Tài liệu LUẬN VĂN: Nâng cao vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước - cụ thể là các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế quốc dân - Pdf 10


LUẬN VĂN:

Nâng cao vai trò chủ đạo của thành phần
kinh tế nhà nước - cụ thể là các doanh nghiệp
nhà nước trong nền kinh tế quốc dân



Những hạn chế yếu kém của doanh nghiệp Nhà nước có những nguyên nhân
khách quan. Nhưng chủ yếu là do những nguyên nhân chủ quan; chưa có sự thống nhất
trong nhận thức về vai trò vị trí của kinh tế nhà nước và DNNN, về cơ chế chính sách
còn chưa đồng bộ, còn nhiều điểm chưa phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Công tác cải cách hành chính chậm, công tác quản lý, công tác đào tạo
cán bộ và đội ngũ người lao động trong các DNNN vẫn còn nhiều bất cập, lãng phí
Từ thực tại trên đòi hỏi không ngừng đổi mới, nâng cao vai trò chủ đạo của
thành phần kinh tế nhà nước - cụ thể là các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế
quốc dân, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Phần nội dung
I. Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà
nước.
I.1. Các thành phần kinh tế - Tính tất yếu khách quan tồn tại nhiều thành phần
kinh tế
Trong tác phẩm " Bàn về thuế lương thực", Lê Nin đã viết " Danh từ quá độ có
nghĩa là gì ? vận dụng vào kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có
những thành phần, những bộ phận, những mảng của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã
hội không ? Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có".
Luận điểm trên của Lê Nin cho thấy rằng: trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội tất yếu phải tồn tại nhiều thành phần kinh tế.
*Cơ sở lý luận
Sự tồn tại của các thành phần kinh tế hay của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
trong thời kỳ quá độ ở nước ta, trước hết bắt nguồn từ quy luật quan hệ sản xuất phải

nghiệm tổ chức, quản lý Ngoài ra nó còn góp phần tận dụng được sức mạnh kinh tế
quốc tế, khắc phục tình trạng biệt lập của nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới
bằng cách thông qua đầu tư nước ta với nền kinh tế thế giới bằng cách thông qua đầu
tư và hợp tác quốc tế. Đó là một trong những yếu tố quan trọng để nước ta có thể tiếp
cận được kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của thế giới.
Tóm lại, trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều thành phần là tất
yếu khách quan xét cả mặt lý luận và thực tiễn chính vì vậy. Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI đã chỉ ra phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã
hội chủ nghĩa trên cơ sở củng cố và giữ vững vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế
nhà nước với sự điều tiết và quản lý của Nhà nước là đường lối chiến lược lâu dài ở
nước ta.
Đại hội Đảng lần IX tháng 4 - 2001, đã khẳng định thêm nữa tư tưởng trên.
Hiện nay nền kinh tế nước ta gồm 6 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập
thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế ta bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ qua lại lẫn
nhau, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
I.2. Khái niệm về thành phần kinh tế Nhà nước
I.2.1. Kinh tế Nhà nước - Thành phần kinh tế Nhà nước
Kinh tế Nhà nước là thuật ngữ bao hàm nội dung khá rộng, được xác định theo
ý nghĩa khác nhau tuỳ góc độ nghiên cứu theo cách hiểu chung nhất thì kinh tế Nhà
nước là phần tài sản do nhà nước làm chủ sở hữu. Hay nói cách khác, kinh tế Nhà
nước là bộ phận của nền kinh tế quốc dân thuộc sở hữu Nhà nước.
Với cách hiểu đó, ở nhiều nước cũng như ở Việt Nam ta bao gồm: Tài nguyên
khoáng sản và phần đất đai thuộc sở hữu nhà nước; Ngân hàng nhà nước, kho bạc nhà
nước, ngân sách nhà nước, Tài chính nhà nước, hệ thống dự trữ quốc gia bảo hiểm
quốc gia. Các dịch vụ công cộng do Nhà nước đảm nhiệm. Các doanh nghiệp Nhà
nước. Ngày nay cũng có quan điểm cho rằng kinh tế nhà nước còn bao gồm cả nguồn

