LUẬN VĂN:
Tín ngưỡng của người Hmông
tỉnh Lào Cai hiện nay
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm.
Những năm gần, đây nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cùng với
quá trình hội nhập kinh tế, nhiều vấn đề xã hội phức tạp cũng nảy sinh, đặc biệt trong đó
phải nói đến vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo. Ngoài các tôn giáo có lịch sử lâu đời, nhiều
loại hình tôn giáo mới nảy sinh đã gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội của nước
ta. Trong bối cảnh xã hội mới, Đảng ta đã và đang thực hiện việc đổi mới chính sách đối
với tín ngưỡng, tôn giáo nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá tinh thần của một bộ
phận nhân dân, đồng thời giữ vững ổn định xã hội, tạo điều kiện cần thiết cho sự phát
triển đất nước.
Lào cai là một tỉnh vùng cao biên giới và là một trong những địa bàn cư trú lớn
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những năm gần đây, đã có nhiều công trình khoa học liên quan đến đề tài của tác
giả như: Vương Quỳnh Anh (1962), "Vấn đề tên gọi dân tộc Mèo", Tạp chí Dân tộc của
Ban Dân tộc Trung ương Đảng, (36); Ban Dân tộc Miền núi Lào Cai (2000), Báo cáo
tổng kết công tác tôn giáo, dân tộc từ năm 2000 đến 2007; Ban Dân vận Tỉnh uỷ Lào
Cai (2008), Báo cáo tổng kết về công tác dân vận từ năm 2000 đến 2007; Phạm Đức
Dương (1995), Về vị trí mối quan hệ giữa nhóm Hmông - Dao và các nhóm ngôn ngữ
Đông Nam á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Bế Viết Đắng (1978), Dân tộc Mèo - Các
dân tộc ít người ở Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội;Lê Sỹ Giáo (1995), "Quản
lý xã hội cấp cơ sở ở các vùng nông thôn thiểu số miền núi Việt Nam", Thông tin lý
luận; Đỗ Quang Hưng (2002), Những biểu hiện mới của vấn đề tôn giáo trong vùng dân tộc
thiểu số của nước ta hiện nay (vài phân tích có tính phương pháp luận), Phòng tư liệu - Thư
viện Viện Nghiên cứu Tôn giáo; Đỗ Quang Hưng, Vương Duy Quang (2002), Những vấn
đề cấp bách về tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số của nước ta hiện nay (Khảo sát tại Tây
Nguyên và vùng núi phía Bắc): Kiến nghi (luận điểm và giải pháp), Phòng tư liệu - Thư
viện Viện Nghiên cứu Tôn giáo; TS. Vũ Ngọc Kỳ (2004), Văn hóa Mông ở Hà Giang
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hó; Lemone J. (1984), Tang ca Hmông -
Pari(bản dịch lưu trữ Bảo tàng Lào Cai); Văn Lê (1993), "Từ đài FEBC đến vấn đề “Vàng
Chứ”, đạo Kitô trong dân tộc Hmông ở nước ta", Tạp chí Công an nhân dân, (11); Hà
Lý (2003), Hỏi đáp về Tôn giáo và chính sách Tôn giáo, (sách phục vụ đồng bào dân
tộc thiểu số và miền núi), Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội;Michaud, J (1998), Bước đầu về
lịch sử tộc người ở người Hmông Sa Pa, Việt Nam - Một nghiên cứu đáng chú ý, Khoa
Nghiên cứu về Đông Nam á, Đại học Tổng hợp Hull, Vương quốc Anh; Morechan G.
(1921), Những đặc điểm chủ yếu của thuật Sa man của người Mèo trắng ở Đông
Dương; Vương Duy Quang (2005), Văn hóa tâm linh của người Hmông ở Việt Nam,
truyền thống và hiện tại, Nxb Văn hóa - thông tin và Viện Văn hóa; TS. Trần Hữu Sơn (
1996 ), Văn hóa Hmông, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội; Lâm Tâm (1961), "Lịch sử di
cư và tên gọi của người Mèo", Tạp chí Nghiên cứu lịch sử; Doãn Thanh (1974), Dân ca
Hmông, Ty Văn hóa Láo Cai xuất bản; Doãn Thanh (1993), Truyện cổ Mèo, Nxb Văn
Việt Nam.
