Vận dụng Kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng Cosevco - Pdf 14

Luận văn tốt nghiệp GVHD : Th.S Nguyễn Thị Lãnh
LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm vừa qua, Nhà nước chủ trương thực hiện đường lối phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có định
hướng và điều tiết của Nhà nước. Do đó nền kinh tế nước ta đã có những biến đổi sâu
sắc và phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực.
Khu vực kinh tế quốc doanh được xem là nền móng chủ đạo của nền kinh tế
và nó không ngừng đổi mới, hoàn thiện cho phù hợp với cơ chế thị trường cũng như
những thách thức của quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Đặc biệt là khi Việt Nam là
thành viên của Tổ chức thương mại Thế Giới WTO, điều này có nghĩa là các doanh
nghiệp Việt Nam đang đứng trước vận hội lớn, cũng như đang phải đối mặt với một
môi trường cạnh tranh khốc liệt nhất, vì vậy các doanh nghiệp cần có sự chuẩn bị tốt
về mọi mặt.
Trước bối cảnh kể trên, trách nhiệm của các nhà quản trị doanh nghiệp là rất
nặng nề. Các nhà quản trị phải điều hành hoạt động sản xuất- kinh doanh của doanh
nghiệp sao cho thật hiệu quả, tiết kiệm, tạo được ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp
trên thị trường. Muốn vậy, các nhà quản trị phải cần rất nhiều thông tin về tình hình
sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp để phục vụ cho công tác quản lý. Kế toán tài
chính với chức năng cung cấp thông tin tài chính cho các đối tượng liên quan đã hỗ
trợ một phần cho công tác quản lý doanh nghiệp của các nhà quản trị. Tuy nhiên,
những thông tin của kế toán tài chính đều mang tính quá khứ, phản ánh những nghiệp
vụ kinh tế đã qua, nên không thể đáp ứng được đầy đủ nhu cầu thông tin của các nhà
quản trị trong doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta
hiện nay.
Kế toán quản trị với chức năng cung cấp các thông tin quá khứ, hiện tại và cả
tương lai cho các nhà quản lý sẽ là công cụ hỗ trợ tốt cho nhà quản trị trong việc điều
hành doanh nghiệp. Thế nhưng hiện nay tại Việt Nam, kế toán quản trị vẫn còn là vấn
đề khá mới mẻ và chưa được chú trọng đúng mức tại các doanh nghiệp, trong khi trên
thế giới nó đã được ứng dụng từ khá lâu. Để theo kịp với tiến độ phát triển của các
doanh nghiệp trên thế giới thì việc ứng dụng kế toán quản trị vào công tác quản lý tại

Thị Lãnh và phòng tài chính- kế toán công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng
Cosevco
Sinh viên thực hiện
Cao Thị Mỹ Phú
SVTH : Cao Thị Mỹ Phú Trang 2

Luận văn tốt nghiệp GVHD : Th.S Nguyễn Thị Lãnh
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
A. KHÁI QUÁT VỀ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
I. ĐẶC ĐIỂM VỀ HOẠT ĐỘNG XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC
HẠCH TOÁN CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH
1.Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây lắp ảnh hưởng đến hạch toán kế toán:
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công
nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân.Thông thường, công tác
XDCB do các đơn vị xây lắp nhận thầu tiến hành. Ngành sản xuất này có đặc điểm
sau:
- Sản phẩm XDCB mang tính đơn chiếc, có thể tiến hành theo 2 phương thức:
Tự làm hoặc giao thầu:
+ Trong phương thức tự làm, đơn vị chủ đầu tư tự đứng ra tổ chức lấy công
tác xây dựng, tự huy động và sử dụng các nguồn vốn đầu tư và thanh quyết toán khi
công trình hoàn thành. Phương thức này chỉ áp dụng cho những công trình có quy mô
nhỏ, kỹ thuật giản đơn, giá trị thấp.
+ Phương thức giao thầu: chủ đầu tư đứng ra tổ chức đấu thầu hoặc chọn thầu.
Các công trình xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước đều phải tổ chức đấu thầu, ngoại trừ
các loại công trình được chọn thầu hoặc chỉ định thầu xây lắp.
- Sản phẩm XDCB có giá trị lớn, khối lượng công trình lớn, thời gian thi công
tương đối dài: Các công trình XDCB có thời gian thi công dài, có công trình phải xây
dựng hàng chục năm mới xong. Trong thời gian thi công sản phẩm xây lắp chưa hình