được hai phạm trù này và nhận thức đầy đủ hơn về vai trò kinh tế nhà nước là một
bước phát triển về nhận thức thực tiễn nền kinh tế nước ta trong quá trình đổi mới.
I.2.2. Quan niệm mới về doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Như ta đã biết, thành phần kinh tế nhà nước thực chất là phản ánh quy mô, cấu
trúc, sức mạnh của hệ thống doanh nghiệp Nhà nước đã đạt được những kết quả khả
quan. Tuy nhiên cho đến nay, trong sự phát triển phong phú và đa dạng của kinh tế thị
trường, xung quanh khái niệm DNNN, xác định phạm vi DNNN vẫn còn những ý kiến
khác nhau. Hiểu được quan niệm mới về DNNN sẽ góp phần vào nhận thức thực tiễn,
đưa ra những giải pháp để ngày càng nâng cao vai trò chủ đạo của hệ thống DNNN.
Tại điều 1, luận Doanh nghiệp Nhà nước (ký ngày - 20 - 4 - 1995) quy định:
"DNNN là một tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý
hoạt động kinh doanh hoặc hoật động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế -
xã hội do Nhà nước giao. DNNN có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự,
tự chịu trách nhiệm và toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh
nghiệp quản lý ". Tuy nhiên có đến nay khái niệm DNNN do luật doanh nghiệp Nhà
nước hiện hành quy định đã tỏ ra không phù hợp với nền kinh tế nước ta đang trong
quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường và từng bước hội nhập vào nền kinh tế
khu vực và thế giới. Sự không phù hợp đó thể hiện ở những điểm sau.
Một trong những khuyết tật của DNNN là không xác định chủ sở hữu đích thực.
Dù luật DNNN đã xác định chủ sở hữu DNNN là thủ trưởng các tổ, cá nhân được
Chính phủ uỷ quyền, nhưng trên thực tế không có một cơ chế nào cho phép xác định
chủ sở hữu đích thực của các DNNN. Thực tế đó dẫn đến tình trạng DNNN. Hiện nay
dưới thủ tướng Chính phủ có nhiều chủ, ai cũng có quyền điều hành, nhưng chẳng ai
có quyền lực để giải quyết những khó khăn, vướng mắc, trắc chở của doanh nghiệp.
Hậu quả là doanh nghiệp kém năng động, khả năng cạnh tranh yếu.
Luật DNNN quy định DNNN làm tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn,

