Báo cáo tốt nghiệp: “Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ của ngân hàng thương mại (nghiên cứu tại ngân hàng TMCP Quân đội)” - Pdf 15



1
Báo cáo tốt nghiệp
“Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín
dụng chứng từ của ngân hàng thương mại (nghiên
cứu tại ngân hàng TMCP Quân đội)”2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 3
1.1.Khái niệm thanh toán quốc tế 3
1.2. Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế 4
1.3. Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu 5
1.3.1. Phương thức chuyển tiền 5
1.3.2. Phương thức nhờ thu 7

3.2.2. Thực hiện các giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong
thanh toán L/C 57
3.2.3. Mở rộng hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu theo phương thức
TDCT 58
3.2.4. Sử dụng công cụ Marketing vào hoạt động ngân hàng 61
3.2.5. Đẩy mạnh công nghệ tin học, hiện đại hoá hoạt động ngân hàng
63
3.2.6. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 63
3.2.7. Thiết lập rộng rãi các chi nhánh và ngân hàng đại lý 64
3.3. Một số kiến nghị 65
3.3.1. Kiến nghị với ngân hàng Nhà nước 65
3.3.2. Kiến nghị với Nhà nước 66
Kết luận 67
Danh mục tài liệu tham khảo 69
4LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ thương mại và giao lưu
quốc tế ngày càng đặt ra những đòi hỏi và thách thức mới đối với các NHTM
trong hoạt động thanh toán quốc tế. Được xem như chất xúc tác cho sự phát
triển thương mại quốc tế, công tác thanh toán quốc tế đã không ngừng được
đổi mới và hoàn thiện, với việc đa dạng hoá các hình thức thanh toán trong đó
có phương thức thanh toán tín dụng chứng từ nhằm đáp ứng yêu cầu an toàn
và tăng nhanh tốc độ vòng quay vốn, đảm bảo điều kiện thuận lợi nhất cho
quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế. Hơn nữa, thông qua hoạt
động thanh toán quốc tế các ngân hàng thương mại có cơ hội khẳng định

dụng chứng từ của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương
thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP Quân đội.
Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế theo
phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP Quân đội. CHƯƠNG 1 6
HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC
TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm thanh toán quốc tế.
Thanh toán quốc tế (TTQT) là sự chi trả bằng tiền (ngoại tệ) liên quan
tới hàng hoá, dịch vụ, tư bản của cá nhân, tổ chức, Chính phủ nước này đối
với đối tác của mình trên thế giới. TTQT chính là khâu cuối cùng để kết thúc
một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại thông qua các hình
thức chuyển tiền hay bù trừ trên các tài khoản tại ngân hàng.
Dưới giác độ kinh tế, các quan hệ quốc tế được chia thành hai loại :
quan hệ mậu dịch và quan hệ phi mậu dịch. Do đó, thanh toán quốc tế cũng

tổ chức tốt thì giá trị hàng xuất khẩu mới được thực hiện, góp phần thúc đẩy
thương mại quốc tế phát triển. TTQT trở thành một yếu tố quan trọng để nâng
cao hiệu quả hoạt động đối ngoại.
Thanh toán quốc tế thực sự phức tạp, nhất là trong điều kiện hiện nay,
khi nền kinh tế thế giới có nhiều bất ổn, tỷ giá hối đoái biến động liên tục, vì
vậy yêu cầu đặt ra cho công tác thanh toán quốc tế là đảm bảo an toàn cho các
hợp đồng nhập khẩu, các khoản doanh thu hàng xuất khẩu thu về một cách
kịp thời, chính xác, an toàn.
1.2. Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế
Hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng có vị trí quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi chúng
ta đang tiến hành sự nghiệp xây dựng đất nước.Thông qua hoạt động TTQT ,
chúng ta có thể tận dụng được vốn, công nghệ nước ngoài để thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, rút ngắn khoảng cách tụt hậu và đưa nền
kinh tế đất nước hoà nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế giới.
Hoạt động TTQT là khâu quan trọng trong quá trình mua bán, trao đổi
hàng hoà dịch vụ giữa các tổ chức cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau.
Hoạt động TTQT của các ngân hàng ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng,
nó là công cụ, là cầu nối trong quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ kinh tế và
thương mại giữa các nước trên thế giới.
Hoạt động TTQT giúp cho doanh nghiệp hạn chế rủi ro trong quá trình
thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu. Do vị trí địa lý của các bạn hàng thường
cách xa nhau làm hạn chế việc tìm hiểu khả năng tài chính, khả năng của
người mua, của bên nợ, đồng thời trong điều kiện thị trường thường xuyên 8
biến động, khả năng thanh toán của bên nợ bấp bênh, hơn nữa trong nền kinh
tế thị trường tình trạng lừa đảo ngày càng tăng nên rủi ro trong việc thực hiện
hợp đồng xuất hập khẩu ngày càng nhiều. Tổ chức tốt hoạt động thanh toán