doanh nghiệp xây lắp, dẫn đến những khác biệt nhất định. Tuy nhiên, về cơ bản, kế
toán các phần hành cụ thể (tài sản cố định, vật liệu, công cụ, chi phí nhân công…)
trong doanh nghiệp xây lắp cũng tương tự như doanh nghiệp công nghiệp.
2. Đặc điểm kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp:
Xuất phát từ quy định về lập dự toán công trình XDCB là phải lập theo từng
công trình, hạng mục công trình và phân tích theo từng khoản mục chi phí cũng như
đặc điểm tại các đơn vị nhận thầu, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp có các đặc điểm sau:
- Kế toán chi phí nhất thiết phải được phân tích theo từng khoản mục chi phí,
từng hạng mục công trình, từng công trình cụ thể.Qua đó thường xuyên so sánh, kiểm
tra việc thực hiện dự toán chi phí, xem xét nguyên nhân vượt, hụt dự toán và đánh giá
hiệu quả kinh doanh.
- Đối tượng kế toán chi phí có thể là các công trình, hạng mục công trình, các
đơn đặt hàng, các giai đoạn của hạng mục hay nhóm hạng mục…Vì thế phải lập dự
toán chi phí và tính giá thành theo từng hạng mục hay giai đoạn của hạng mục.
- Giá thành công trình lắp đặt thiết bị không bao gồm giá trị bản thân thiết bị
do chủ đầu tư đưa vào để lắp đặt mà chỉ bao gồm những chi phí do doanh nghiệp xây
lắp bỏ ra có liên quan đến xây lắp công trình. Bởi vậy, khi nhận thiết bị do đơn vị chủ
đầu tư đưa vào để lắp đặt,giá các thiết bị được đưa vào bên Nợ TK 002- Vật tư, hàng
hoá nhận giữ hộ, nhận gia công.
- Giá thành công tác xây dựng và lắp đặt kết cấu bao gồm giá trị vật kết cấu và
giá trị thiết bị kèm theo như các thiết bị vệ sinh, thông gió, thiết bị sưởi ấm, điều hoà
nhiệt độ, thiết bị truyền dẫn…
- Do thời gian thi công tương đối dài, công trình, hạng mục công trình chỉ
hoàn thành khi kết thúc một chu kỳ sản xuất sản phẩm nên kỳ tính giá thành thường
không xác định hàng tháng như trong sản xuất công nghiệp mà thường được chọn là
thời điểm khi công trình hoàn thành hay thực hiện bàn giao thanh toán theo giai đoạn
quy ước tuỳ thuộc vào kết cấu đặc điểm kỹ thuật và khả năng về vốn của đơn vị xây
lắp. Việc xác định đúng đắn đối tượng tính giá thành sẽ góp phần to lớn trong việc
quản lý sản xuất thi công và sử dụng đồng vốn đạt hiệu quả cao nhất.