các mặt: đi đầu và nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, nhờ đó mà thúc đẩy
tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế quốc dân. Bằng nhiều hình thức hỗ trợ
các thành phần kinh tế khác nhau cùng phát triển theo định hướng XHCN tăng cường
sức mạnh vật chất tinh thần làm chỗ dựa để Nhà nước thực hiện có hiệu lực chức năng
điều tiết, quản lỹ vĩ mô nền kinh tế theo định hướng XHCN, cùng với kinh tế tập thể
(mà lòng cốt là các hợp tác xã) dẫn trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân và chế
độ xã hội mới.
Tuy nhiên hiện nay, DNNN vẫn chưa phát huy đầy đủ tính ưu việt và sự chỉ đạo
của nó đối với nền kinh tế quốc dân. Cùng với việc đổi mới các nền kinh tế ngoài quốc
doanh, việc cải tạo đổi mới DNNN phải hết sức coi trọng đầu tư và thường xuyên tổng
kết để rút ra những bài học kinh nghiệm, bổ sung những chi thức "cập nhất" nhằm thực
hiện cho kỳ được vai trò chủ đạo và mục tiêu định hướng XHCN của thành phần kinh
tế này.
I.3.2. Tính tất yếu khách quan nâng cao vai trò chủ đạo thành phần kinh tế Nhà
nước (DNNN) trong nền kinh tế thị trường
Đại hội Đảng lần IX tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách nhiều thành phần
vận động theo cơ chế thị trường có định hướng xã hội. Mô hình kinh tế thị trường khá
ưu việt về nhiều mặt đặc biệt trong việc giải phóng sức sản xuất xã hội, phát huy tiền
năng sức sáng tạo của các cá nhân, không ngừng nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật tăng năng suất lao động, sản xuất hàng hoá với khối lượng lớn, chất lượng
ngày càng tốt, giá thành ngày càng hạ. Tuy nhiên bên cạnh những mặt mạnh những ưu
thế vốn có, nền kinh tế thị trường bộc lộ những khuyết tật cố hữu như tính tự phát, mù
quáng vì lợi nhuận, phân hoá giàu nghèo, tàn phá các nguồn tài nguyên thiên nhiên,
huỷ hoại môi trường. Làm phát sinh các tệ nạn xã hội Chính sự phát triển của nền
kinh tế thị trường là do các tổ chức cá nhân hành động về lợi ích riêng của mình dẫn
đến việc đi không đúng hướng của kế hoạch Nhà nước, mục tiêu phát triển kinh tế vĩ
mô của nền kinh tế.
II- Thực trạng thành phần kinh tế nhà nước và quá trình nâng cao vai trò chủ
đạo của thành phần kinh tế nhà nước ở nước ta hiện nay
II.1. Thực trạng phát triển doanh nghiệp nhà nước (thành phần kinh tế Nhà nước
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong hơn 10 năm qua, Đảng và nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ trương,
biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Trong
bối cảnh thế giới có nhiều biến đổi phức tạp và nền kinh tế còn nhiều khó khăn gay
gắt, DNNN đã vượt nhiều thử thách, đứng vững và không ngừng phát triển, góp phần
quan trọng vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, đưa
nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá theo đinh hướng XHCN.
Mặc dầu đạt được những kết quả nhất định nhưng hiện nay DNNN đang đứng
trức thực trạng yếu kém về nhiều mặt, sức cạnh tranh còn quá yếu kém, quy mô quá
nhỏ, thiếu vốn nghiêm trọng, lãi suất kinh doanh bình quân thấp hơn lãi vay ngân
hàng, hiệu quả sút kém.
* Hiệu quả hoạt động kinh doanh
Những năm 1991 - 1995, tốc độ tăng trưởng bình quân của DNNN là 11,7%
gấp 1,5 lần tốc độ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế. Năm 1997 tốc độ tăng
trưởng của DNNN là 9,67% (nền kinh tế: 8,15%). Tuy nhiên đến năm 1998 tì ngược
lại thấp hơn. tốc độ tăng trưởng của DNNN là 5,48% trong đó tốc độ tăng trưởng nền
kinh tế nói chung là 5,80%.
Mức đóng góp cho ngân sách còn thấp so với nguồn lực bỏ ra, mức nộp của
từng doanh nghiệp chênh lệch lớn, thậm chí có nhiều DNNN mức nộp ngân sách thấp
nhiều so với mức được ngân sách hỗ trợ. Ta lấy DNNN của Hà Nội làm ví dụ. Năm
1997 so với năm 1995 doanh thu của DNNN tăng 12,56% nhưng tổng lãi thực hiện
bằng 78% của năm 1995, tổng nộp ngân sách bằng 92,76% của năm 1995, trong 3 năm
(1995 - 1997) mức vốn ngân sách cấp cho doanh nghiệp địa phương tăng 43,64%
nhưng mức đóng góp của DNNN có lỗ kỹ kế đến 01/01/2000 chiếm 30,8% số doanh