+ Nghiên cứu thực trạng và những vấn đề đặt ra từ sinh hoạt tín ngưỡng của người
Hmông Lào Cai hiện nay.
+ Đề xuất các giải pháp để giải quyết tốt vấn đề tín ngưỡng của người Hmông
nhằm giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở tỉnh Lào Cai và khu vực.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Tín ngưỡng của người Hmông.
- Phạm vi nghiên cưu của luận văn là: Tín ngưỡng của người Hmông ở tỉnh Lào
Cai hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Lịch sử và lôgic, kết hợp chặt
chẽ giữa lý luận và thực tiễn, phân tích và tổng hợp, đồng thời coi trọng công tác điều
tra khảo sát thực tiễn.
6. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
- Góp phần làm rõ, sâu sắc hơn nữa tín ngưỡng người Hmông ở tỉnh Lào Cai
trong điều kiện hiện nay
- Đề xuất những giải pháp, định hướng trong lĩnh vực quản lý tín ngưỡng, tôn
giáo và những ứng xử phù hợp với người người Hmông.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và nghiên cứu về lĩnh
vực tôn giáo, tín ngưỡng của các trường và các ban ngành của tỉnh Lào Cai. Đồng thời
luận văn còn có thể góp phần vào cơ sở lý luận cho việc giải quyết vấn đề tôn giáo, tín
ngưỡng trong thực tiễn của tỉnh Lào Cai hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu
thành 3 chương 7 tiết
Chương 1
chí, chỉ cần nghe bài cúng “chỉ đường” cho người chết về với tổ tiên của các dòng họ là
ta có thể biết nguồn gốc của họ bắt đầu từ nơi nào (bởi lẽ đơn giản, thầy cúng của các
dòng họ bao giờ cũng phải cúng đưa hồn người chết của dòng tộc qua các miền đất mà
họ đã sinh sống, đến tận vùng đất cuối cùng mà họ còn nhớ, và từ đó hồn người chết
mới lên trời về “đất tổ tiên”). Thứ hai: Không chỉ người Hmông ở cao nguyên Đồng
Văn mà nhiều nhóm Hmông từ biên giới đến nội địa, từ Bắc, Đông Bắc sang Tây Bắc
Việt Nam đều nhớ cái tên Pàn Tầu Làng, điều đó chứng tỏ địa danh này gắn bó chặt chẽ
với lịch sử di cư của nhiều nhóm Hmông ở Việt nam. Thứ ba: Giai đoạn di cư thứ nhất
và thứ hai là quá trình hình thành những vùng Hmông chính ở Việt nam. Đến thời điểm
di cư ở giai đoạn ba, những vùng Hmông chủ yếu tiếp tục được củng cố và nhiều vùng
Hmông khác được ra đời trở lên khá ổn định như ngày nay. Thứ tư: Quá trình di cư của
dân tộc này vào Việt Nam thể hiện rõ niềm mong ước to lớn của họ là tìm được mảnh
“đất Lành” để sinh sống và không biết từ bao giờ, đồng bào đã coi nơi này như quê
hương mới của mình. Đồng thời, vùng đất Mèo Vạc (Hà Giang)- nơi lưu truyền có
giếng nước thần - nơi người Hmông đến cư trú sớm nhất cũng được coi là quê hương
của phần lớn của người Hmông ở Việt Nam.
Quả thực, với hơn ba trăm năm gắn bó với miền đất này, những người Hmông đã
tự khai sơn phá thạch dựng nên làng bản và trở thành một thành viên của đại gia đình
các dân tộc Việt nam. Đồng bào đã sát cánh kề vai cùng các dân tộc láng giềng đổ mồ
hôi và xương máu để giữ gìn, bảo vệ chủ quyền quốc gia Việt Nam của mình. Và giải
cao nguyên Đồng Văn - Mèo Vạc, nơi có người Hmông sống tập trung đông nhất, nơi
còn lưu giữ được những yếu tố văn hóa cổ truyền nhất xứng đáng được coi là trung tâm
văn hóa truền thống của người Hmông ở Việt Nam và Đông Nam á.