phụ, các khoản phụ cấp của công nhân trực tiếp sản xuất và tiền lương phải trả lao
động thuê ngoài. Chi phí nhân công trực tiếp cũng giống như chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp, có thể xác định rõ ràng cụ thể và tách biệt cho từng đơn vị sản phẩm nên
được tính thẳng vào đơn vị sản phẩm.
• Chi phí sử dụng máy thi công: là loại chi phí đặc thù chỉ có trong doanh
nghiệp xây dựng cơ bản. Đây là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá nằm trong quá trình sử dụng xe, máy thi công cho các
công trình xây lắp. Chi phí này bao gồm tiền lương của công nhân trực tiếp điều
khiển hay phục vụ xe- máy thi công, chi phí khấu hao TSCĐ là máy móc thi công, chi
phí về nhiên liệu, động lực, sửa chữa, bảo trì, điện, nước cho máy thi công,…Trong
trường hợp doanh nghiệp thi công toàn bằng thủ công hoặc thi công toàn bằng máy,
các chi phí phát sinh không đưa vào khoản mục chi phí sử dụng máy thi công mà
được xem là chi phí sản xuất chung. Chi phí sử dụng máy thi công cũng được tính
thẳng vào đơn vị sản phẩm.
• Chi phí sản xuất chung: là các chi phí trực tiếp khác (ngoài chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công) và các
chi phí về tổ chức, quản lý phục vụ sản xuất xây lắp, các chi phí có tính chất chung
cho hoạt động xây lắp gắn liền với từng đơn vị thi công như tổ, đội, công trường thi
công. Thông thường chi phí sản xuất chung có liên quan đến nhiều công trình, hạng
SVTH : Cao Thị Mỹ Phú Trang 5

Luận văn tốt nghiệp GVHD : Th.S Nguyễn Thị Lãnh
mục công trình xây lắp khác nhau nên rất khó tính riêng cho từng đơn vị sản phẩm.
Chi phí sản xuất chung thường được tập hợp theo từng tổ, đội, công trường rồi sau đó
tiến hành phân bổ cho từng sản phẩm theo các tiêu thức thích hợp.
- Chi phí ngoài sản xuất: bao gồm chi phí bán hàng (chi phí tiêu thụ) và chi
phí quản lý doanh nghiệp:
• Chi phí bán hàng: là những khoản phí tổn cần thiết nhằm thúc đẩy quá trình
lưu thông hàng hóa, đảm bảo đưa hàng hoá đến tận tay người tiêu dùng. Chi phí bán
hàng bao gồm các chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu, công cụ dụng cụ, chi phí

tồn tại định phí; ngược lại, khi doanh nghiệp gia tăng mức độ hoạt động thì định phí
trên một đơn vị mức độ hoạt động sẽ giảm dần. Định phí được chia làm 2 loại:
• Định phí bắt buộc: Là những dòng định phí có liên quan đến khấu hao tài sản
dài hạn, chi phí sử dụng tài sản dài hạn và chi phí liên quan đến lương của các nhà
quản trị gắn liền với cấu trúc tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của một doanh
nghiệp như khấu hao nhà xưởng, chi phí khấu hao phương tiện vận tải, chi phí về
lương, bảo hiểm của các nhà quản trị cao cấp…
SVTH : Cao Thị Mỹ Phú Trang 6

Luận văn tốt nghiệp GVHD : Th.S Nguyễn Thị Lãnh
• Định phí tuỳ ý (định phí không bắt buộc): Là những chi phí có thể thay đổi
trong từng kỳ kế hoạch do nhà quản trị quyết định.
- Chi phí hỗn hợp: Chi phí hỗn hợp là những chi phí bao gồm cả yếu tố biến
phí và định phí. Ở một mức độ hoạt động nào đó, chi phí hỗn hợp thể hiện đặc điểm
của định phí, ở một mức độ hoạt động khác chúng lại thể hiện đặc điểm của biến phí.
Để thuận tiện cho việc lập kế hoạch, kiểm soát chi phí, ra quyết định thì cần phải tiến
hành phân tích, tách riêng chi phí hỗn hợp thành 2 yếu tố biến phí và định phí. Các
phương pháp thường được sử dụng khi phân tích chi phí hỗn hợp là phương pháp cực
đại- cực tiểu, phương pháp bình phương bé nhất, phương pháp đồ thị phân tán.
2.3. Phân loại theo yếu tố chi phí: Theo cách phân chia này chi phí bao gồm
các loại sau:
- Chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ: Là toàn bộ giá trị nguyên vật
liệu, công cụ dụng cụ sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ.
- Chi phí nhân công: Là tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản trích
theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ) và các khoản phải trả khác cho công nhân viên
chức trong kỳ.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là phần giá trị hao mòn của tài sản cố
định dịch chuyển vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là các khoản tiền điện, tiền nước, điện thoại,…
- Chi phí khác bằng tiền: Là những chi phí sản xuất kinh doanh khác chưa

II. TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI TIẾT CHI PHÍ:
1. Kế toán chi tiết chi phí sản xuất:
1.1. Kế toán chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
a. Nguyên tắc hạch toán:
- Các vật liệu sử dụng cho việc xây dựng công trình, hạng mục công trình nào
thì phải tính trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó theo số lượng thực tế đã
sử dụng và theo giá thực tế đã xuất kho.
- Trong điều kiện thực tế sản xuất xây lắp có những trường hợp không cho
phép tính riêng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công
trình thì lúc này kế toán có thể áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp
- Trong công tác hạch toán, từ việc tổ chức ghi chép ban đầu đến việc tổng
hợp, phân bổ chi phí vật liệu và phân tích tình hình sử dụng vật liệu, kế toán phải sử
dụng triệt để dự toán tiêu hao vật liệu đã có và phải tác động tích cực để không
ngừng hoàn thiện nó.
- Cuối kỳ kế toán hoặc khi công trình hoàn thành phải:
• Kiểm kê số vật liệu chưa sử dụng hết ở các công trường, bộ phận xây lắp để
ghi giảm chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp sử dụng cho công trình.
• Tổ chức hạch toán và tính toán đúng đắn số phế liệu thu hồi theo từng đối
tượng sử dụng.
b. Tài khoản sử dụng:
TK 621- Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp.
Tài khoản này được sử dụng để tập hợp tất cả các khoản chi phí về nguyên,
nhiên, vật liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình thi công công trình.
Tài khoản 621 có kết cấu và nội dung như sau:
- Bên Nợ: Phản ánh giá trị nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc
xây lắp công trình, hạng mục công trình.
- Bên Có:
• Giá trị nguyên liệu, vật liệu sử dụng không hết nhập lại kho.
• Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế sử dụng
cho sản xuất kinh doanh để tính giá thành sản phẩm xây lắp.

Diễn giải
Tài
khoản
đối
ứng
Ghi Nợ tài khoản…
Số
hiệu
Ngày
tháng
Tổng
số tiền
Chia ra
… … … …
- Số dư đầu kỳ
- Cộng phát
sinh
- Ghi Có TK…
- Số dư cuối kỳ
Lập ngày…tháng…năm…
Kế toán ghi sổ Kế toán trưởng
Căn cứ vào Phiếu xuất kho nguyên vật liệu hoặc Hoá đơn giá trị gia tăng, kế
toán ghi nhận chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho từng công việc (đơn đặt hàng) vào
Phiếu chi phí công việc. Sau khi công việc hoặc đơn hàng hoàn thành, kế toán sẽ
cộng tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và ghi vào phần tổng chi phí để cùng các
chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung làm
cơ sở cho việc xác định giá thành.
Phiếu chi phí công việc được lập khi phòng kế toán nhận được thông báo và
lệnh sản xuất phát ra cho công việc đó. Trên Phiếu chi phí công việc sẽ phản ánh
thông tin chi tiết về các chi phí thực tế phát sinh trong kỳ. Đến khi công trình hoàn

máy thi công
Chi phí sản xuất
chung
Tổng
cộng
Chứng từ
Thành
tiền
Chứng từ
Thành
tiền
Chứng từ
Thành
tiền
Chứng từ
Thành
tiền
Số Ngày Số Ngày Số Ngày Số Ngày
Tổng cộng
Tổng cộng Tổng cộng Tổng cộng
Nơi giao:
Người nhận:
Ngày giao thực tế:
1. Tổng doanh thu
2. Chi phí sản xuất
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiêp
- Chi phí sử dụng máy thi công
- Chi phí sản xuất chung
3. Chi phí bán hàng