112.000 tỷ đồng. Năm 1998 vẫn còn 72,5% số DNNN có vốn dưới 5 tỷ đồng, trong đó
có gần 26% số DNNN có số vốn trên 10 tỷ đồng, qua đó đủ thấy số vốn của DNNN
nước ta nhỏ đến mức nào.
Số vốn của DNNN Việt Nam lại càng trở nên nhỏ bé và mỏng manh hơn khi
đối chiếu giữa vốn chủ sở hữu về tình hình công nợ của doanh nghiệp. Vốn đủ ít công
nợ lại nhiều, số nợ phải trả của DNNN thường cao hơn rất nhiều số vốn của doanh
nghiệp. Liệu có bình thường không khi vốn thực có không bù đắp nổi số vốn gấp 6 lần
vốn thực có, tổng công ty gốm sứ thuỷ tinh: 3,5 lần,tổng công ty dệt may 2,5 lần tính
riêng ở các DNNN thuộc bộ giao thông vận tải, tổng công nợ phải thu toàn ngành lên
tới 6.067 tỷ đồng (xấp xỉ bằng nguồn vốn chủ sở hữu) trong đó nợ khó đòi là 92,8 tỷ
đồng, riêng các đơn vị khối xây dựng cơ bản số phải thu chiếm tới 2.932 tỷ đồng, chủ
yếu là nợ khối lượng các dự án đã hoàn thành nhưng chịu được các chủ đầu tư thanh
toán. Tổng nợ phải trả là 12.155 tỷ đồng (gần gấp đôi vốn chủ sở hữu). Xin đơn cử vài
trường hợp cụ thể: Tổng công ty Hàng Hải nợ đến hạ và quá hạn là 94,3 tỷ đồng, công
ty Traximexco 19,4 tỷ đồng, Cục Đường Bộ 7,7 tỷ đồng
Mặt khác tình trạng thiếu vốn của các DNNN là phổ biến và nghiêm trọng. Có
tới hơn 60% số DNNN không đủ vốn pháp định theo quy định tại Nghị định số 50/CP.
Vốn thực tế hoạt động chỉ đạt 80% riêng vốn lưu động chỉ có 50% được huy đọng vào
kinh doanh, còn lại nằm ở tài sản, vật tư mất mát, kém phẩm chất, công nợ không thu
hồi được, lỗ chưa được bù đắp.
Trong tổng công ty Nhà nước tuy được ưu tiên các điều kiện vật chất nguồn
lực, để phát triển nhưng tình trạng cũng không sáng sủa hơn. Năm 1998 vốn Nhà nước
bình quân của Tổng công ty 91 là 3661 tỷ đồng. Nhưng trong 17 tổng công ty 91 có tới
14 tổng công ty (82%) có mức vốn nhà nước dưới mức vốn bình quân, trong đó có 6
tổng công ty (35%) có mức vốn dưới 100 tỷ đồng. Đối với tổng công ty 90 tình hình
vốn còn đáng buồn hơn. Hơn 20%số tổng công ty 90 vốn nhà nước chỉ có dưới 100 tỷ
đồng, trong đó có 13 tổng công ty, vốn ngân sách cấp cho chỉ được dưới 40 tỷ đồng

đến tình trạng tuỳ tiện, làm thất thoát tài sản Nhà nước. Hoặc là can thiệp tiếp vào hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp gây ra quan liêu và trách nhiệm không rõ ràng.
Hai là: Nhà nước cần tập trung vốn cho yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kỹ
thuật và xã hội, còn DNNN cần rất nhiều vốn cho yêu cầu đổi mới công nghệ và mở
rộng sản xuất nhưng các kênh huy động vốn đều trắc trở.
- Nguồn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước còn quá hạn hẹp. Nguồn tín
dụng thương mại qua nhiều năm chỉ cho vay ngắn hạn gần đây mới bắt đầu mở rộng tỷ
lệ tín dụng hạn, chưa có khả năng cho vay dài hạn. Do đó không ít DNNN đứng trước
tình thế có hạn chế bớt rủi ro nhưng không đổi mới triệt để công nghệ quá lạc hậu và
bị đối sức trong cạnh tranh, hoặc liều lĩnh vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn dẫn đến
nguy cơ vỡ nợ.
- Phương thức liên doanh tuy giải quyết thêm được việc làm nhưng do thiếu
vốn và thiếu kinh nghiệm trong quá trình hình thành dự án và tham gia quản lý nên
trong thực tế rất ít DNNN chia được lợi nhuận từ nguồn này sang nguồn khác bổ sung
quỹ phát triển sản xuất.
- Cổ phần hoá là phương thức huy động vốn xã hội vì tạo động lực cho DNNN
hoạt động có hiệu quả nhưng hiểu khái quá chậm.
II.2. Kết quả và những mặt hạn chế của quá trình nâng cao vai trò chủ đạo của
doanh nghiệp nhà nước (thành phần kinh tế nhà nước) sau hơn mười năm đổi
mới.
Từ đầu thập kỷ 90, Nhà nước đã có nhiều chủ trương quan trọng đẩy mạnh
công cuộc đổi mới cơ chế quản lý và tổ chức - sắp xếp lại hệ thống DNNN nhằm thích
ứng với thời kỳ mới mà nội dung cốt lõi là triển khai chiến lược công nghiệp hoá, hiện
đại hoá. Việc đổi mới, tổ chức sắp xếp lại DNNN nhằm khơi dậy nội lực của các
doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sức cạnh tranh và khả năng định hướng của thành
phần kinh tế khác cùng phát triển lên CNXH. Từ 1990 hiện nay, công cuộc đổi mới có
nhiều nội dung đem lại nhiều điều kiện cho hoạt động của DNNN nhưng bên cạnh đó