Trước tháng 3 năm 1979, dân tộc Hmông ở Việt Nam được mọi người biết đến với
tộc danh là Mèo. Lịch sử có ghi chép, người Mèo là một dân tộc sớm biết trồng lúa
nước. Người Hán căn cứ vào nghề trồng trọt của người Mèo mà gọi họ là Miêu Tử. Chữ
Miêu trong chữ tượng hình của người Hán bao gồm phần trên là chữ “thảo”, dưới là chữ
“điền”, có nghĩa là “mầm mạ tốt”, từ đó dân tộc Miêu xuất hiện trong lịch sử. Mèo là
cách gọi trực tiếp theo phiên âm của người Hán. Miêu là cách gọi theo phiên âm Hán -
tay. Váy phụ nữ Hmông Hoa nhuộm màu chàm, có in hoa văn bằng sáp ong hoặc thêu
hao văn bằng chỉ màu và vải mầu ở phần gấu váy; có nhiều nơi họ để hao văn tới 2/3
váy. Thậm chí ở một số vùng, váy áo phụ nữ Hmông hoa trở lên rực rỡ bởi màu sắc của
các hoa văn đều lấy gam màu đỏ là chủ đạo. áo của phụ nữ Hmông Hoa thường để cổ bẻ
hoặc xẻ nách. Phụ nữ Hmông Đen thường mặc quần đen. Một số vùng họ mặc váy và
thường để váy mang màu chàm đen ở nửa trên, nửa dưới để trắng hoàn toàn hoặc in
những dòng kẻ đen nhỏ trên nền màu trắng của váy. áo của người phụ nữ Hmông Đen là
loại áo xẻ nách, ống tay áo có viền nhiều mảng vải màu sáng trên nền đen. Phụ nữ
Hmông Xanh cũng mặc váy bằng vải lanh nhưng mang màu chàm xanh hoàn toàn; một
số trường hợp có thêu hoa văn ở gấu váy. áo của họ thường là loại áo xẻ ngực. Về ngôn
ngữ, sự khác nhau trong từ vị cơ bản của bố nhóm người Hmông này là không lớn.
Cuộc điều tra của Nguyễn Văn Chỉnh so sánh 2500 từ vị giữa nhóm Hmông Hoa và ba
nhóm còn lại cho thấy, sự khác biệt lớn nhất với nhóm Hmông Xanh là 21,3% và hai
nhóm còn lại là 4 - 7%. Có thể khẳng đinh, sự khác nhau trong trong phục cùng một
phần ngôn ngữ là yếu tố phân định các nhóm Hmông. Song, sự khác nhau ấy không hề
ảnh hưởng tới tính thống nhất từ văn hóa mưu sinh, văn hóa ứng xử đến văn hóa tâm
linh của dân tộc này. Thậm chí, ngay trong địa vực cư trú, họ cũng không có sự phân
biệt ranh giới về nhóm và các nhóm Hmông thường sống xen kẽ trong từng vùng, đôi
khi trong một làng có vài ba nhóm Hmông cùng sinh sống. Tuy nhiên, về tổng thể người
Hmông Trắng cư trú tập trung ở cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang), một phần các huyện
Bắc Hà, Mường Khương (Lào Cai), Trạm Tấu (Yên Bái), Thuận Châu, Yên Châu (Sơn
La) và tỉnh Cao Bằng. Ngươi Hmông Hoa sống chủ yếu ở Mù Căng Chải (Yên Bái),
Bắc Hà, Mường Khương (Lào Cai), Hoàng Sù Phì, Xín Mần (Hà Giang), Mộc Châu
(Sơn La), Điện Biên, Tủa Chùa. Người Hmông Đen sống tập trung ở Phong Thổ, Tủa
Chùa (Lai Châu). Người Hmông Xanh chỉ có một số ít cư trú tại Tủa Chùa (Lai Châu),
Văn Bàn (Lào Cai). Do có sự cư trú đan xen giữa các nhóm Hmông, việc vay mượn mô
típ và cách trang phục của nhau là điều không tránh khỏi. Bởi vậy ở một số nơi, phụ nữ
Hmông trong vùng đều có cách ăn mặc giống nhau mặc dù họ thuộc các nhóm Hmông
khác nhau. Thậm chí, các nhóm Hmông nhỏ còn chịu ảnh hưởng cách phát âm của các
