LUẬN VĂN: Vận dụng Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 Hợp đồng xây dựng vào việc hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí tại Công ty cổ phần Xây dựng số 2 - Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội - Pdf 15


LUẬN VĂN:
Vận dụng Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 -
Hợp đồng xây dựng vào việc hoàn thiện kế toán
doanh thu, chi phí tại Công ty cổ phần Xây dựng
số 2 - Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội
mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng cơ bản (XDCB) là ngành sản xuất vật chất hết sức quan trọng trong nền

mực kế toán Việt Nam số 15 - Hợp đồng xây dựng vào việc hoàn thiện kế toán doanh
thu, chi phí tại Công ty cổ phần Xây dựng số 2 - Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội" làm
đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Mục đích của đề tài
Trên cơ sở đi sâu, phân tích lý luận cơ bản về nguyên tắc và phương pháp kế toán
doanh thu và chi phí liên quan đến HĐXD theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15,
đồng thời nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác kế toán doanh thu và chi phí HĐXD
tại Công ty cổ phần Xây dựng số 2 để từ đó đưa ra phương hướng và một số giải pháp
nhằm vận dụng có hiệu quả Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 vào việc hoàn thiện kế
toán doanh thu và chi phí tại Công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 và những vấn đề cơ
bản về kế toán doanh thu, chi phí HĐXD trong doanh nghiệp xây lắp và thực trạng kế
toán doanh thu, chi phí HĐXD tại Công ty cổ phần Xây dựng số 2.
- Phạm vi nghiên cứu: Kế toán doanh thu, chi phí HĐXD tại Công ty cổ phần
Xây dựng số 2. Nguồn tài liệu và thông tin sử dụng trong luận văn từ Công ty cổ phần
Xây dựng số 2.
4. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài góp phần làm rõ hơn các nguyên tắc và phương pháp kế toán doanh thu và
chi phí liên quan đến HĐXD được đề cập trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15.
Đánh giá đúng thực trạng kế toán doanh thu và chi phí của HĐXD tại Công ty cổ
phần Xây dựng số 2.

Đề xuất các giải pháp để vận dụng hiệu quả nhất Chuẩn mực kế toán Việt Nam
số 15 vào việc kế toán doanh thu và chi phí tại Công ty cổ phần Xây dựng số 2.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu
luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về doanh thu và chi phí HĐXD và kế toán
doanh thu, chi phí của Hợp đồng xây dựng theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15

được tính cho từng sản phẩm xây dựng riêng biệt. Điều này đòi hỏi công tác tập hợp chi
phí sản xuất thực tế phải bám sát chi phí sản xuất dự toán cho từng công trình, hạng
mục công trình.
Thứ hai: Sản phẩm xây dựng thường có giá trị lớn và thời gian thi công công
trình tương đối dài.

Các công trình XDCB thường có thời gian thi công rất dài, thường là trên một
năm, thậm chí có những công trình kéo dài hàng chục năm. Điều này tác động rất nhiều
đến việc xác định chi phí, doanh thu của HĐXD. Để có thể đảm bảo tính trung thực của
thông tin kế toán, đòi hỏi bộ phận kế toán trong Doanh nghiệp xây dựng phải có phương
pháp tập hợp chi phí, xác định doanh thu phù hợp và thống nhất theo quy định của chuẩn
mực và chế độ kế toán hiện hành để đảm bảo tính đúng đắn và kịp thời của số liệu kế
toán và nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí.
Thứ ba: Sản phẩm XDCB có thời gian sử dụng tương đối dài.
Các công trình XDCB có thời gian sử dụng tương đối dài nên mọi sai lầm trong
khi thi công đều khó sửa chữa, phải phá đi làm lại. Mặt khác, giá trị công trình lại lớn vì
vậy sai lầm trong XDCB vừa gây lãng phí, vừa để lại hậu quả nghiêm trọng lâu dài và
khó khắc phục. Chính vì vậy trong quá trình thi công bên cạnh việc quản lý trên phương
diện hạch toán cần tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng công trình.
Thứ tư: Sản phẩm XDCB được sử dụng tại chỗ gắn liền với địa điểm xây dựng,
nơi sản xuất chính là nơi tiêu thụ sản phẩm.
Do địa điểm xây dựng luôn thay đổi theo địa bàn thi công nên sẽ có rất nhiều
khoản chi phí phát sinh kèm theo như: chi phí điều động nhân công, điều động máy móc
thi công, chi phí xây dựng các công trình tạm thời (lán trại, nhà tạm…), chuẩn bị mặt
bằng, san dọn mặt bằng sau khi thi công…nên nếu không có biện pháp tổ chức quản lý,
thi công tốt sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế, để có
thể tổ chức tốt công tác kiểm soát chi phí đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh (SXKD) của mình, các doanh nghiệp xây dựng thường sử dụng lực lượng lao động
thuê ngoài tại chỗ, tại nơi thi công công trình để giảm bớt các chi phí di dời, chuyển dịch.
Chính đặc điểm này đã tác động trực tiếp đến việc tổ chức công tác kế toán nói chung và


Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15, HĐXD được định nghĩa như sau:
"Hợp đồng xây dựng là hợp đồng bằng văn bản về việc xây dựng một tài sản hoặc một tổ
hợp các tài sản có liên quan chặt chẽ hay phụ thuộc lẫn nhau về mặt thiết kế, công nghệ,
chức năng hoặc các mục đích sử dụng cơ bản của chúng".
Theo định nghĩa trên, thì HĐXD có thể được thỏa thuận để xây dựng một tài sản
đơn lẻ, như: một chiếc cầu, một tòa nhà, một đường ống dẫn dầu, một con đường hoặc
xây dựng tổ hợp các tài sản có liên quan chặt chẽ hay phụ thuộc lẫn nhau về thiết kế,
công nghệ, chức năng hay mục đích sử dụng cơ bản của chúng, như: một nhà máy lọc
dầu, tổ hợp nhà máy dệt, may.
Trong chuẩn mực này, HĐXD còn bao gồm:
- Hợp đồng dịch vụ có liên quan trực tiếp đến việc xây dựng tài sản như: hợp đồng
tư vấn, thiết kế, khảo sát, hợp đồng dịch vụ quản lý dự án và kiến trúc.
- Hợp đồng phục chế hay phá hủy các tài sản và khôi phục môi trường sau khi
phá hủy các tài sản.
Theo nội dung nêu trong định nghĩa về HĐXD thì HĐXD có thể liên quan đến
việc xây dựng một tài sản hoặc tổ hợp các tài sản. Vậy nếu có một nhóm các hợp đồng
được ký kết với một khách hàng hoặc một số khách hàng và mỗi hợp đồng đều có thiết kế
riêng nhưng lại có liên quan chặt chẽ với nhau thì HĐXD đó được phân chia và kết hợp
như thế nào?
Trong một số trường hợp, chuẩn mực này được áp dụng cho những phần riêng
biệt có thể nhận biết được của một hợp đồng riêng rẽ hoặc một nhóm các hợp đồng để
phản ánh bản chất của hợp đồng hay nhóm các HĐXD. Chính vì vậy, việc kết hợp và
phân chia các HĐXD đều phải thỏa mãn được những điều kiện cụ thể. Chuẩn mực kế
toán số 15 - HĐXD quy định việc kết hợp và phân chia HĐXD như sau:
- Một HĐXD liên quan đến xây dựng một số tài sản thì việc xây dựng mỗi tài sản
được coi như một HĐXD riêng rẽ khi thỏa mãn đồng thời ba điều kiện sau:

+ Có thiết kế, dự toán được xác định riêng rẽ cho từng tài sản và mỗi tài sản có
thể hoạt động độc lập.

+ Hợp đồng xây dựng với chi phí phụ thêm: là HĐXD trong đó nhà thầu được
hoàn lại các chi phí thực tế được phép thanh toán, cộng (+) thêm một khoản được tính
bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên những chi phí này hoặc được tính thêm một khoản chi phí
cố định.
Như vậy, có thể thấy rằng HĐXD với chi phí phụ thêm hoàn toàn khác so với
HĐXD với chi phí cố định. Đối với loại hợp đồng này, tất cả các chi phí thực tế phát sinh
hợp lý sẽ được khách hàng thanh toán (kể cả phần trượt giá các yếu tố đầu vào). Doanh
nghiệp xây dựng sẽ được hưởng thêm một khoản thanh toán tính theo một tỷ lệ phần trăm
so với các khoản chi phí được phép thanh toán hoặc được tính thêm một khoản phí cố
định. Như vậy nếu không tính đến chi phí cơ hội thì khả năng bị lỗ đối với loại hợp
đồng này ít xảy ra hơn. Đây là khác biệt cơ bản của loại hợp đồng này so với HĐXD
chi phí cố định.
Tuy nhiên, trên thực tế có thể có một số HĐXD vừa có đặc điểm của HĐXD với
giá cố định, vừa có đặc điểm của HĐXD với chi phí phụ thêm như HĐXD với chi phí
phụ thêm nhưng có thỏa thuận mức giá tối đa. Việc phân chia HĐXD thành các loại như
vậy có tác dụng rất lớn đảm bảo tính tự chủ cho các doanh nghiệp xây dựng trong hoạt
động SXKD của mình, tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất lao động, khuyến khích hoàn
thành sớm hợp đồng nhưng vẫn đảm bảo chất lượng công trình.
- Phân loại HĐXD căn cứ vào phương thức thanh toán
+ HĐXD quy định nhà thầu được thanh toán theo tiến độ kế hoạch. Đây là loại
HĐXD trong đó nhà thầu được khách hàng cam kết thanh toán các khoản liên quan đến hợp