trước. Đặc biệt chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại DNNN được sử lý
tương đối ổn thoả một phần do nguồn tài chính của ngân sách nhà nước bảo đảm khá
tốt, mặt khác đã áp dụng phương thức sắp xếp bằng cách nhập nhiều hơn là giải thể
nên gánh nặng trợ cấp lao động giảm.
II.2.2. Những đổi mới về mô hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh theo hướng
thúc đẩy tập trung hoá, tích tụ hoá trong các DNNN
Trong giai đoạn sau Đại hội VI một lần nữa có chủ trương tổ chức lại loại
DNNN lớn trong các ngành. Điều lệ mới về liên hiệp xí nghiệp quốc doanh chủ trương
áp dụng đồng thời hai hình thức được goị tắt là " liên hiệp mềm" và "liên hiệp cứng"
loại "mềm" được hình thành theo nguyên tắc tự nguyện của doanh nghiệp và toàn bộ
loại cắt phần lĩnh vực xuất phát sự quan điểm cho rằng liên hiệp lại sẽ có hiệu quả hơn.
Loại "cứng" được tổ chức ở một số ngành kinh tế kỹ thuật cao về trình độ tập trung
hoá (điện lực, hàng không) có đỏi hỏi điều hành tập trung từ một trung tâm.
Đến đầu năm 1994 khi việc xắp xếpvà củng cố các DNNN theo từng đơn vị cơ
sở đã cơ bản kết thúc, đạt yêu cầu đặt ra trong thời kỳ đó chính phủ chủ trương củng
cố, tổ chức lại các hình thức tổ chức liên hiệp tổng công ty theo hướng hình thành và
tập đoàn kinh doanh mạnh thuộc sở hữu " Nhà nước". Những nội dung chính sách chủ
yếu về tổng công ty Nhà nước là tăng thực lực, khả năng tích tụ, khả năng cạnh tranh
của DNNN trên các lĩnh vực quan trọng.
- Tổng công ty trong các ngành quan trọng nhất, điều kiện chín muồi nhất do
chính phủ quyết định thành lập chỉ định các doanh nghiệp thành viên và nhân sự, hoạt
động trên phạm vi cả nước (Tổng công ty 91).
+ Tổng công ty thành lập ở cấp bộ, địa phương gồm các thành viên tự nguyên
gia nhập, thường hoạt động theo các khu vực (Tổng côngt y 90) hiện nay tồn tại những
hạn chế kìm hãm sự phát triển của các tổng công ty như: số lượng các tổng công ty quá
nhiều, chưa có sự liên kết kinh tế gắn bó lợi ích, hỗ trợ về thị trường giữa tổng công
ty với các đơn vị thành viên, giữa các đơn vị thành viên khác nhau:

công ty cơ điện lạnh từ 244 lao động đến 806 lao động. Thu nhập của người lao động
tăng bình quân 20% /năm điển hình là công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển bộ
giao thông vận tải có thu nhập lợi nhuận tằng từ 2- 3 lần, nộp Ngân sách tăng 2 - 25
lần, vốn điều lệ tăng 2,5 lần. Lãi cổ tức đã cao hơn lãi tiết kiệm, bình quân từ 1 - 2%
tháng, có một số công ty đạt 2,5%. Tuy nhiên số DNNN được cổ phần hoá trong thời
gian qua là quá ít so với kế hoạch đề ra. Năm 1998 đạt 55% năm 1999 đạt 63% năm
2000 đạt 36%.
II.2.4. Ban hành và thực hiện hệ thống luật liên quan đến DNNN.
Cùng với nhiều chính sách vĩ mô đã thay đổi, nhà nước cũng đã từng bước ban
hành hệ thống luật liên quan đến DNNN. Trong đó có hai bộ luật được hình thành
tương đối sớm là luật phá sản doanh nghiệp và luật doanh nghiệp Nhà nước (năm
1995).
- Đối với luật phá sản, đây là bước đi mạnh dạn đồng thời đáp ứng tình hình
thực tế đã và đang xuất hiện rõ lượng không ít DNNN lâm vào tình trạng mất khả năng
thanh toán, nhưng nếu dựa vào các văn bản pháp quy trước đó thì không thể xử lý
được.
Luật doanh nghiệp Nhà nước, là một bước ngoặt về chất lượng quan trọng trong
tiến trình xây dựng, củng cố và quản lý Nhà nước đối với hệ thống DNNN - hệ thống
quan trọng vào bậc nhất trong giai đoạn hiện nay ở nước ta.
Luật doanh nghiệp ra đời 4/1999 là tín hiệu mới cho các doanh nghiệp nói
chung, DNNN nói riêng. Nó thay đổi cách tư duy xây dựng luật pháp của chúng ta từ
trước tới nay, là chỉ chú trọng phần trước hoạt động của doanh nghiệp, còn quá trình
hoạt động, sau hoạt động ra sao thì không cần để ý tới.
II.2.5. Những đổi mới về chính sách kinh tế vĩ mô có liên quan đến các DNNN.
Ngay cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 đã có những cải cách chính sách kinh tế vĩ
mô theo hướng kinh tế thị trường khắc phục một bước khá căn bản cơ chế cũ trong
chính sách này. Đó là cuộc cải cách thuế giai đoạn 1989 -1990 chuyển hình thức "thu

