Luận văn: Nâng cao vai trò của vốn đầu tư xã hội với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam pot - Pdf 15



1
Luận văn
Đề tài: Nâng cao vai trò của vốn đầu
tư xã hội với tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam 2
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I 7
VAI TRÒ VỐN ĐẦU TƯ XÃ HỘI 7
1.Khái niệm, vai trò vốn đầu tư xã hội với tăng trưởng 7
1.Một số khái niệm chung. 7
2.Vai trò vốn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế 8
2.1Lý thuyết của Harrod Domar 9
2.2Tác động của vốn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế 10
II Cơ cấu vốn đầu tư 11
1.Phân loại theo tiêu chí nguồn gốc hình thành 11
2.Phân loại theo tiêu chính nhóm ngành 17
III.Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tác động của nguồn vốn với tăng trưởng . 18
1.Hệ số ICOR 18
2. Hệ số co giãn của sản lượng theo vốn đầu tư 18
IV.Tỷ trọng vốn đầu tư cụ thể trong tổng vốn đầu tư 19
CHƯƠNG II 20
THỰC TRẠNG NGUỒN VỐN Ở VIỆT NAM 20

3.2.1.1 Các nhà tài trợ và lĩnh vực ưu tiên tài trợ cho Việt Nam 49
3.2.1.2 Tình hình huy động ODA 50
3.2.2 Thực trạng quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA 51
3.2.3 Tình hình giải ngân ODA 53
3.2.4 Quản lý nguồn vốn ODA 54
3.2.5 Đánh giá về hiệu quả thu hút , quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA
54
3.3 Các nguồn vốn khác 55
3.3.1 Nguồn vốn các tổ chức phi chính phủ(NGO). 55
3.3.2 Nguồn vốn từ đầu tư gián tiếp ở Việt Nam (FII) 56
III. Thực trạng nguồn vốn đầu tư xã hội phân theo ngành kinh tế 57
1. Cơ sở ngành kinh tế 57
2. Thực trạng của vốn đầu tư tới ngành kinh tế 58
CHƯƠNG III 65
GIẢI PHÁP 65
1. Hoàn thiện quy hoạch vốn đầu tư xã hội theo từng vùng 65
2. Khuyến khích và ưu đãi hơn nữa các dự án đầu tư vào lĩnh vực nông -
lâm - ngư nghiệp và vùng sâu, vùng núi, vùng xa 65
3. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để các dự án triển khai hoạt động mở
rộng tăng công suất hiện có. 66
4. Xử lý linh hoạt hơn nữa hình thức đầu tư. 67
5. Phát triển mạnh nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước. 68 4
6. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động của công đoàn. 69
7. Cần phải phát triển thị trường tài chính 69
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70


tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian tới là thực sự cần thiết nhất là
sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, bên cạnh những mặt được còn có những hạn
chế, bất cập chưa thu hút có hiệu quả điều đó có thể thấy số vốn xin vào đầu tư đã
giảm. Trong bài viết này để có thể thấy rõ và có những phương hướng giải quyết vấn
đề này, em chọn đề tài : 6
“Nâng cao vai trò của vốn đầu tư xã hội với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.”.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài.
Mục đích của bài báo cáo là Nâng cao vai trò của vốn đầu tư xã hội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của bài báo cáo là vốn đầu tư xã hội.
Phạm vi nghiên cứu là kinh tế Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu.: Sử dụng lý thuyết Harros Domar để chỉ ra vai trò của
vốn đầu tư tới tăng trưởng.
5. Nội dung báo cáo bao gồm:
Bài báo cáo được bố cục theo các nội dung chính như sau:
Chương I : Vai trò của vốn đầu tư xã hội.
Chương II :. Thực trạng các nguồn vốn ở Việt Nam.
Chương III : Giải pháp 7
CHƯƠNG I
VAI TRÒ VỐN ĐẦU TƯ XÃ HỘI