của họ. Có thể nói, với dân tộc này, chỗ nào làm được nương là chỗ đó họ gieo lúa, tra
ngô. Ngô, lúa được người Hmông trồng ở khắp nơi, từ sườn núi, khe núi đến những
vùng thung lũng hẹp trên núi cao, thậm chí ở cả những hốc đá tai mèo, nơi chỉ vừa đủ
trồng một hốc ngô. Kinh tế nương rẫy không chỉ đảm bảo nguồn lương thực mà còn đáp
ứng cho đồng bào các nhu cầu thiết yếu. Những nương đỗ, nương khoai, dưa, bí, bầu
là nguồn thực phẩm phong phú cho cuộc sống hàng ngày và để chăn nuôi. Nương lanh
là nguồn sợi quan trọng giúp cho người phụ nữ Hmông dệt nên những mảnh vải bền
chắc phục vụ cho nhu cầu mặc. Cho đến nay, người ta có thể mua vải hay dùng sản
phẩm khác đổi lấy vải những cây lanh vẫn là cây lấy sợi truyền thống được duy trì và
phát triển, bởi sơi lanh và vải lanh không chỉ gắn bó với họ trong đời sống vật chất mà
còn đi váo thế giới tâm linh của dân tộc này. Thầy pháp Saman sẽ không thực hiện được
chức năng của mình nếu không có sợi lanh; người chết sẽ không thể về với thế giới của
tổ tiên nếu không được mặc bộ quần áo, váy bằng vải lanh để tổ tiên “nhận ra” họ , đó
là những minh chứng điểm hình về sự quan trọng của lanh đối với người Hmông.
Theo quan niệm của nhiều dân tộc, Nương hay Nương rẫy là một mảnh đất rừng
được chặt phá, đốt dọn. Được chọc lỗ hay xới lên để trồng trọt. Người Dao gọi đó là
Tảy, người thái gọi là Hay, người Mường gọi là Roọng với người Hmông, khái niệm
Nương được đồng bào gọi là Têz và người ta định nghĩa về nó có phần đơn giản hơn, từ
rất lâu đồng bào đã có câu: “Đất cũng có tên, chỗ nào cũng là đất, lấy dao phát được
“một khóm” gọi là nương; chỗ nào cùng là đất, tra một cây xuống được gọi là nương có
nghĩa là, chỉ cần phát được một “khóm nhỏ”, chưa phải là một khoảng rừng, thậm chí
chỉ cần tra được một hốc ngô xuống cũng được gọi là nương.
Người Hmông có nhiều cách phân loại nương dựa trên những tiêu chí khác nhau
như: phân loại theo địa hình; phân loại theo giống cây trồng; phân loại theo tên rừng
làm nương Điều cần nói là, dù phân theo cách nào, họ cũng đều tập hợp chúng lại theo
hai loại hình nương rẫy tương đương với hai mô hình kỹ thuật canh tác của đồng bào,
đó là nương du canh (Têz phax) và nương định canh (Têz lâus). Nương du canh là loại
nương không được sử dụng thường xuyên, liên tục. Theo tập quán truyền thống, người
Hmông thường gieo trồng trên những mảnh nương này từ 3-5 vụ. Khi đất quá bạc màu,
thiện: cày Mèo, dao Mèo, súng kíp Mèo
Cũng như nghề rèn đúc, nghề dệt cũng phổ biến ở tất cả các làng người Hmông.
Trong cuộc sống truyền thống của dân tộc này, bất kỳ người phụ nữ Hmông nào cũng
phải biết trồng lanh, xe lanh dệt vải, biết kỹ thuật in hoa văn bằng sáp ong, thêu hoa văn
bằng các loại vải màu, chỉ màu và họ phải học tất cả điều đó ngay tư khi còn bé để khi
trở thành thiếu nữ, họ có đủ khả năng tạo nên các tấm vải lanh, làm nên các bộ váy áo
cho bản thân và cả gia đình, nhất là cho người chồng và gia đình bên chồng sau này.
