạo trong nhà trường còn thiếu thốn và lạc hậu. Sau 20 năm đổi mới, Nhà nước
liên tục gia tăng ngân sách cho giáo dục và đào tạo, vì vậy cơ sở vật chất của các trường
đại học, cao đẳng có sự biến đổi đáng kể. Nhiều trường đại học, cao đẳng đã được xây
mới, được sửa chữa, cải tạo và nâng cấp rất nhiều: giảng đường, ký xá, khu vui chơi giải
trí, trang thiết bị để phục vụ cho giảng dạy và học tập đều được quan tâm.
Tuy vậy, cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho dạy - học tại các trường vẫn
còn lạc hậu, thiếu thốn và chưa đồng bộ nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến sinh viên, làm
cho họ không đủ điều kiện để phát huy và nâng cao tính chủ động, tích cực trong học tập.
Muốn có sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
giáo dục, đào tạo, nâng cao vai trò chủ động tích cực của sinh viên trong quá trình học tập và
nghiên cứu thì các cấp chính quyền, địa phương và từng trường phải có sự quan tâm đặc biệt
hơn, tăng cường đầu tư ngân sách cho công tác giáo dục, đào tạo đại học, cao đẳng. Nếu cơ
sở vật chất tốt, đạt chuẩn quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì chắc chắn giáo dục đại
học, cao đẳng của chúng ta được nâng cao hơn. Đồng thời sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp góp
trong học tập của sinh viên [43].
Giáo dục nhằm vào định hướng phát triển, trước hết là cung cấp cho xã hội đội
ngũ lao động mới, có trình độ chuyên môn cao năng động và sáng tạo có đội ngũ công
nhân lành nghề để thích nghi với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Do đó cần phải có
những quan điểm mới về vai trò của giáo dục, đào tạo từ đó huy động mọi nguồn lực đầu
tư cho phát triển giáo dục, đào tạo. Sau đây là những quan điểm có tính chiến lược đã
được chỉ ra trong Nghị quyết 4/BCH TWĐCSVN khoá VII và Nghị quyết 2/
BCHTWĐCSVN khoá VIII, Luật Giáo dục.
Thứ nhất: Giáo dục là quốc sách hàng đầu, cần được các ngành, các cấp nhận
thức một cách đúng đắn và sáng tạo.
Trước hết giáo dục phải mang tính xã hội hoá, là sự nghiệp của toàn dân của các
giáo dục, các tổ chức và cá nhân. Mỗi người phải góp sức phát triển giáo dục đi và quan
tâm đến sự nghiệp đó. Từ đó tạo ra môi trường thuận lợi cho giáo dục, đào tạo.
Thứ hai: Đầu tư cho giáo dục phải được hiểu là đầu tư cho phát triển. Nhà nước
cấp ngân sách cho giáo dục, đào tạo là chủ yếu, ngoài ra cần tạo môi trường thuận lợi hơn
để giáo dục có thể vay vốn từ bên ngoài, tranh thủ sự hỗ trợ từ bên ngoài. Nhưng không
vì thế mà giáo dục được bao cấp hoàn toàn, có nghĩa là người đi học, cơ quan sử dụng lao
động qua đào tạo phải đóng góp kinh phí cho giáo dục, đào tạo.
Thứ hai: Mọi người dân đều có mong muốn được hưởng cơ hội giáo dục cho nên
Nhà nước phải tạo quyền bình đẳng trước các cơ hội được giáo dục và họ để làm giảm
tình trạng bất bình đẳng về mức độ phát triển giữa các vùng. Cần phải ưu tiên phát triển
giáo dục tại vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa… đặc biệt chú ý đến những đối tượng
chính sách.
Từ những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, giáo dục, đào tạo Việt Nam đã
thu được một số thành quả đáng kể.
So với các nước châu á - Thái Bình Dương, mặt bằng dân trí của Việt Nam khá
cao. Số lượng sinh viên ở tất cả các loại hình đào tạo là 1.032.440 tăng so với năm 1998 -
1999 là 35,9% [19]. Như vậy là số sinh viên đại học, cao đẳng tăng rất nhanh chỉ trong
một thời gian không dài.
liên tục, được đào tạo lại, được vận dụng những phương pháp giảng dạy hiện đại vào điều
kiện thực tế của trường, lớp, địa phương và đối tượng sinh viên của mình, được cung cấp
những trang thiết bị dạy học tiên tiến.
Nội dung giảng dạy phảm đảm bảo sự cân đối giữa lý thuyết với thực hành, cần
phải cập nhật kịp thời tri thức hiện đại của thế giới và những vấn đề bức xúc của đất
nước, cần chú ý đến yếu tố kỹ năng, kỹ thuật công nghệ và thực nghiệm… để có thể cung
cấp cho xã hội một nguồn nhân lực có chất lượng cao, đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu khắt
khe của thời đại mới.
Cần phải khắc phục phương pháp “dạy chay”, “dạy áp đặt” trò trung thành với
những gì thầy cho ghi, khích lệ, khơi gợi để sinh viên chủ động sáng tạo lĩnh hội tri thức,
để họ thực sự là “trung tâm của hoạt động dạy - học”.
Cần phải thay thế quan niệm “Đào tạo theo nhu cầu của người học” bằng “Đào
tạo theo yêu cầu của xã hội”. Điều chỉnh cơ cấu đào tạo sinh viên cho phù hợp với quá
trình phát triển kinh tế - xã hội, nhanh chóng khắc phục tình trạng mất cân đối trong các
ngành nghề. Trong thời gian qua sự mất cân đối trong các ngành nghề đào tạo diễn ra rất
nghiêm trọng. Trước hết thể hiện ở chỗ: Quy mô đào tạo đại học, cao đẳng mở rộng trong
khi chuyên nghiệp và học nghề bị thu hẹp. Tiếp đến là sự khác biệt giữa số lượng sinh
viên tham gia các ngành học, theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngành kinh tế và
luật chiếm tỷ lệ 42,78% số sinh viên, khoa học cơ bản chiếm tới 15,5%, khoa học kỹ
thuật và công nghệ 15,2%. Nông lâm ngư nghiệp chỉ 3,13%. Tính chất thực dụng của
người học thể hiện rất rõ trong các ngành học. Hiện tượng thừa cử nhân luật và kinh tế,
thiếu kỹ sư các ngành khoa học công nghệ sẽ là vật cản trong quá trình tiếp nhập FDI và
tiếp thu công nghệ mới trong quá trình công nghiệp hoá. Bài học đó đã thấy rất rõ qua
thực tế các nước ASEAN như Thái Lan, Malaysia nếu thiếu kỹ sư, công nhân lành nghề
thì các nhà đầu tư Nhật Bản, Hàn Quốc sẽ rút vốn. Do thực tế ấy mà một số các quốc gia
đã phải nhập kỹ sư ngành dệt, điện tử, năng lượng từ Trung Quốc, ấn Độ và Philíp pin.
Việt Nam đã từng tự hào là một trung tâm toán học của thế giới và khu vực. Thế mà hơn
20 năm qua rất ít sinh viên theo học toán, do vậy mà sang thế kỷ XXI theo F.Phạm một
nhà toán học Pháp gốc Việt cho là số nhà toán học Việt Nam sẽ là không, thật đau đớn