8
tổng chi phí. Nhưng toàn bộ các sản phẩm phải được bán ra cho người tiêu dùng hoặc
các nhà sản xuất khác. Mặt khác đầu tư hiện hành chính bằng phần tăng thêm năng
lực sản xuất mới trong kỳ. Vì vậy, xét về tổng thể phần dôi ra của thu nhập so với tiêu
dùng mà người ta gọi là tiết kiệm không thể khác với phần gia tăng năng lực sản xuất
mà người ta gọi là đầu tư
Tuy nhiên điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng. Trong
nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế không phải bao giờ
cũng được thiết lập. Phần tích lũy của nền kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu đầu tư tại
nước sở tại, khi đó vốn có thể được chuyển sang nước khác để thực hiện đầu tư.
Ngược lại, vốn tích lũy của nền kinh tế có thể ít hơn nhu cầu đầu tư, khi đó nền kinh
tế phải huy động tiết kiệm từ nước ngoài. Trong trường hợp này, mức chênh lệch giữa
tiết kiệm và đầu tư được thể hiện trên tài khoản vãng lãi
CA = S – I
Trong đó: CA là tài khoản vãng lai (current account)
Trong nền kinh tế mở, nếu nhu cầu đầu tư lớn hơn tích lũy của nền kinh tế dẫn
đến tài khoản vãng lai bị thâm hụt thì có thể huy động vốn đầu tư từ nước ngoài. Khi
đó, đầu tư nước ngoài hoặc vay nợ có thể trở thành một trong những nguốn vốn đầu
tư quan trọng của nền kinh tế. Nếu tích lũy của nền kinh tế lớn hơn nhu cầu đầu tư
trong nước trong điều kiện thặng dư tài khoản vãng lai thì quốc gia có thể đầu tư ra
nước ngoài hoặc cho các nước khác vay nhằm sử dụng vốn hiệu quả hơn
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng sản lượng (thu nhập) của nền kinh tế về quy
mô và tốc độ trong 1 khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm). Quy mô tăng
trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý
nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ.
Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị. Thu nhập
bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu GDP, GNI và tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc
tính bình quân trên đầu người

nhân dân và các công ty là nguồn gốc của đầu tư. Hệ số này cũng phản ánh trình độ
kỹ thuật của sản xuất và là số đo năng lực sản xuất của đầu tư. Ví dụ, nếu như đầu tư
3 tỷ đồng dưới dạng xây dựng nhà máy mới và trang bị mới làm cho xí nghiệp có khả
năng tăng đầu ra thêm 1 tỷ đồng/năm trong vòng một năm tới thì hệ số gia tăng vốn
đầu ra trong trường hợp này là 3/1. Đối với các nhà làm kế hoạch, khi cho trước
phương trình đơn giản này thì nhiệm vụ không phức tạp lắm. Bước đầu là thử đưa ra 10
một cách tính tỷ số gia tăng vốn – đầu ra. Có hai phương án lựa chọn cho bước tiếp
theo. Hoặc là phải lập kế hoạch cần quyết định tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, hoặc là cần
quyết định tỷ lệ tiết kiệm.
b. Nhận xét lý thuyết
Lý thuyết H-O về thực chất chỉ gói gọn trong khái niệm tăng trưởng kinh tế.
Dù vậy, lý thuyết này vẫn còn ảnh hưởng lớn đến các nước đang phát triển muốn tăng
nhanh tốc độ phát triển của mình , bởi nó nhắm trúng vấn đề thiết yếu và nan giải
nhất ở đây là vốn đầu tư. Đi theo hướng này là một loạt chính sách ở các quốc gia
nhằm nâng cao khả năng tích lũy trong tổng sản phẩm quốc dân
 Ưu điểm
- Vận dụng để ra kế hoạch cho sự phát triển của một ngành hay một khu vực nào đó
của nền kinh tế
- Dựa vào đó cũng có thể đưa ra những chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế khi xét
đến mối tương quan giữa nguồn tài chính và nguồn lực hiện có
 Hạn chế
- Ở các nước đang phát triển luôn vấp phải vấn đề cái vòng luẩn quẩn (thu nhập
thấp, tích lũy thấp, đầu tư thấp, năng suất lao động thấp, thu nhập thấp…)do vậy việc
sử dụng vốn làm động lực cho phát triển là thiếu tính khả thi
- Mặt khác, ở các nước đang phát triển, thị trường tài chính và thị trường hàng hóa
hoạt động yếu ớt. Dẫn đến toàn bộ tiết kiệm không đưa được ra đầu tư
- Lý thuyết H-O không giải thích rõ một số điểm khác biệt căn bản trong sự tăng