Lanh thường được gieo trồng trên mảnh đất tốt nhất của gia đình, đó là khoảng đất bố
mẹ ưu tiên dành cho người con gái để họ thực hiện chức năng của mình. Hình ảnh
người phụ nữ Hmông tay xe sợi thoăn thoắt trên đường đi nương, đi chợ phổ biến ở
tất cả các vùng Hmông và trở thành biểu tượng của đức tính cần cù và chăm chỉ của họ.
Khi việc xe lanh bằng tay hoàn thành, người ta cho sợi lanh vào guồng quay bằng gỗ và
trúc để xe sợi cho nhỏ và chắc hơn. Cuối cùng, sợi lanh được lắp vào khung cửi để dệt
thành vải. Quá trình in hoa văn bằng sáp ong và thêu ghép những mảnh vải màu trên
váy áo, là phần kỹ thuật cuối cùng thể hiện đôi tay khéo léo của người phụ nữ Hmông,
để tạo nên những bộ váy áo sặc sỡ với những hoa văn hình những con vật, mang đậm
dấu ấn hoa văn của dân tộc này.
Nếu xe lanh dệt vải là công việc của người phụ nữ Hmông thì ngược lại, nghề đan
lát lại là phần việc chỉ dành cho người đàn ông. Từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành,
người đàn ông Hmông đều phải học nghề đan lát và mọi thứ đồ đan ở nhà đều do họ
làm ra. Nguyên liệu dùng đan lát ở dân tộc này thường là mây, tre, trúc và sản phẩm
họ làm ra gồm: ghế mây, ghế trúc, mẹt, phên nan tre, các loại đồ đựng ngô, lúa đặc
biệt là những chiếc gùi như ở nhiều dân tộc khác. Đó là vật đụng hết sức thuận tiện
được người Hmông dùng để đựng, đeo mang, vác và địu các thứ cần thiết. Nó có mặt
với họ ở mọi nơi, từ trong nhà, ngoài chợ đến trên nương, dưới ruộng Việc đan lát ở
dân tộc này không tiến hành theo mùa vụ. Người ta chỉ đan các đồ vật này khi thấy cần
thiết. Một số đồ đan lát cũng đã trở thành sản phẩm được đồng bào mang ra chợ trao
đổi, mua bán.
+Chăn nuôi, săn bắn và hái lượm
Cách đây vài chục năm, khi mật độ dân số còn thấp, diện tích rừng và đất rừng
vẫn còn đủ để người Hmông làm nương rẫy. Nhưng, với tốc độ tăng trưởng dân số cao
từ 3,6% - 4% trong một năm, số nhân khẩu của người Hmông đã đông lên rất nhanh.
Nếu năm 1980, ở Việt Nam mới chỉ có 40 vạn người Hmông thì đến tháng tư năm
1999, con số đó đã lên khoảng hơn 70 vạn. Mật độ dân số trở nên đậm đặc, tại huyện
Bắc Hà, tỉnh Lào Cai bình quân có 80 người/ km2; huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang số
người bình quân lên tới 88 người/km2 Theo dự tính của các nhà khoa học, với
phương thức canh tác lạc hậu của các cư dân nương rẫy thì diện tích đất rừng có thể tạm
đủ cho nhu cầu cuộc sống của họ là dưới mức 24 người/km2. Như vậy ta có thể thấy mật
độ dân số hiện nay ở đồng bào Hmông Việt Nam đã vượt xa giới hạn cho phép.