• Khoản trích trước tiền nghỉ phép của công nhân sản xuất theo kế hoạch trong
năm
- Bên Có: Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí nhân công trực tiếp để tổng hợp
chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành trong kỳ
TK 622 cuối kỳ không có số dư
Trong hoạt động xây lắp, tài khoản này được mở chi tiết cho từng công trình,
hạng mục công trình và cho từng tháng
c. Tổ chức chứng từ:
Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức trả lương theo thời gian thì chứng từ
được sử dụng là các Bảng chấm công. Bảng chấm công thường do phòng tổ chức lập
để theo dõi ngày công của người lao động, làm cơ sở cho việc tính lương hàng tháng
và xét khen thưởng cuối kỳ. Bảng này sẽ được chuyển cho phòng kế toán vào cuối kỳ
để kế toán thanh toán hoặc kế toán tiền lương dùng làm căn cứ lập Bảng phân bổ tiền
lương và bảo hiểm xã hội. Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội là cơ sở để
ghi vào sổ chi tiết.
Nếu doanh nghiệp trả lương theo khối lượng công việc hoàn thành thì chứng
từ được sử dụng là Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành. Phiếu này là
cơ sở để lập nên Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội.
Ngoài ra, kế toán có thể sử dụng một số chứng từ khác như Phiếu báo làm
thêm giờ, Bảng thanh toán tiền thưởng, Phiếu nghỉ hưởng BHXH…
Đối với doanh nghiệp xây lắp, các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ của công
nhân trực tiếp sản xuất không được tính vào chi phí nhân công trực tiếp mà tính vào
chi phí sản xuất chung. Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội được lập theo
mẫu sau:
SVTH : Cao Thị Mỹ Phú Trang 11

Luận văn tốt nghiệp GVHD : Th.S Nguyễn Thị Lãnh
BẢNG PHÂN BỔ LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
Tháng…năm…
Số

Sổ chi tiết được sử dụng trong kế toán chi phí nhân công trực tiếp là Sổ chi tiết
chi phí nhân công trực tiếp. Căn cứ để ghi vào sổ này là Bảng phân bổ tiền lương và
bảo hiểm xã hội đã được lập. Sổ chi tiết chi phí nhân công trực tiếp được thiết kế
tương tự Sổ chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Ngoài ra, chi phí nhân công trực tiếp phát sinh trong kỳ cũng được phản ánh vào
Phiếu chi phí công việc như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
1.3.Kế toán chi phí sử dụng máy thi công:
a. Nguyên tắc hạch toán:
- Quá trình hạch toán chi phí sử dụng máy thi công phải phù hợp với hình thức
sở hữu máy thi công, cụ thể là:
• Trong trường hợp đơn vị thi công có máy: Nếu doanh nghiệp xây lắp có tổ
chức đội máy thi công riêng biệt và đội máy có tổ chức kế toán thì chi phí và tính giá
thành sản phẩm được hạch toán giống như bộ phận sản xuất phụ. Nếu doanh nghiệp
xây lắp không tổ chức đội máy thi công riêng biệt mà giao máy thi công cho các đội,
xí nghiệp xây lắp sử dụng (thi công hỗn hợp) thì chi phí sử dụng máy thi công được
hạch toán tương tự chi phí sản xuất chung
• Trường hợp đơn vị thi công đi thuê máy: có thể xảy ra các trường hợp: chỉ
thuê máy thi công (không kèm công nhân điều khiển và phục vụ máy), thuê máy thi
công kèm theo công nhân điều khiển và phục vụ máy, thuê máy thi công theo khối
lượng công việc
- Chi phí sử dụng máy thi công phải được hạch toán chi tiết theo từng loại
máy, nhóm máy thi công hoặc theo từng đội đồng thời phải chi tiết theo các khoản
mục quy định.
- Việc tính toán, phân bổ chi phí sử dụng máy thi công cho các đối tượng sử
dụng phải dựa trên cơ sở giá thành một giờ (ca)/ máy hay giá thành của một đơn vị
khối lượng công việc hoàn thành kết hợp với tài liệu hạch toán nghiệp vụ về thời gian
hoạt động của từng loại máy thi công
SVTH : Cao Thị Mỹ Phú Trang 12