9
a/.Trường hợp áp dụng thanh toán chuyển tiền
- Hai bên có quan hệ lâu năm và tín nhiệm lẫn nhau
- Thanh toán trong phi mậu dịch, chuyển vốn ra nước ngoài đầu tư,
chuyển lợi nhuận về nước, chuyển kiều hối.
b/. Ưu nhược điểm
- Ưu điểm: Là phương tiện đơn giản, thuận tiện, thanh toán trực tiếp
giữa bên mua và bên bán, ngân hàng chỉ giữ vai trò trung gian.
- Nhược điểm: Việc thanh toán phụ thuộc vào thiện chí của người
mua, bên bán dễ bị chiếm dụng vốn trong thanh toán. Phương thức này
thường chỉ sử dụng trong lĩnh vực phi mậu dịch và thanh toán trong lĩnh vực
thương mại, các chi phí có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá (phí vận
chuyển, bảo hiểm…)
Quy trình thanh toán nghiệp vụ theo phương thức trả tiền

(1): Sau khi ký kết hợp đồng ngoại thương, người xuất khẩu thực hiện
cung ứng hàng hoá, dịch vụ và giao toàn bộ chứng từ hàng hoá cho bên nhập
khẩu.
(2): Người nhập khẩu sau khi kiểm tra chứng từ hoá đơn, lập lệnh
chuyển tiền, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển tiền cho người hưởng
lợi.
(3): Ngân hàng chuyển tiền tiến hành kiểm tra nếu thấy hợp lệ và đủ
khả năng thanh toán sẽ trích tài khoản của người nhập khẩu để chuyển tiền và
gửi giấy báo nợ cho người nhập khẩu.

uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ người nhập khẩu dựa trên
cơ sở hối phiếu do người xuất khẩu lập ra.
Phương thức nhờ thu bao gồm:
a/. Nhờ thu phiếu trơn:
Là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền
ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra còn chứng từ gửi hàng thì
gửi thẳng cho người mua không thông qua ngân hàng.
* Phương thức nhờ thu phiếu trơn thường chỉ áp dụng trong trường hợp
người mua và người bán tin cậy lẫn nhau hoặc là phải có quan hệ liên doanh
với nhau giữa công ty mẹ, công ty con hoặc là chi nhánh của nhau. Thanh
toán về các dịch vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá vì việc thanh
toán này không nhất thiết phải kèm theo chứng từ như cước phí vận tải, bảo
hiểm bồi thường,…
* Nhược điểm: Phương thức này không được áp dụng nhiều trong
thanh toán về mậu dịch vì:
- Đối với người bán: Không đảm bảo quyền lợi cho họ, vì việc nhận
hàng của người mua hoàn toàn tách rời khỏi khâu thanh toán, do đó người
mua có thể nhận hàng và không trả tiền hoặc trả tiền chậm trễ.
- Đối với người mua: Khi áp dụng phương thức này cũng có điều bất
lợi, Vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ, người mua phải trả tiền ngay 11
trong khi không biết việc giao hàng của người bán có đúng hợp đồng hay
không. Quy trình thanh toán theo phương thức nhờ thu phiếu trơn
(5)

(6)