Số thành viên trong cộng đồng đông lên, điều đó cũng có nghĩa số miệng ăn tăng
lên và tất yếu nhu cầu lương thực ngày càng trở lên rất lớn. Muốn giải quyết được nhu
cầu sống còn đó, người Hmông chỉ còn cách phá thêm rừng để mở rộng diện tích canh
tác và quay nhanh chu kỳ sử dụng đất. Hậu quả là rừng bị chặt phá bừa bãi, đất rừng bị
khai thác kiệt quệ. Điều kiện sống của người Hmông không những không được cải thiện
mà còn trở nên tồi tệ hơn. Trong bối cảnh đó, nhiều khu rừng còn sót lại ở vùng núi phía
Bắc Việt Nam đã trở thành mục tiêu quan trọng của người Hmông. Đồng bào còn tràn
từ tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Hà Giang đến khu vực rừng rộng lớn ở Si Pa
Phìn, Ba Trà của huyện Mường Lay tỉnh Lai Châu và kéo xuống miền rừng núi phía tây
tỉnh Thanh Hóa. Họ đã nhanh chóng biến những nơi xa xôi hẻo hút này thành khu vực
có rất nhiều người Hmông sinh sống và cánh rừng cuối cùng ấy đã dần dần biến mất
Khi đất rừng đã bị khai thác kiệt quệ, rừng không kịp tái sinh sẽ tất yếu dẫn đến
nạn đồi núi trọc. Thực tế đã cho thấy cùng với thời gian, diện tích đồi núi trọc ngày
càng lan rộng khắp các tỉnh vùng núi Bắc Việt Nam. Một thí dụ: Vào thời điểm đầu
năm 1997, tại huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang nơi có người Hmông cơ trú tập trung và
đông nhất, rừng tự nhiên chỉ còn 7000 ha, chiếm 15% tổng diện tích đất lâm nghiệp,
diện tích đồi núi trọc là 18.868 ha, chiếm tỉ lệ 43%. Tại huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai, nơi
có đỉnh núi Phan Xi Păng hùng vĩ của Việt Nam, diện tích rừng cũng chỉ còn 9.167 ha
chiếm tỉ lệ 13% Và diện tích đồi núi trọc là 45.580 ha chiếm tỷ lệ 83,2% so với tổng
Hờ, Hạng, Dinh, Cứ, Hầu
Cuối cùng là đến làng, Làng là đơn vị xã hội cơ bản và duy nhất ở dân tộc này.
Người Hmông gọi làng là Jaol hay Jol, Jêz Jol - đều có nghĩa là “ổ” hay “tổ” tức chỉ một
cộng đồng cùng chung sống trong khu vực địa lý nhất định. Làng Hmông được hình
thành trên sự tụ cư của những nhóm người có hay không có mối quan hệ huyết thống.
Bởi vậy, mối quan hệ cộng đồng làng ở dân tộc này thực chất là mối quan hệ của các
thành viên cùng dòng họ và giữa các dòng họ cùng địa vực cư trú. Nói cách khác, mối
quan hệ láng giềng của họ được hình thành và phát triển thông qua sự ứng xử giữa các
dòng họ khác nhau. Thông thường, mỗi làng Hmông gồm vài ba dòng họ với vài chục
nóc nhà, có họ lớn, có họ bé. Song, những điều đó không ảnh hưởng đến sự cố kết của
họ. Từ rất lâu, ý thức cộng đồng láng giềng ở dân tộc này đã được hình thành và phát
triển bởi một thực tại “sớm tối có nhau” và họ cùng chung một quá khứ lịch sử khó
quên.
Như vậy, diện mạo truyền thống của xã hội Hmông từ tế bào gia đình đến tổ
chức làng bản, trong cấu trúc xã hội đó, vai trò của dòng họ chiếm một vị trí rất đặc
biệt. Có thể nói, dòng họ của người Hmông là một tập hợp người không chỉ cùng một
ông tổ sinh ra mà phải là cộng đồng những thành viên cùng chung kí hiệu tín ngưỡng
mà đồng bào gọi là “cùng ma”. Dòng họ là một đơn vị xã hội có tổ chức tự quản chặt
chẽ với những luật tục quy định rõ quyền lợi và trách nhiệm của các thành viên mà ở đó
mối quan hệ hay sự ràng buộc của họ thường vượt qua cả ranh giới chính trị, hành
chính, lãnh thổ quốc gia. ý nghĩa xã hội lớn lao của dòng họ chính là ở chỗ: dòng họ là
một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nên xã hội làng và xã hội vùng ở người
Hmông, bởi mối quan hệ xã hội của làng, của vùng thực chất là mối quan hệ của các
thành viên cùng dòng họ trên cùng địa vực cư trú. Đồng thời xã hội làng Hmông, vùng
Hmông được vận hành trật tự “êm ả” xét cho cùng là dựa trên cơ sở của tập tục dòng
họ.