Như vậy, tăng quy mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổng cung
của nền kinh tế nếu các yếu tố khác không đổi. Mặt khác, tác động của vốn đầu tư còn
thông qua hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới công
nghệ…Do đó đầu tư lại gián tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế
Xét theo trình tự thời gian, sau giai đoạn tực hiện đầu tư là giai đoạn vận hành
kết quả đầu tư. Khi kết quả đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt
động làm cho tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên

Mối quan hệ giữa đầu tư với tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế là mối
quan hệ biện chứng, nhân quả, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn

II . Cơ cấu vốn đầu tư
1. Phân loại theo tiêu chí nguồn gốc hình thành
Nguồn vốn trong nước
a. Nguồn vốn nhà nước
 Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước
Đây là nguồn chi của ngân sách cho đầu tư. Đó chính là nguồn vốn đầu tư
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Nguồn vốn
này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng,
an ninh và hỗ trợ các dự án cần sự tham gia của nhà nước, chi cho việc lập và thực 12
hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch
xây dụng đô thị và nông thôn
 Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước:
Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế, vốn tín dụng đầu tư phát triển
của nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển của nhà
nước. Nếu như trước năm 1990, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước chưa
được sử dụng như một công cụ quản lý và điều tiết nền kinh tế thì trong giai đoạn

của dân cư. Nguồn vốn dân cư còn phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của hộ gia
đình. Ở mức độ nhất định, các hộ gia đình cũng sẽ là một trong số các nguồn tập
trung và phân phối vốn quan trọng của nền kinh tế. Quy mô tiết kiệm phụ thuộc vào :
Trình độ phát triển của đất nước(ở những nước trình độ thấp thường có quy mô và tỷ
lệ tiết kiệm thấp); tập quán tiêu dùng của dân cư; chính sách động viên của nhà nước
thông qua chính sách thuế thu nhập và các khoản đóng góp của xã hội
Với khoảng vài trăm ngàn doanh nghiệp dân doanh (doanh nghiệp tư nhân,
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã) đã, đang và sẽ đi vào hoạt
động, phần tích lũy của doanh nghiệp này cũng đóng góp đáng kể vào tổng quy mô
vốn của toàn xã hội
Thực tế thời gian qua cho thấy đầu tư của doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình
có vai trò đặc biệt trong phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn mở mang ngành
nghề, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ và vận tải của
địa phương
Nguồn vốn nước ngoài
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũy của cá nhân, các
doanh nghiệp , các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy động vào quá
trình đầu tư phát triển của nước sở tại
Theo tính chất luân chuyển vốn, có thể phân loại các nguồn vốn nước ngoài
chính thành :
 Tài trợ phát triển chính thức (ODF – Official Development Finance)
Nguồn này bao gồm Viện trợ phát triển chính thức và các hình thức tài trợ khác.
Trong đó ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn ODF
Nguồn vốn ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và chính phủ
nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển. So với các hình
thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn ODF khác. Ngoài các
điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay, khối lượng vốn cho vay lớn, bao giờ
trong ODA cũng có yếu tố không hoàn lại ( còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%
Các tổ chức viện trợ đa phương hiện đang hoạt động gồm các tổ chức thuộc hệ
thống Liên hợp quốc, Cộng đồng châu Âu, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức

- ODA là nguồn vốn cực kì quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế của các
nước đang phát triển. Thông qua dự án ODA, cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội của
nước tiếp nhận được nâng lên một bước. Nếu các nước đang phát triển sử dụng có
hiệu quả các nguồn vốn ODA sẽ là nhân tố tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- Thông qua các dự án ODA về giáo dục, đào tạo, y tế… giúp trình độ dân trí, chất
lượng lao động được nâng cao
Khi xem xét trên góc độ nguồn vốn đầu tư, ODA là một trong những nguồn
vốn nước ngoài. Tuy nhiên trong quá trình quản lý và sử dụng nguồn vốn này một
phần vốn ODA có thể được đưa vào ngân sách nhà nước đáp ứng mục tiêu chi đầu tư
phát triển của nhà nước, một phần có thể đưa vào chương trình tín dụng ưu đãi đầu tư
của nhà nước và một phần có thể vận hành theo các dự án độc lập 15
 Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Nguồn vốn FDI là nguồn vốn đầu tư của tư nhân nước ngoài để đầu tư cho sản
xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận. Đây là nguồn vốn lớn có ý
nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển
Nguồn vốn FDI có đặc điểm cơ bản khác với nguồn vốn nước ngoài khác là
việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận vốn. Thay vì
nhận lãi suất trên vốn đã đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận lợi nhuận thích đáng khi dự án
đầu tư hoạt động có hiệu quả
Đầu tư FDI tồn tại dưới nhiều hình thức, song những hình thức chủ yếu là
hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản kí kết giữa hai hoặc nhiều bên (bên hợp
doanh) quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến
hành sản xuất, kinh doanh ở nước nhận tiếp nhận mà không tiến hành thành lập một
pháp nhân
- Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên

năng động và khả năng cạnh tranh trong nước, tạo điều kiện khai thác hiệu quả các
tiềm năng của đất nước. Điều đó có tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng tích cực
- Việc tiếp nhận FDI, không đẩy các nước vào tình trạng nợ nần, không chịu những
răng buộc vào chính trị, xã hội
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các nước tiếp nhận đầu tư, bên cạnh những
ưu điểm thì FDI cũng có những hạn chế nhất định. Đó là, nếu đầu tư vào nơi có môi
trường bất ổn về kinh tế và chính trị, thì nhà đầu tư nước ngoài sẽ dễ bị mất vốn. Còn
đối với các nước sở tại, nếu không có quy hoạch cho đầu tư cụ thể và khoa học thì sẽ
dễ dẫn đến việc đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá
mức và nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
 Nguồn vốn các tổ chức phi Chính phủ (NGO)
Hiện nay trên thế giới có hàng trăm tổ chức phi Chính phủ hoạt động theo các
mục đích, tôn chỉ khác nhau (từ thiện, nhân đạo, y tế, tôn giáo…). Nguồn vốn các tổ
chức phi Chính phủ thường nhỏ, chủ yếu dựa vào nguồn quyên góp hoặc sự tài trợ
của các Chính phủ. Viện trợ NGO có những đặc điểm sau:
- Phương thức viện trợ đa dạng, có thể vật tư, thiết bị hoặc lương thực, thực phẩm,
thuốc men, tiền mặt, quần áo…
- Quy mô viện trợ nhỏ, từ vài ngàn đến vài trăm ngàn USD, nhưng thủ tục đơn giản,
thực hiện nhanh, đáp ứng kịp thời những yêu cầu khẩn cấp (khắc phục thiên tai, dịch
bệnh…)
- Khả năng cung cấp viện trợ và thực hiện viện trợ thất thường và nhất thời
- Ngoài mục đích nhân đạo, trong một số trường hợp còn mang màu sắc tôn giáo,
chính trị khác nhau nên khó quản lý 17
Viện trợ NGO thường là viện trợ không hoàn lại, trước đây loại viện trợ này
chủ yếu là vật chất, đáp ứng nhu cầu nhân đạo như: cung cấp thuốc men cho các trung
tâm y tế, chỗ ở và lương thực cho các nạn nhân thiên tai. Hiện nay, loại viện trợ này