và có sự tích luỹ hiệu quả về công nghệ thì đều có thị trường xuấ khẩu sang Mỹ khá
lớn, chiếm tới trên 20% tổng kim ngạch xuất khẩu, của Việt Nam hiện mới là 4,3%.
3

Việc Việt Nam đã kỹ hiệp định Thương mại Việt - Mỹ và hưởng quy chế tối huệ quốc
có ý nghĩa tiêu đề quan trọng việc thúc đẩy xuất khẩu và thu hút đầu tư hướng vào
xuất khẩu. Liệu các DNNN Việt Nam, đặc biệt là các Tổng công ty có phá vỡ được tư
tưởng hiện tại là chỉ nhằm ổn định sản xuất lấy mục tiêu đáp ứng nhu cầu sản phẩm
thay thế nhập khẩu trước mắt để chuyển sang lấy cạnh tranh quốc tế làm chuẩn mực
cho sự phát triển hướng vào xuất khẩu.
Trong một nền kinh tế thế giới toàn cầu hoá thì việc một quốc gia có hội nhập
vào nền kinh tế thế giới hay không và hội nhập đến mức độ nào sẽ cơ bản phụ thuộc
vào khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sở tại. Nhìn vào nền kinh tế Việt Nam
có thể thấy rất rõ, dù chỉ chiếm chưa tới 20% tổng số 35.000 doanh nghiệp của cả
nước, các DNNN vẫn nắm giữ hầu hết các nguồn lực cơ bản của xã hội và giữ vai trò

3
Tạp chí Tài chính tháng 8/2000 trang 27
đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế. Tuy nhiên chưa nói gì đến các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh, khả năng cạnh tranh của bản thân các DNNN còn yếu về nhiều mặt
như: vốn kinh doanh, trình độ máy móc thiết bị công nghệ, năng lực đội ngũ cán bộ,
cơ cấu bộ máy tổ chức sản xuất.
Toàn cầu hoá đồng nghĩa với nhiều nguy cơ, thách thức đối với doanh nghiệp
đặc biệt là DNNN cũng như đối với toàn bộ nền kinh tế. Việt Nam đi sau rất nhiều
nước và khoảng cách này lại đang ngày càng doãng ra. Chiến lược đuổi vượt của nền
kinh tế Việt Nam trông đợi vào khả năng cạnh tranh và hội nhập của các DNNN nội
địa. Ta thấy sức cạnh tranh của các Tổng công ty có vai trò quyết định đối với khả