(4)
12
Là phương thức thanh toán trong đó người bán uỷ thác cho ngân hàng
thu hộ tiền ở người mua nhưng không căn cứ vào hối phiếu mà căn cứ vào bộ
chứng từ gửi hàng kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả tiền hoặc chấp
nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng cho
người mua để nhận hàng.
Trong nhờ thu kèm chứng từ, người bán uỷ thác cho cho ngân hàng
ngoài việc thu hộ tiền còn có việc nhờ ngân hàng khống chế chứng từ vận tải
đối với người mua. Đây là sự khác nhau cơ bản giữa nhờ thu kèm chứng từ và
nhờ thu phiếu trơn.
* Nhược điểm:
- Người bán thông qua ngân hàng mới khống chế được quyền định
đoạt hàng hoá của người mua, chứ chưa khống chế được việc trả tiền của
người mua. Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận
chứng từ hoặc có thể không trả tiền cũng được khi thị trường bất lợi với họ.
- Việc trả tiền còn quá chậm chạp, từ lúc giao hàng đến lúc nhận được
tiền có khi kéo dài vài tháng hoặc nửa năm.
- Trong phương thức này ngân hàng chỉ đóng vai trò là người trung
gian thu tiền hộ, còn không có trách nhiệm đến việc trả tiền của người mua.
* Tuỳ theo thời hạn trả tiền phương thức này được chia ra làm:
+ Nhờ thu trả tiền đổi chứng từ (Documentary against payment- D/P):
phương thức này thường chỉ sử dụng trong trường hợp người bán trả tiền

(5): Người nhập khẩu thông báo chấp nhận hoặc từ chối thanh toán.
(6): Ngân hàng đại lý chuyển giao chứng từ hàng hoá cho người nhập
khẩu để họ nhận hàng nếu người nhập khẩu đồng ý thanh toán.
(7): Ngân hàng đại lý thực hiện bút toán chuyển tiền và gửi giấy báo có
hoặc hối phiếu đã chấp nhận về ngân hàng thu hộ, hoặc thông báo về từ chối
thanh toán của bên nhập khẩu.
(8): Ngân hàng thu hộ tiền thanh toán hoặc chuyển hối phiếu đã chấp
nhận cho người xuất khẩu hoặc từ chối thanh toán.
So với phương thức nhờ thu phiếu trơn thì phương thức nhờ thu kèm
chứng từ đảm bảo hơn vì ngân hàng thay mặt cho người bán không chế chứng
từ. Ngân hàng đóng vai trò người trung gian thu tiền hộ, ngân hàng không có
trách nhiệm về việc trả tiền của người mua và hưởng hoa hồng. Dựa trên cơ
sở giấy uỷ thác và bộ chứng từ hàng hoá của người bán, ngân hàng tiến hành
thu hộ tiền, ngân hàng không chụi trách nhiệm kiểm tra chứng từ và không
Ngân hàng thu hộ Ngân hàng đại lý
Người nhập khẩu
Người xuất
kh

u

(1)
(8)

(4)

(5)

(6)


toán quốc tế thông dụng nhất trong ngoại thương.
1.3.3.1. Các bên tham gia trong phương thức TDCT:
- Người xin mở thư tín dụng (Aplicant) là người mua, người nhập
khẩu hàng hoá, hoặc là người mua uỷ thác cho một người khác.
- Người hưởng lợi thư tín dụng (benificiary) là người bán, người xuất
khẩu hay bất cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định. 15
- Ngân hàng mở thư tín dụng (Issuing Bank) là ngân hàng phục vụ
người nhập khẩu, cấp tín dụng cho người nhập khẩu và đớng ra cam kết trả
tiền cho người hưởng lợi thư tín dụng khi người này xuất trình chứng từ phù
hợp với các điều kiện điều khoản của thư tín dụng.
- Ngân hàng thông báo thư tín dụng (Advising Bank) là ngân hàng
thông báo trực tiếp về thư tín dụng và các giao dịch có liên quan đến thư tín
dụng cho người hưởng lợi thư tín dụng. Đây là ngân hàng chi nhánh hoặc
ngân hàng đại lý của ngân hàng phát hành và thường ở nước người xuất khẩu.
Ngoài ra, tuỳ theo yêu cầu người xuất khẩu, tăng mức độ an toàn cho
các bên tham gia, trong quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng
từ ngoài 4 thành viên chủ yếu còn có sự tham gia của các thành viên sau:
- Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): ngân hàng xác nhận trách
nhiệm của mình sẽ cùng ngân hàng mở thư tín dụng đảm bảo trả tiền cho
người xuất khẩu trong trường hợp ngân hàng mở thư tín dụng không đủ khả
năng thanh toán. Ngân hàng xác nhận có thể là ngân hàng thông báo thư tín
dụng hoặc ngân hàng khác do hưởng lợi chỉ định khi họ không tin vào khả
năng thanh toán của ngân hàng phát hành.
- Ngân hàng hoàn trả tiền (Rembursing Bank) là ngân hàng được ngân
hàng phát hành uỷ nhiệm để chuyển tiền trả cho người thụ hưởng. Thông
thường, ngân hàng này là ngân hàng mà ngân hàng phát hành có duy trì tài
khoản tại đó.