Luận văn tốt nghiệp GVHD : Th.S Nguyễn Thị Lãnh

KPCĐ cho công nhân trực tiếp điều khiển máy không được hạch toán vào chi phí sử
dụng máy thi công mà hạch toán vào chi phí sản xuất chung.
d. Tổ chức sổ chi tiết:
Để hạch toán chi tiết chi phí sử dụng máy thi công, kế toán sử dụng Sổ chi tiết
chi phí sử dụng xe, máy thi công. Sổ này có kết cấu như sau:
SVTH : Cao Thị Mỹ Phú Trang 13

Luận văn tốt nghiệp GVHD : Th.S Nguyễn Thị Lãnh
Đơn vị: Ban hành theo quyết định số 1864/1998/QĐ/BTC
Địa chỉ: ngày 16 tháng 12 năm 1998 của Bộ Tài chính
SỔ CHI TIẾT CHI PHÍ SỬ DỤNG XE, MÁY THI CÔNG
Tài khoản 623- Chi phí sử dụng máy thi công
Tên xe máy:
Công suất:
Nước sản xuất:
Tháng…năm…
Đơn vị tính: đồng
Chứng từ Diễn giải TK
ĐƯ
Khoản mục chi phí Cộng
Số Ngày 6231 6232 6233 6234 6235 6238
Tổng cộng
Lập ngày…tháng…năm…
Kế toán ghi sổ Kế toán trưởng
Ngoài ra, các chứng từ gốc cũng là cơ sở để phản ánh vào Phiếu chi phí công
việc.
1.4.Kế toán chi phí sản xuất chung:
a. Nguyên tắc hạch toán:
- Chi phí sản xuất chung có liên quan đến công trình, hạng mục công trình nào
thì phải hạch toán chi trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình ấy đồng thời phải

Trong kế toán chi tiết chi phí sản xuất chung, chứng từ gốc được sử dụng khá
đa dạng, như là:
- Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội cho nhân viên quản lý thi công.
- Bảng phân bổ khấu hao TSCĐ.
- Phiếu chi
- Phiếu xuất kho để xuất kho vật liệu dùng cho quản lý thi công….
d.Tổ chức sổ chi tiết:
Sổ chi tiết chi phí sản xuất chung được xem như một bảng tổng hợp chi phí
sản xuất chung phát sinh trong kỳ. Hàng ngày (hoặc định kỳ), căn cứ vào các chứng
từ gốc, kế toán chi phí sẽ phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến chi
phí sản xuất chung vào Sổ chi tiết chi phí sản xuất chung. Cuối kỳ, kế toán cộng tổng
các chi phí phát sinh theo từng khoản mục, sau đó sẽ tiến hành phân bổ chi phí sản
xuất chung cho từng công trình, hạng mục công trình theo các tiêu thức phù hợp. Sổ
chi tiết chi phí sản xuất được lập như sau:
Đơn vị: Ban hành theo quyết định số 1864/1998/QĐ/BTC
Địa chỉ: ngày 16 tháng 12 năm 1998 của Bộ Tài chính
SỔ CHI TIẾT CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG
Tài khoản 627- Chi phí sản xuất chung
Tháng…năm…
Chứng từ
Diễn giải
TK
ĐƯ
Khoản mục chi phí
Cộng
Số Ngày 6271 6272 6273 6274 6277 6278
Tổng cộng
Lập ngày…tháng…năm…
Kế toán ghi sổ Kế toán trưởng
Ta sử dụng các chứng từ gốc để làm căn cứ phản ánh chi phí sản xuất chung