Mặt khác, văn hóa ứng xử của người Hmông cũng tồn tại chủ yếu dựa trên phong
tục tập quán của dòng họ mà nổi bật là những luật tục liên quan đến trật tự xã hội, đến
vấn đề khai thác và sơ hữu đất đai canh tác, những luật tục quy định quyền lợi và nghĩa
Tùy theo hoàn cảnh, trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi dân tộc, địa
phương, quốc gia mà niềm tin vào “cõi thiêng” thể hiện ra các hình thức tôn giáo, tín
ngưỡng cụ thể khác nhau. Chẳng hạn như niềm tin vào Đức Chúa, Đức Mẹ Đồng Trinh
của Kitô giáo, niềm tin vào Đức Phật của Phật Giáo, niềm tin vào Thánh, Thần của tín
ngưỡng Thành Hoàng, Đạo thờ Mẫu Các hình thức tôn giáo tín ngưỡng này dù rộng
hẹp khác nhau, dù phổ quát toàn thế giới hay là đặc thù cho mỗi dân tộc thì cũng đều
là một thực thể biểu hiện niềm tin vào cõi thiêng chung của con người mà thôi.
Hiện tại, có nhiều ý kiến khác nhau khi sử dụng khái niệm “tôn giáo” và “tín
ngưỡng”. Theo quan điểm truyền thống, người ta có ý thức phân biệt tôn giáo và tín
ngưỡng, thường coi tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo. Loại quan
điểm thứ hai là đồng nhất giữa tôn giáo và tín ngưỡng và đều gọi chung là tôn giáo, tuy
có phân biệt tôn giáo dân tộc, tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa phương, tôn giáo thế
giới (phổ quát).
Sự khác nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng thể hiện ở một số điểm như: Tôn giáo
có hệ thống giáo lý, kinh điển được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các tu viện,
thánh đường, học viện có hệ thống thần điện, có tổ chức giáo hội, hội đoàn chặt chẽ, có
nơi thờ cúng riêng như nhà thờ, chùa, thánh đường , nghi lễ thờ cúng chặt chẽ, có sự tách
biệt giữa thế giới thần linh và con người. Còn tín ngưỡng thì chưa có hệ thống giáo lý mà
chỉ có các huyền thoại, truyền thuyết. Tín ngưỡng mang tính chất dân gian, gắn với sinh
hoạt văn hóa dân gian. Trong tín ngưỡng có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con
người, nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán, chưa thành quy ước chặt chẽ
Tóm lại, có rất nhiều quan điểm khác nhau về tín ngưỡng nhưng chúng ta có thể hiểu:
Tín ngưỡng là tôn thờ thần thánh, tin vào lực lượng siêu nhiên theo cách giải thích và nếp
sinh hoạt nhất định; và do đó có tác dụng điều chỉnh nhận thức, hành vi của con người. Tín
ngưỡng là yếu tố quan trọng nhất của một tôn giáo. mỗi một tôn giáo ra đời đều phải dựa
vào một niềm tin nào đó. Đó là tín ngưỡng tôn giáo. Ngoài tín ngưỡng tôn giáo còn có tín
ngưỡng dân gian.
Tín ngưỡng dân gian là niềm tin vào thần linh thông qua lễ nghi gắn liền với tập
tục, thói quen truyền thống được lưu giữ trong các cộng đồng dân cư. Đó là một bộ
giáo cho rằng, linh hồn có thể tác động đem lợi hoặc gây hại cho con người và các vật
đó có thái độ và hành vi giốn với con người. Nhân cách hóa và thần linh hóa là đặc
trưng của Vật linh giáo.
+ Sa man giáo
Sa man giáo là hình thức tín ngưỡng, nguyên thủy thể hiện niềm tin của con người
vào khả năng tác động đến các hiện tượng tự nhiên bằng những hành động tượng trưng
như cầu khẩn, phù phép, thần chú Người ta quan niệm rằng bằng những hành vi ấy,
con người có thể tác động đến vật thể hoặc đối tượng nhất định để đạt được kết quả mà
mình mong muốn.
Sa man giáo còn thể hiện khá nhiều trong cộng đồng người Hmông, nhưng tiêu
biểu là các hoạt động của thầy mo. Thầy mo tuy không phải là một nghề chuyên biệt
nhưng trong quan niệm của người Hmông đó là người lối liền xã hội với thần linh nên
được mọi người tôn kính. Thầy mo tiến hành mọi hoạt động có tính chất tín ngưỡng ở
các dịp cúng lễ trong chu kỳ đời người, từ lúc sinh ra, lúc ốm đau, cho đến khi chết.