cho một ngân hàng mở thư tín dụng có nghĩa là ngân hàng xác nhận đã cấp tín
dụng cho ngân hàng mở, theo đó ngân hàng mở sẽ nhận nợ khi khoản tín
dụng đó được ngân hàng xác nhận thanh toán.
1.3.3.2. Nội dung của phương thức tín dụng chứng từ.
a/. Thư tín dụng trong phương thức TDCT
Thư tín dụng (Letter of Credit- L/C) là một văn bản do ngân hàng phát
hành theo yêu cầu của người xin mở thư tín dụng (người nhập khẩu), trong đó
ngân hàng phát hành cam kết trả tiền cho người được hưởng lợi (nhà xuất
khẩu) một số tiền nhất định trong một thời gian nhất định, với điều kiện người
này phải xuất trình một bộ chứng từ phù hợp với điều khoản qui định trong
văn bản đó.
Thư tín dụng có tính chất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở hợp
đồng mua bán, nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp
đồng mua bán. 17
 Chức năng của thư tín dụng:
- Chức năng thanh toán: Trong thanh toán quốc tế đảm bảo khả năng
thanh toán là yếu tố quan trọng và không thể thiếu được. Tín dụng chứng từ
cũng có chức năng cơ bản đó, đó là chức năng thanh toán. Được thể hiện là
dùng các chứng từ, thư, điện chuyển tiền, hối phiếu, séc để thanh toán giữa
người mua và người bán.
- Chức năng đảm bảo tín dụng chứng từ: Được thể hiện qua cam kết
độc lập của ngân hàng mở thư tín dụng đảm bảo khả năng thanh toán cho
người xuất khẩu ngay cả trong trường hợp người nhập khẩu không có khả
năng thanh toán. Đồng thời quyền lợi của bên nhập khẩu cũng được đảm bảo
với việc ngân hàng chỉ trả tiền cho người xuất khẩu khi đã trình bộ chứng từ
phù hợp với L/C.
- Chức năng tín dụng: Khi ngân hàng mở L/C nhận được đơn xin mở

- Ngày hết hạn hiệu lực của L/C: từ ngày mở L/C đến ngày hết hạn
L/C là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu
nếu họ trình bộ chứng từ phù hợp với L/C trong thời hạn đó.
- Thời hạn trả tiền của L/C: thời hạn trả tiền liên quan đến việc trả
ngay hay trả chậm. Thời hạn trả tiền có thể nằm ngay trong thời hạn hiệu lực
của thư tín dụng (trả tiền ngay), hoặc nằm ngoài thời hạn hiệu lực của thư tín
dụng (trả tiền chậm). Trong trường hợp thanh toán chậm thì qui định bao
nhiêu ngày kể từ ngày nhận được bộ chứng từ hoàn chỉnh.
- Thời hạn giao hàng: là thời hạn người xuất khẩu phải chuyển giao
hàng cho người nhập khẩu, thời hạn giao hàng có quan hệ chặt chẽ với thời
gian hiệu lực của L/C.
- Ngân hàng mở L/C: do hai bên thoả thuận qui định trong hợp đồng
hoặc do người nhập khẩu chọn.
- Ngân hàng thông báo: thường là đại lý của ngân hàng mở L/C ở
nước nhập khẩu chọn.
- Các qui định về L/C: có thể chiết khấu, thanh toán hay chấp nhận tại
một ngân hàng cụ thể hay bất cứ một ngân hàng nào.
- Những nội dung về hàng hoá: tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá,
quy cách phẩm chất, bao bì mã hiệu.
- Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hoá: điều kiện cơ sở giao
hàng (FOB, CIF), nơi gửi và nơi giao hàng, cách vận chuyển và giao hàng. 19
- Những chứng từ mà người xuất khẩu phải trình: đây là một nội dung
then chốt của thư tín dụng vì căn cứ vào đó ngân hàng quyết định trả tiền hay
không trả tiền cho người xuất khẩu.
L/C qui định rõ các loại chứng từ cần xuất trình, thường bộ chứng từ
gồm:
+ Hối phiếu