đồng theo một tiến độ kế hoạch đã được quy định trước trong hợp đồng mà không phụ thuộc
vào tiến độ thi công thực tế của nhà thầu đối với hợp đồng. Với HĐXD loại này thường đưa ra
các quy định chặt chẽ cho nhà thầu về thời điểm bắt đầu và kết thúc thi công HĐXD mà không
quy định khắt khe về tiến độ thi công từng bộ phận và hạng mục của hợp đồng. HĐXD loại
này cũng tạo điều kiện rất lớn cho các doanh nghiệp xây dựng khi xây dựng kế hoạch về vốn
cho quá trình thực hiện hợp đồng, tuy nhiên các doanh nghiệp xây dựng cũng phải chịu trách
nhiệm lớn về tiến độ cũng như chất lượng công trình trong quá trình thi công.
+ Hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán theo giá trị khối lượng

giải quyết. Vì vậy ngoài doanh thu ban đầu được ghi nhận trong hợp đồng, doanh thu của
HĐXD có thể tăng hay giảm ở từng thời kỳ.
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 về HĐXD thì doanh thu HĐXD bao
gồm:
- Doanh thu ban đầu được ghi trong hợp đồng (chính là giá dự toán ban đầu của
hợp đồng được quy định trong HĐXD đã ký kết); và
- Các khoản tăng, giảm khi thực hiện hợp đồng, các khoản tiền thưởng và các
khoản thanh toán khác nếu các khoản này có khả năng làm thay đổi doanh thu và có thể
xác định được một cách đáng tin cậy.
Các khoản tăng, giảm doanh thu của HĐXD trong từng thời kỳ bao gồm:
+ Nhà thầu và khách hàng có thể đồng ý với nhau về các thay đổi và các yêu cầu
như: thay đổi thiết kế kỹ thuật, phạm vi công việc được thực hiện theo hợp đồng… làm
tăng hoặc giảm doanh thu của hợp đồng trong kỳ tiếp theo so với hợp đồng đã được chấp
thuận ban đầu.
+ Doanh thu đã được thỏa thuận trong hợp đồng với giá cố định có thể tăng vì lý
do giá cả tăng lên.

+ Doanh thu theo hợp đồng có thể bị giảm do nhà thầu không thực hiện đúng tiến
độ thi công, không đảm bảo chất lượng công trình theo thỏa thuận trong hợp đồng.
+ Khi hợp đồng quy định mức giá cố định cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành
thì doanh thu của hợp đồng sẽ tăng hoặc giảm khi khối lượng sản phẩm tăng hoặc giảm.
Các khoản thanh toán khác mà các doanh nghiệp xây dựng thu được từ khách
hàng hay một bên khác để bù đắp các khoản chi phí không được ghi trong hợp đồng cũng
được tính vào doanh thu của HĐXD như: sự thay đổi phạm vi công việc trong hợp đồng
theo yêu cầu của khách hàng, sự chậm trễ do khách hàng gây nên, sai sót trong các chỉ
tiêu kỹ thuật hoặc thiết kế và các tranh chấp về các thay đổi trong khi thực hiện hợp
đồng… Các khoản này chỉ được tính vào doanh thu của HĐXD nếu thỏa mãn các điều
kiện sau:
+ Các cuộc thỏa thuận đã đạt được kết quả, có khả năng chắc chắn khách hàng sẽ
chấp thuận các thay đổi, bồi thường và doanh thu phát sinh từ các thay đổi đó;

phát sinh thì chúng không còn được coi là chi phí của HĐXD khi hợp đồng được ký kết
vào kỳ tiếp sau.
Việc xác định chi phí HĐXD là một trong những nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến
việc xác định kết quả hoạt động SXKD của các doanh nghiệp xây dựng. Chính vì vậy,
xác định đúng, đủ các khoản chi phí của một HĐXD là việc hết sức quan trọng và hết sức
cần thiết trong các doanh nghiệp xây dựng.
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 về HĐXD, chi phí HĐXD bao gồm:
- Chi phí liên quan trực tiếp đến từng HĐXD.
- Chi phí chung liên quan đến hoạt động của các hợp đồng và có thể phân bổ cho
từng hợp đồng cụ thể.
- Các chi phí khác có thể thu lại từ khách hàng theo các điều khoản của hợp
đồng.