18
III.Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tác động của nguồn vốn với tăng trưởng
1. Hệ số ICOR
Hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio)- tỷ số gia tăng của vốn so với
sản lượng là tỷ số giữa quy mô đầu tư tăng them với mức gia tăng sản lượng, hay là
suất đầu tư cần thiết để tạo ra một sản lượng (GDP) tăng them
Về phương pháp tính, hệ số ICOR được tính như sau:
ICOR = Vốn đầu tư tăng thêm/GDP tăng thêm = Đầu tư trong kỳ/GDP tăng
thêm
Chia cả tử và mẫu cho GDP, có công thức
ICOR = (Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP ) / Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Ta thấy, nếu ICOR không đổi, mức tăng trưởng kinh tế hoàn toàn phụ thuộc vào vốn
đầu tư. Theo một số nghiên cứum muốn giữ tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và vổn
định thì vốn đầu tư chiếm khoảng 25% GDP, tùy thuộc vào ICOR của từng nước
Hệ số ICOR của nền kinh tế cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều nhân tố:
- Thứ nhất, trình độ khoa học công nghệ trong nước
- Thứ hai, sự tương quan về giá cả giữa các yếu tố đầu vào
- Thứ ba, trình độ quản lý và sử dụng vốn
Ưu nhược điểm của hệ số ICOR
 Ưu điểm
- ICOR là chỉ số quan trọng để dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc dự báo quy
mô vốn đầu tư cần thiết để đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế nhất định trong tương lai
- Trong những trường hợp nhất định, hệ số ICOR được xem là một trong những chỉ
tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư. ICOR giảm cho thấy : Để tạo ra một đơn vị GDP tăng
thêm, nền kinh tế chỉ phải bỏ ra một lượng vốn ít hơn, nếu các điều kiện khác ít thay
đổi
 Nhược điểm


20
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG NGUỒN VỐN Ở VIỆT NAM

I. Đánh giá chung về tổng vốn đầu tư xã hội ở nước ta
1. Thực trạng
Việt Nam với nhiều nguồn lực khác nhau như vốn, lao động, tài nguyên thiên
nhiên, công nghệ để tạo ra tăng trưởng kinh tế thì nguồn lực về vốn có nhiều thay đổi
qua các năm.

Bảng tổng vốn đầu tư (2001-2009)

Năm Vốn
đầu tư
GDP Tỷ lệ
VĐT/GDP


1203358

0.503
2009 643209

1305695

0.586

( Nguồn tính toán của CIEM) 21
Từ bảng trên ta thấy lượng vốn đầu tư liên tục tăng qua các năm: 2001 vốn đầu
tư theo giá thực tế là 170496 tỷ đồng (35,42%GDP), năm 2007 tăng lên đến 521700
tỷ đồng ( 45% GDP). Cả giai đoạn 2001-2007 đạt 2170361 tỷ đồng, lượng vốn đầu tư
tăng nhanh nhờ nhà nước có những chính sách và giải pháp thu hút nguồn vốn hợp lý.
Lượng vốn từ năm 2001 qua các năm sau đều tăng khoảng từ 30000 đến 50000 tỷ
đồng đến năm 2006, đặc biệt đến năm 2007 lượng vốn tăng 116988 tỷ đồng so với
năm 2006 ( lượng gia tăng gấp đôi so với các năm trước). Có được sự tăng nhảy vọt
này là vì nước ta trở thành thành viên của WTO là nhân tố chủ yếu làm gia tăng
nguồn vốn toàn xã hội.
Tỷ lệ vốn đầu tư nước ta chỉ thấp hơn Trung Quốc còn hầu hết cao hơn các
nước khác trong khu vực như năm 2004 Việt Nam là 40,67% thì Trung Quốc là
45,7% , Hàn Quốc là 29,3%, Thái Lan là 37,8%, Malaixia là 22,5%, Phi-lip-pin
19,6%, Indonexia 19,5%, Xingapo là 15,3%. Hiện nay, tỷ lệ vốn đầu tư của nước ta
và các nước trong khu vực đều tăng lên nhưng ở nước ta tỷ lệ vể vốn đầu tư / GDP