nhập khẩu không ổn định.
- Thư tín dụng huỷ ngang, miễn truy đòi (irrevocable Without
Recourse L/C): là loại thư tín dụng không huỷ ngang mà trong đó qui định
sau khi trả tiền cho người xuất khẩu ngân hàng mở L/C không có quyền đòi
lại tiền trong bất kỳ trường hợp nào. Khi sử dụng loại này, người xuất khẩu
phải ghi trên hối phiếu: “Miễn truy đòi người ký phát”(Without recourse to
drawers). Đồng thời trong thư tín dụng cũng phải ghi như vậy. Loại này cũng
được sử dụng rộng rãi trong TTQT .
- Thư tín dụng chuyển nhượng (Transfering L/C): là loại thư tín dụng
không thể huỷ ngang, trong đó qui định người hưởng lợi thứ nhất yêu cầu
ngân hàng chuyển nhượng một phần hay toàn bộ quyền thực hiện L/C cho
một hay nhiều người khác. L/C chuyển nhượng chỉ được phép chuyển nhượng
một lần, chi phí chuyển nhượng do người hưởng lợi đầu tiên chụi.
Loại L/C này được áp dụng trong trường hợp người hưởng lợi thứ nhất
không đủ số lượng hàng hóa để xuất khẩu, hoặc không có hàng, họ chỉ là
người môi giới thương mại.
- Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C): Là loại L/C không thể huỷ
bỏ sau khi sử dụng xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại có giá trị như
cũ và cứ như vậy nó tuần hoàn cho đến khi nào thực hiện hết tổng giá trị hợp
đồng. L/C tuần hoàn cần ghi rõ ngày hết hiệu lực cuối cùng và số lần tuần
hoàn. Có ba cách tuần hoàn:
+ Tuần hoàn tự động: tức là thư tín dụng có giá trị như cũ, không cần
ngân hàng mở L/C thông báo cho người xuất khẩu biết.
+ Tuần hoàn hạn chế: chỉ khi nào ngân hàng mở L/C thông báo cho
người xuất khẩu biết thì L/C mới có hiệu lực. 21
+ Tuần hoàn bán tự động: là loại L/C mà sau khi L/C trước được sử
dụng xong hoặc hết hiệu lực , nếu sau một vài ngày mà ngân hàng mở L/C


22
cam kết với người nhập khẩu thanh toán cho họ khi xuất trình giấy tờ chứng
minh người nhập khẩu hoàn thành nghĩa vụ theo L/C đề ra. Khi tiến hành giao
dịch thương mại quốc tế, người nhập khẩu có thể cấp các khoản tín dụng cho
người xuất khẩu như tiền đặt cọc, tiền ứng trước, và phải bỏ ra chi phí mở
L/C. Loại này thông thường áp dụng trong trường hợp hợp đồng thương mại
có giá trị lớn và khách hàng mới giao dịch lần đầu.
c/. Qui trình nghiệp vụ thanh toán L/C (1) : Người nhập khẩu làm đơn xin mở L/C gửi đến ngân hàng của mình
yêu cầu mở một L/C cho người xuất khẩu hưởng
(2) : Ngân hàng mở L/C căn cứ vào đơn xin mở L/C sẽ lập một L/C và
thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu thông báo việc
mở L/C.
(3) : Ngân hàng thông báo L/C cho người xuất khẩu toàn bộ nội dung
L/C
(4) : Nếu người xuất khẩu chấp nhận L/C sẽ giao hàng cho người nhập
khẩu, nếu không thì yêu cầu sửa đổi bổ sung cho phù hợp
(5) : Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu
của L/C và xuất trình tới ngân hàng thông báo để qua đó xin ngân hàng mở
L/C thanh toán
Ngân hàng mở