Cụ thể: Chi phí liên quan trực tiếp đến từng HĐXD bao gồm:
+ Chi phí nhân công tại công trường bao gồm toàn bộ tiền lương và tiền công lao
động của công nhân trực tiếp phục vụ xây dựng công trình và các khoản trích theo lương
(kể cả công nhân sử dụng máy móc, thiết bị thi công).
+ Chi phí giám sát công trình: là toàn bộ số tiền chi ra liên quan trực tiếp đến cán
bộ giám sát là đại diện của doanh nghiệp thực hiện giám sát thi công theo yêu cầu quản lý
của doanh nghiệp.
Nếu cán bộ giám sát là đại diện của chủ đầu tư thì chi phí trả cho cán bộ giám sát
sẽ là do bên chủ đầu tư thanh toán và do đó không được tính vào chi phí HĐXD.
+ Chi phí nguyên vật liệu cho công trình: là chi phí về các loại nguyên vật liệu
chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ mà doanh nghiệp đã
sử dụng cho công trình.
+ Chi phí thiết bị cho công trình: là chi phí mà các doanh nghiệp xây dựng phải
chi ra để mua sắm các thiết bị lắp đặt cho công trình.
+ Chi phí về khấu hao máy móc, thiết bị và các tài sản cố định (TSCĐ) khác
dùng để thực hiện hợp đồng: là số tiền khấu hao TSCĐ dùng để thực hiện hợp đồng bao
gồm các loại máy móc, thiết bị thi công và các TSCĐ khác sử dụng cho hoạt động sản

công tác quản lý chung không liên quan đến một HĐXD cụ thể nào. Tiêu thức phân bổ
giống như chi phí thiết kế, trợ giúp kỹ thuật.
Chi phí chung liên quan đến hoạt động của các hợp đồng và có thể phân bổ cho
từng hợp đồng cũng bao gồm chi phí đi vay nếu thỏa mãn các điều kiện chi phí đi vay
được vốn hóa theo quy định trong chuẩn mực "Chi phí đi vay". Chi phí đi vay bao gồm
lãi tiền vay và các chi phí khác phát sinh liên quan trực tiếp đến các khoản vay của doanh
nghiệp.

Các chi phí trên được phân bổ theo các phương pháp thích hợp một cách có hệ
thống theo tỷ lệ hợp lý và được áp dụng thống nhất cho tất cả các chi phí có đặc điểm
tương tự. Việc phân bổ cần dựa trên mức thông thường của hoạt động xây dựng.
- Các chi phí khác có thể thu lại từ khách hàng theo các điều khoản của hợp đồng
bao gồm các chi phí như: chi phí giải phóng mặt bằng, chi phí triển khai… mà khách
hàng phải trả lại cho Nhà thầu đã được quy định trong hợp đồng. Đối với các khoản chi
phí nghiên cứu, triển khai mà hợp đồng không quy định khách hàng phải trả cho Nhà
thầu thì không được tính vào chi phí của HĐXD.
- Chi phí không liên quan đến hoạt động của hợp đồng hoặc không thể phân bổ
cho HĐXD thì không được tính vào chi phí của HĐXD. Các chi phí này bao gồm:
+ Chi phí quản lý hành chính chung, hoặc chi phí nghiên cứu, triển khai mà hợp
đồng không quy định khách hàng phải trả cho nhà thầu.
+ Chi phí bán hàng.
+ Khấu hao máy móc, thiết bị và TSCĐ khác không sử dụng cho HĐXD.
Việc xác định rõ nội dung chi phí của HĐXD sẽ là cơ sở rất tốt để lập dự toán chi
phí, giúp cho nhà quản trị có thể kiểm soát chi phí một cách tốt hơn đồng thời nó cũng giúp
cho công tác kế toán chi phí, doanh thu được chính xác.
1.2.3. Phương pháp ghi nhận doanh thu, chi phí hợp đồng xây dựng theo
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15
Do đặc điểm riêng có của ngành xây dựng cơ bản đã trình bày trên nên việc ghi
nhận doanh thu và chi phí của HĐXD cũng rất phức tạp do chi phí lớn, cơ cấu chi phí phức
tạp và không giống nhau giữa các công trình và việc ghi nhận doanh thu của mỗi HĐXD