nươcs dần thay thế sự trao đổi theo cơ chế thị trường.
Cùng với thời gian, các khuyết tật của cơ chế kế hoạch hoá tập trung ngày càng
bộc lộ rõ nét và càng thể hiện tính không thực hiện. Năm 1978 Trung quốc thực hiện
công cuộc cải cách mở cưa đề ra xây dựng thể chế thị trường XHCN nhằm khắc phục
những khuyết tật của thể chế kinh tế kế hoạch hoá trước đây đặt cải cách DNNN là
khâu trọng tâm trong cải cách thể chế của cả nền kinh tế. Công cuộc cải cách DNNN
tính đến nay đã gần 20 năm bao gồm các giai đoạn:
- Từ 1978 đến năm 1983. Trọng tâm là mở rộng quyền tự chủ kinh doanh cho
các DNNN, điều chỉnh quan hệ phân phối giữa Nhà nước và doanh nghiệp.
- Từ năm 1983 đến năm 1987: trong giai đoạn này, thực hiện thí điểm biệm
pháp " thuế thay lợi nhuận" để điều chỉnh lợi ích giữa xí nghiệp và nhà nước.
- Từ năm 1987 đến năm 1992: thực hiện phổ biến chế độ khoán trách nhiệm
kinh doanh với nhiều hình thức
- Từ năm 1992 đến năm 1996: trọng điểm của giai đoạn này là chuyển đổi cơ
chế kinh doanh của DNNN, không phải chỉ là điều chỉnh quyền hạn và lợi ích giữa nhà
nước và doanh nghiệp trong thể chế quyền hạn và lợi ích giữa nhà nước và doanh
nghiệp trong thể chế cũ mà hình thành thể chế mới trong đó DNNN là người sản xuất
và kinh doanh hàng hoá độc lập.
Qua gần 20 năm thực hiện cải cách, hệ thống DNNN Trung Quốc đã có những
biến đổi to lớn. Thể chế kinh doanh đổi mới mạnh mẽ. Hàng loạt xí nghiệp đã lớn
mạnh và đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
III.1.2. Chính sách cải cách DNNN mới nhất của Trung Quốc do thủ tướng Chu
Dung Cơ đề xuất (1998 - 2000)
Tính đến cuối 1997, diện các DNNN làm ăn thua lỗ lên tới 45%. Hàng loạt các
doanh nghiệp đứng trước nguy cơ đóng cửa. Trong thời gian đó. Khủng hoảng khu vực
lại lan rộng và gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động xuất khẩu và hoạt động sản xuất
kinh doanh của các DNNN áp lực hội nhập quốc tế ngày càng gay gắt, đẩy các doanh

với chính sách 3 đồng " đồng loại, đồng giá, đồng lợi ích". Nghĩa là cổ phiếu bán ra
cho các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước cùng một giá.
* Xử lý mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng
Trước 1998 có tới 70% DNNN ở Trung Quốc là con nợ của ngân hàng với số
nợ 500 tỷ NDT (Tạp chí Tài chính 8/2000) một trong những giải pháp được áp dụng là
chuyển nợ thành cổ phần thông qua việc thành lập các công ty quản lý tài sản.
Sử lý thất nghiệp.
Nhìn chung, mặc dù có những tiến triển khả quan, song xét tổng thể các DNNN
Trung quốc vẫn chưa thoát được khó khăn: hiệu quả kinh tế chưa cao, các khoản nợ
tuy đã được giải quyết song mới mang tính thí điểm thất nghiệp cao. Chương trình cải
cách của thủ tướng Chu Dung Cơ sẽ phải tiếp tục đối phó với việc Trung quốc gia
nhập WTO. Để có đủ sức cạnh tranh và hội nhập, các DNNN Trung quốc phải vượt cả
một chựng đường dài đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa DNNN - ngân
hàng - chính phủ Trung quốc.
III.2. Việc đổi mới cải cách DNNN ở các nước TBCN
III.2.1. Chuyển đổi các DNNN - quản lý sự thay đổi triệt để tính chất trong môi
trường phi điều tiết ở Auslralia và Newzeland:
III.2.1.1. New zreland
DNNN ở New zraland được cải cách theo 2 hướng: Công ty hoá tư nhân hoá,
Qua hơn 10 năm thực hiện, chương trình cải cách thu đượckết quả tốt, kinh tế tăng
trưởng nhanh đời sống cao, Hiện nay New zraland còn 16 DNNN. Giá trị sản xuất
bằng 5% GDP. Tất cả DN này đều đã được công ty hoá. Còn đối với hầu hết các
DNNN thực hiện tư nhân hoá thì Nhà nước không còn cổ phần trong doanh nghiệp.
Hoạt động DNNN của New zreland được điều chỉnh bởi luật DNNN luật công
ty, hợp đồng định hướng kinh doanh hàng năm. bản hợp đồng nên tóm tắt kế hoạch
kinh doanh của doanh nghiệp, đây là căn cứ quan trọng nhất để giám sát hoạt động của
DNNN.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status