2.2. Kế toán chi tiết chi phí quản lý doanh nghiệp:
a. Nguyên tắc hạch toán:
- Trong quá trình hạch toán cần theo dõi chi tiết các yếu tố chi phí khác nhau
để phục vụ cho việc quản lý, lập báo cáo chi phí theo yếu tố và xác định đúng đắn kết
quả kinh doanh trong kỳ.
- Cuối kỳ, căn cứ vào tổng số chi phí quản lý doanh nghiệp thực tế phát sinh
trong kỳ đã tập hợp được và tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh trong
kỳ, kế toán tiến hành tính toán, kết chuyển hoặc phân bổ chi phí quản lý doanh
nghiệp để tính giá thành toàn bộ và xác định kết quả trong kỳ.
b. Tài khoản sử dụng:
TK 642- Chi phí quản lý doanh nghiệp
- Bên Nợ: Tập hợp chi phí quản lý doanh nghiệp thực tế phát sinh trong kỳ
- Bên Có:
• Các khoản ghi giảm chi phí quản lý doanh nghiệp
• Kết chuyển chi phí QLDN để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ
TK 642 không có số dư cuối kỳ
TK 642 có 8 tài khoản cấp 2:
+ TK 6421- Chi phí nhân viên quản lý
+ TK 6422- Chi phí vật liệu quản lý
+ TK 6423- Chi phí đồ dùng văn phòng
+ TK 6424- Chi phí khấu hao TSCĐ
+ TK 6425- Thuế, phí và lệ phí
+ TK 6426- Chi phí dự phòng
+ TK 6427- Chi phí dịch vụ mua ngoài
+ TK 6428- Chi phí bằng tiền khác
SVTH : Cao Thị Mỹ Phú Trang 16

Luận văn tốt nghiệp GVHD : Th.S Nguyễn Thị Lãnh
c. Tổ chức chứng từ:
Chứng từ được sử dụng trong kế toán chi tiết chi phí quản lý doanh nghịêp

Thu nhập chịu thuế tính bằng tỷ lệ phần trăm so với chi phí trực tiếp và chi phí
chung theo từng loại công trình do Bộ Xây dựng quy định.
 Các tài liệu :
- Hồ sơ thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công hoặc các thiết kế kỹ thuật thi
công.
- Khối lượng công tác xây lắp tính theo thiết kế phù hợp với danh mục định
mức, đơn giá xây dựng cơ bản.
- Danh mục và số lượng các thiết bị công nghệ, bao gồm cả thiết bị phi tiêu
chuẩn cần sản xuất gia công (nếu có), các trang thiết bị khác phục vụ sản xuất, làm
việc, sinh hoạt cần phải lắp đặt, không cần lắp đặt theo yêu cầu công nghệ sản xuất
của công trình xây dựng.
SVTH : Cao Thị Mỹ Phú Trang 17

Luận văn tốt nghiệp GVHD : Th.S Nguyễn Thị Lãnh
1.3. Các bước xác định giá trị dự toán chi phí sản xuất:
- Dựa vào bản vẽ thi công hoặc thiết kế kỹ thuật- thi công để tính khối lượng
các công tác xây lắp của công trình.
- Sử dụng các bảng đơn giá chi tiết của địa phương (hoặc đơn giá công trình)
để tính được các thành phần chi phí trong chi phí trực tiếp.
- Áp dụng các tỷ lệ định mức: chi phí chung, các hệ số điều chỉnh…để tính giá
trị dự toán xây lắp.
Ngoài ra trong hồ sơ dự toán còn cần phải xác định được nhu cầu về vật liệu,
nhân công, máy thi công bằng cách dựa vào khối lượng công tác xây lắp và định mức
dự toán chi tiết.
1.4. Phương pháp lập dự toán chi phí sản xuất:
Giá trị dự toán xây lắp : bao gồm chi phí trực tiếp, chi phí chung và thu
nhập chịu thuế tính trước
 Chi phí trực tiếp: bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân
công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công. Phương pháp lập như sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: (VL)