là đáng tin cậy vì đã là ước tính thì mang nhiều tính chủ quan, hơn nữa do đặc điểm riêng
của ngành XDCB, mỗi loại hợp đồng khác nhau lại có cách ước tính khác nhau phụ thuộc

vào những điều khoản trong hợp đồng vì vậy, việc ước tính kết quả xây dựng một cách
đáng tin cậy không mấy dễ dàng.
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 có quy định:
- Đối với HĐXD với giá cố định, kết quả của HĐXD được ước tính một cách
đáng tin cậy khi đồng thời thỏa mãn 4 điều kiện sau:
+ Tổng doanh thu của hợp đồng tính toán được một cách đáng tin cậy.
+ Doanh nghiệp thu được lợi ích kinh tế từ hợp đồng.
+ Chi phí để hoàn thành hợp đồng và phần công việc đã hoàn thành tại thời điểm
lập BCTC được tính toán một cách đáng tin cậy.
+ Các khoản chi phí liên quan đến hợp đồng có thể xác được rõ ràng và tính toán
được một cách đáng tin cậy để tổng chi phí của hợp đồng có thể so sánh được với tổng dự
toán.
- Đối với HĐXD với chi phí phụ thêm: kết quả của HĐXD được ước tính một
cách đáng tin cậy khi đồng thời thỏa mãn hai điều kiện sau:
+ Doanh nghiệp thu được lợi ích kinh tế từ hợp đồng;
+ Các khoản chi phí liên quan đến hợp đồng có thể xác được rõ ràng và tính toán
được một cách đáng tin cậy không kể có được hoàn trả hay không.
Như vậy, trong cả hai trường hợp trên đều cho thấy dấu hiệu cơ bản để nhận biết
kết quả thực hiện HĐXD có thể được xác định một cách đáng tin cậy là khi doanh nghiệp
có thể thu được lợi ích kinh tế từ hợp đồng. Trường hợp có sự nghi ngờ về khả năng
không thu được một khoản nào đó đã được tính trong doanh thu của hợp đồng và đã được
ghi nhận trong báo cáo kết quả kinh doanh thì những khoản không có khả năng thu được
đó phải được ghi nhận vào chi phí.
Tại đoạn 32 của Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 cũng chỉ rõ: Khi kết quả
thực hiện HĐXD không thể ước tính được một cách đáng tin cậy, thì doanh thu chỉ được

ghi nhận tương đương với chi phí của hợp đồng đã phát sinh mà việc hoàn trả là tương

- Trường hợp HĐXD quy định nhà thầu được thanh toán theo giá trị khối lượng
thực hiện.
Trong trường hợp này, khi kết quả thực hiện HĐXD được ước tính một cách
đáng tin cậy và được khách hàng xác nhận thì chi phí liên quan đến HĐXD được ghi
nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành được khách hàng xác nhận trong kỳ
được phản ánh trên hóa đơn đã lập.
Như vậy, việc xác định kết quả thực hiện HĐXD có thể ước tính được một cách đáng
tin cậy hay không cũng ảnh hưởng lớn đến việc ghi nhận chi phí.
Tại đoạn 32 của Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 cũng chỉ rõ: Khi kết quả
thực hiện HĐXD không thể ước tính được một cách đáng tin cậy, thì chi phí của HĐXD
chỉ được ghi nhận là chi phí trong kỳ khi các chi phí này đã phát sinh.
Tuy nhiên trên thực tế, ngoài những chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện
hợp đồng, Nhà thầu có thể phải bỏ ra những chi phí liên quan đến việc hình thành hợp
đồng. Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 thì những chi phí này được ghi nhận là
những khoản ứng trước nếu chúng có thể được hoàn trả. Những chi phí này thể hiện một
lượng tiền mà khách hàng phải trả và được phân loại như là công trình xây dựng dở dang.
Các chi phí liên quan đến hợp đồng không thể thu hồi được phải ghi nhận ngay là
chi phí trong kỳ đối với các trường hợp:
+ Không đủ điều kiện về mặt pháp lý để tiếp tục thực hiện hợp đồng.
+ Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng còn tùy thuộc vào kết quả xử lý các đơn kiện
hoặc ý kiến của cơ quan có thẩm quyền.
+ Hợp đồng có liên quan đến tài sản có khả năng bị trưng thu hoặc tịch thu.