23
(6) : Ngân hàng mở L/C kiểm tra toàn bộ chứng từ nếu thấy phù hợp với
L/C thì sẽ trả tiền cho người xuất khẩu, nếu không thấy phù hợp sẽ từ chối
thanh toán và gửi lại chứng từ cho người nhập khẩu
(7) : Ngân hàng mở L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển toàn bộ
chứng từ cho người nhập khẩu nếu người nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận
trả tiền
(8) : Người nhập khẩu kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì
chấp nhận trả tiền hoặc từ chối không trả tiền
d/.Vai trò của phương thức tín dụng trong TTQT
TTQT ngày càng mở rộng và phát triển không ngừng trong hoạt động
thương mại quốc tế. TTQT theo phương thức TDCT đóng một vai trò quan
trọng không thể thiếu trong hoạt động TTQT. Nhận thức về vấn đề đó, trong
hoạt động TTQT, các ngân hàng không ngừng phát triển nhằm nâng cao chất
lượng phục cho khách hàng ngày một tốt hơn. Phương thức TDCT được sử
dụng phổ biến do có ưu điểm sau:
* Đối với người xuất khẩu:
- Được đảm bảo thanh toán: L/C là bản cam kết trả tiền của ngân hàng
mở L/C khi người xuất khẩu nộp bộ chứng từ hàng hoá phù hợp với L/C. Do
vậy trong phương thức tín dụng chứng từ người xuất khẩu được đảm bảo thu
hồi tiền hàng hoá dịch vụ đúng hạn với bộ chứng từ hoàn hảo, ngay cả khi
người nhập khẩu không muốn thanh toán. Đặc biệt với L/C được xác nhận
của ngân hàng tại nước xuất khẩu tránh được rủi ro không được thanh toán
khi tình hình tài chính, kinh tế, chính trị tại nước người nhập khẩu không
được ổn định.
- Nhận được sự tài trợ của ngân hàng thông qua triết khấu bộ chứng từ
hàng hoá hoặc có thể xin vay trên cơ sở thế chấp bộ chứng từ.

ro do giả mạo chứng từ hoặc chứng từ không đúng với hợp đồng hàng hoá.
+ Đối với ngân hàng: gặp rủi ro về tỷ giá; rủi ro do người nhập khẩu
mất khẳ năng thanh toán; tính phức tạp và chính xác khi cung ứng dịch vụ.
Tuy nhiên phải khẳng định TTQT theo phương thức TDCT hiện nay
được sử dụng nhiều nhất chiếm 80-90% trong các phương thức TTQT, nó
thúc đẩy quá trình TTQT và hoạt động thương mại quốc tế.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động TTQT theo phương
thức TDCT . 25
1.4.1. Các nhân tố chủ quan
a/. Uy tín của ngân hàng thương mại trong nước và trên trường quốc tế
Hoạt động của một ngân hàng nói chung và hoạt động TTQT nói riêng
có thể được mở rộng hay không là tuỳ thuộc rất nhiều vào uy tín của ngân
hàng đó trong nước và trên thế giới. Điều này quyết định lượng khách hàng
mà ngân hàng thu hút được.
Uy tín của ngân hàng được thể hiện ở các mặt: khả năng thanh toán, kỹ
thuật xử lý nghiệp vụ, thời gian thanh toán, khă năng đáp ứng các phương tiện
thanh toán, sự đa dạng của các sản phẩm dịch vụ…
Một ngân hàng có uy tín tốt trên thị trường sẽ là điều kiện đầu tiên để
khách hàng lựa chọn mua các sản phẩm dịch vụ.
b/. Mạng lưới ngân hàng đại lý của ngân hàng thương mại
Thâm nhập vào thị trường nước ngoài nhằm mở rộng qui mô hoạt
động, phục vụ khách hàng tốt hơn, các ngân hàng có thể bằng một trong
những cách: mở chi nhánh, mở văn phòng đại diện…Tuy vậy, cho đến khi
khối lượng hoạt động ở một nước chưa đạt đến mức cần thiết, và nhiều
nguyên nhân khác các ngân hàng không thể mở chi nhánh ở khắp mọi nơi trên
thế giới, họ đã chọn phương thức thiết lập các quan hệ ngân hàng đại lý nhằm
giải quyết các yêu cầu công việc ngay tại nước đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status