Công cụ chủ yếu của thầy mo là dụng cụ âm dương, được làm từ hai mảng sừng
trâu hoặc bò; một đôi nhạc ngựa bằng đồng, một chiếc vòng lắc, một chiếc thanh la.
Trang phục của thầy mo rất đơn giản, ăn mặc như mọi người bình thường, chỉ khác là
có trùm một tấm khăn màu đỏ che kín đầu khi lên đồng. Trước khi lên đồng, thầy mo
ngồi trên một chiếc nghế, tay chân nhún nhầy theo điệu nhạc ngựa, cầm thanh la nhẩy
múa, miệng lẩm bẩm các bài cúng. Họ tin mình có khả năng giao tiếp với thần linh, như
là trông thấy, nghe thấy sự phán xét của thần linh. Theo thầy mo, lên đồng để rơi vào
trạng thái như hôn mê rồi thần linh nhập vào, hoặc linh hồn của họ đi lên xứ sở của thần
linh. Thầy mo còn dùng hiện tượng ma thuật, yểm bùa, phù phép chống lại sự làm hại
để bảo vệ gia đình, yểm bùa tình yêu
Ngoài ra những hình thức biểu hiện của tôn giáo xa xưa của dân tộc Hmông còn
có rất nhiều nghi lễ khác về mỗi quá trình trong vòng chu kỳ của đời người từ khi ra đời
cho đến khi chết.
- Tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống của người Hmông là tín ngưỡng đa thần. Đa
thần giáo là trình độ ban đầu của quá trình ra đời, vận động phát triển của tín ngưỡng,
khoai sắn. Một số dòng họ có quan niệm ma bếp cũng có liên quan đến sức khỏe và
chăn nuôi, là người trong coi tài sản khi gia đình đi vắng.
+ Thờ cúng ma cửa
Ma cửa giống như người gác cửa, không cho điều xấu xâm nhập vào gia đình, của
cải, gia súc, giữ các hồn gia đình không bỏ đi. Người Hmông quan niệm khi trong nhà
có chuyện không hay như ốm đau, gia súc bị chết là do ma cửa bị ngã, không giữ vững
được bản mệnh. Người phụ nữ có thai ở gia đình khác bước qua cửa nhà mình thì cũng
làm cho ma cửa bị ngã, khi đó, phải làm lễ cúng nâng ma cửa dậy.
+ Thờ cúng ma cột cái
Cột cài là một cột giữa cửa vì kèo thứ hai, tiếp giáp giữa đầu bên phải và gian
giữa. Theo quan niệm của người Hmông, cột cái là nơi tập trung các hồn người, tượng
trưng cho sự vững chãi của gia đình. Ma cột cái làm nhiệm vụ bảo vệ nhà cửa, chống
chọi bão gió, giữ gìn hồn các thành viên trong gia đình.
- Trong hệ thống tín ngưỡng đa thần của người Hmông thì tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên giữ vị trí quan trọng.
Luật tục của người Hmông quy định rõ, đã là một gia đình Hmông thì dưới mái
nhà của họ phải có nơi thờ cúng tổ tiên. Theo truyền thống, chỗ thờ tổ tiên của đồng bào
luân ở vách tường thuộc gian giữa của ngôi nhà - gian dành cho các hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo.
Theo quan niệm của người Hmông, việc thờ cúng tổ tiên không chỉ thể hiện lòng
biết ơn đối với cha ông, với người đã khuất hay phải thực hiện lễ thức theo tục lệ tang
ma, mà nhiều khi còn là sự cầu mong, sự tạ lỗi, xin tha thứ… với tổ tiên, bởi tổ tiên luân
có sự chi phối đến số phận của con cháu (sức khỏe, hiệu quả công việc…). Tổ tiên luân
phù hộ cho con cháu hoặc có thể nổi dận phạt con cháu ốm đau… Nghi lễ cúng tổ tiên
thường được tiến hành đơn giản nhưng rất trang nghiêm.
1.2. người Hmông ở Lào Cai
1.2.1. Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Lào Cai
Lào Cai là một tỉnh vùng cao, biên giới; diện tích tự nhiên 6.357,08 km
2