+ Hợp đồng mà nhà thầu không thể hoàn thành hoặc không thể thực thi theo
nghĩa vụ quy định trong hợp đồng.
Tóm lại, khi loại bỏ được các yếu tố không chắc chắn liên quan đến việc ước tính
một cách đáng tin cậy kết quả thực hiện hợp đồng thì chi phí liên quan đến HĐXD sẽ
được ghi nhận tương ứng với phần công việc hoàn thành.
1.3. Kế toán doanh thu, chi phí Hợp đồng xây dựng theo chuẩn mực kế toán
Việt Nam số 15

- Khoản tiền thưởng thu được từ khách hàng trả phụ thêm cho nhà thầu khi thực
hiện đạt hoặc vượt một số chỉ tiêu cụ thể đã được ghi trong hợp đồng, ghi:
Nợ TK 111, 112, 131
Có TK 333 (1) - Thuế GTGT đầu ra
Có TK 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
- Khoản bồi thường thu được từ khách hàng hay bên khác để bù đắp cho các chi
phí không bao gồm trong giá trị hợp đồng như được bồi thường do sự chậm trễ mà khách
hàng gây nên, sai sót trong các chỉ tiêu kỹ thuật và thiết kế và tranh chấp về các thay đổi
trong việc thực hiện hợp đồng, ghi:
Nợ TK 111, 112, 131
Có TK 333 (1) - Thuế GTGT đầu ra (nếu có)
Có TK 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
1.3.2. Kế toán chi phí Hợp đồng xây dựng

Do đặc điểm tổ chức sản xuất của các doanh nghiệp xây dựng là tổ chức sản xuất
theo từng công trình và hạng mục công trình tương ứng với các HĐXD đã ký kết. Mặt
khác, để đáp ứng yêu cầu sản xuất, các doanh nghiệp xây dựng thường phân chia thành
các tổ, đội sản xuất để thuận tiện trong việc quản lý, giao nhiệm vụ và hạch toán nội bộ
nên:
- Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây dựng có thể là:
+ Các công trình và hạng mục công trình có giá trị dự toán riêng tương ứng với
các HĐXD đã ký;
+ Nhóm công trình, các đơn vị thi công (xí nghiệp, tổ đội thi công xây lắp) sau
đó tiến hành theo dõi chi tiết cho từng hạng mục công trình, hạng mục công trình tương
ứng với các HĐXD đã ký.
- Đối tượng tính giá thành có thể là: công trình, hạng mục công trình, các giai đoạn
quy ước của hạng mục công trình có giá trị dự toán riêng hoàn thành.
1.3.2.1. Phương pháp tập hợp chi phí cho các Hợp đồng xây dựng
Do đặc thù sản phẩm thường được thi công trong thời gian dài nên có rất nhiều
các khoản chi phí phát sinh ngoài dự toán, do đó để làm tốt công tác kế toán chi phí,


C : Tổng chi phí cần phân bổ cho các đối tượng


T : Tổng tiêu chuẩn dùng để phân bổ cho các đối tượng
+ Bước 2: Xác định chi phí tính cho các đối tượng có liên quan theo công thức:
C
i
= H x T
i

Trong đó: C
i
: Chi phí phân bổ cho đối tượng i
H: Hệ số phân bổ
T
i
: Tiêu chuẩn phân bổ chi phí của đối tượng i
Theo công thức trên ta thấy tính chính xác của việc phân bổ ở đây phụ thuộc rất
nhiều vào tiêu chuẩn mà doanh nghiệp sử dụng để phân bổ các khoản chi phí này. Muốn
xác định được chính xác chi phí, doanh thu và kết quả của từng HĐXD ta phải xác định
tiêu chuẩn phân bổ chi phí một cách phù hợp.

Trích đoạn Những nguyên tắc cơ bản khi vận dựng Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 vào việc hạch toán doanh thu và chi phí của Công ty cổ phần Xây Hoàn thiện về công tác phân loại Hợp đồng xây dựng Hoàn thiện việc xác định nội dung doanh thu của Hợp đồng xây dựng Hoàn thiện việc ghi nhận doanh thu của hợp đồng xây dựng Hoàn thiện việc xác định nội dung chi phí của Hợp đồng xây dựng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status