kinh tế tài chính trong khu vực cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam. Đầu tiên,
đó là sự rút vốn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài thuộc nền kinh tế bị khủng
hoảng khỏi Việt nam nên làm nguồn vốn thu hút từ đầu tư nước ngoài ở nước ta giảm
xuống. Thứ hai, chính nền kinh tế của nước ta cũng bị ảnh hưởng làm các doanh
nghiệp trong nước bị phá sản, sản xuất kinh doanh thua lỗ, tiêu dùng, tiết kiệm của
các thành viên xã hội giảm làm nguồn vốn huy động từ trong nước cũng giảm một
cách rõ ràng. Điều đó dẫn đến tổng nguồn vốn đầu tư giảm và tỷ lệ đầu tư thấp làm
vốn đóng góp rất thấp vào tăng trưởng là 3,56 điểm phần trăm. Tiếp những năm sau
nền kinh tế chưa phục hồi nên vốn đóng góp 3,78 điểm phần trăm (2003-2006). Một
sự giảm sút rất nhanh về sự đóng góp vào tăng trưởng, trong thời kỳ tiếp theo sự đóng
góp về các nguồn vốn có tăng hay giảm? và sự tăng giảm này có cùng chiều với tốc
độ tăng trưởng kinh tế không? Cụ thể ở các năm như sau

Bảng về tốc độ tăng trưởng của GDP và của vốn đầu tư (2001-2009)
ĐV: %

Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Tốc độ tăng GDP

6,89 7,08 7,34 7,79 8,44 8,23 8,48 6,23
7,25
Tốc độ tăng VĐT

12,4 14,4 12,7 13,5 13,0 13,7 25,8 22,1
25,4 ( Nguồn: Tổng cục thống kê)

Từ bảng trên ta thấy, sau đợt khủng hoảng kinh tài chính tiền tệ của khu vực

24
Cơ cấu vốn đầu tư theo giá thực tế từ năm 2000-2009.
Đv: %
Năm NV
trong
nước
NV
ngoài
nước
Tỷ lệ
TN/NN

2000 82,0 18,0 4,56
2001 82,4 17,6 4,74
2002 82,6 17,4 4,75
2003 84,0 16,0 5,25
2004 85,8 14,2 6,04
2005 85,1 14,9 5,71
2006 83,8 16,2 5,17
2007 75,2 24,8 3,03
2008 78,4 28,8 4,6
2009 81,6 32,4 6,56 Một cơ cấu hợp lý giữa nguồn vốn trong và ngoài nước giúp giữ ổn định nền
kinh tế, nước ta những năm 2000 thì hơn 4 đồng trong nước thì có 1 đồng nước ngoài,
các năm sau tỷ lệ này tăng dần lên do sự đầu tư của nước ngoài kém hiệu quả hơn.
Đến năm 2007 thì tỷ lệ này giảm xuống còn là 3 đồng trong nước với 1 đồng ngoài
nước.
Nguồn vốn đầu tư xã hội tăng khá nhanh vượt mức dự kiến trên 30% so với kế

trọng(%)
Giá trị
(tỷ
đồng)
Tỷ
trọng(%)
Giá trị
(tỷ
đồng)
Tỷ
trọng(%)
2001 101973

59.8 38512 22.6 30011 17.6
2002 114738

57.3 50612 25.3 34795 17.4
2003 126558

52.9 74388 31.1 38300 16
2004 139831

48.1 109754

37.7 41342 14.2
2005 161635

47.1 130398

38 51102 14.9

24,8%. Đây là nguồn vốn quan trọng nhất trong việc tập trung vào phát triển kết cấu
hạ tầng kĩ thuật và đầu tư cho các chương trình dự án gắn với mục tiêu xã hội, mục

Trích đoạn Nguồn vốn các tổ chức phi chính phủ(NGO) Khuyến khích và ưu đãi hơn nữa các dự án đầu tư vào lĩnh vực nông Xử lý linh hoạt hơn nữa hình thức đầu tư Cần phải phát triển thị trường tài chính
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status