j
* D
j
nc
* (1 +
nh
F
1
1
+
nh
F
2
2
) * K
NC
Trong đó:
D
j
nc
: Chi phí nhân công trong đơn giá xây dựng của công tác xây lắp thứ j. Chi
phí nhân công trong đơn giá bao gồm tiền lương cơ bản, các khoản phụ cấp có tính
chất lương và các chi phí theo chế độ đối với công nhân xây lắp mà có thể khoán trực
tiếp cho người lao động để tính cho một ngày công định mức (áp dụng theo các văn
bản hướng dẫn của nhà nước tại thời điểm tính toán).
F
1
: Các khoản phụ cấp lương (nếu có) tính theo tiền lương tối thiểu mà chưa
được tính hoặc tính chưa đủ trong đơn giá xây dựng.
h

2.2
= 1,370
Nhóm III: h
2.3
= 1,363
Nhóm IV: h
2.4
= 1,357
K
NC
: Hệ số điều chỉnh chi phí nhân công
- Chi phí sử dụng máy thi công: (M)
M =

=
m
j 1
Q
j
* D
jm
* K
MTC
Trong đó:
D
jm
: Chi phí máy thi công trong đơn giá xây dựng của công tác xây lắp thứ j.
K
MTC
: Hệ số điều chỉnh chi phí máy thi công.

Xây dựng mặt đường sắt
Xây dựng cầu cống giao thông, triền đà, ụ tàu
Xây dựng bến cảng, các công trình biển.
Công trình thuỷ lợi.
55,0
63,5
67,5
71,0
64,0
63,5
66,0
67,0
63,5
63,5
64,0
9,0
9,0
9,0
9,0
9,0
9,0
11,0
11,0
10,0
9,0
9,0
 Thu nhập chịu thuế tính trước: (TL) được sử dụng để nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp và một số khoản chi phí phải nộp, phải trừ khác, phần còn lại được tính
vào các quỹ theo quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh
nghiệp. Thu nhập chịu thuế tính trước được tính bằng tỷ lệ % so với chi phí trực tiếp

j 1
Q
j
* D
j
vl
+ CL
vl

=
m
j 1
Q
j
*D
j
nc
*(1 +
nh
F
1
1
+
nh
F
2
2
)*K
NC


những khoản chi phí khả biến, mặc dù tỷ lệ chiếm không lớn trong tổng chi phí như:
chi phí bảo quản, vận chuyển, thuế, điện thoại ngoài số chi thuê bao, telex…
Trường hợp số lượng chi phí lưu thông (bán hàng) và quản lý quá nhiều,
chiếm tỷ trọng chi lớn thì cần lập riêng dự toán chi phí ngoài sản xuất theo từng chức
năng lưu thông và quản lý.
Đối với doanh nghiệp xây lắp, trong dự toán chi phí bán hàng và quản lý
doanh nghiệp thì chi phí quản lý doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, chi phí bán hàng
chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng chi phí dự toán, bằng 0 (trong trường hợp
doanh nghiệp xây lắp không phát sinh chi phí bán hàng).
SVTH : Cao Thị Mỹ Phú Trang 20

Luận văn tốt nghiệp GVHD : Th.S Nguyễn Thị Lãnh
Căn cứ lập dự toán:
- Kế hoạch lao động tiền lương
- Kế hoạch sử dụng các dịch vụ mua ngoài
- Kế hoạch khấu hao TSCĐ
- Các kế hoạch hoạt động liên quan khác.
Để lập dự toán chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp, ta cần phải xây
dựng các định mức chi phí. Có hai phương pháp cơ bản được sử dụng để xây dựng
định mức chi phí:
- Phương pháp thống kê kinh nghiệm: phương pháp này thường được áp dụng
ở những doanh nghiệp có quy mô sản xuất tương đối ổn định. Để xây dựng các định
mức chi phí, người ta tiến hành phân tích chi phí theo cách ứng xử của chúng, qua đó
tiến hành dự báo chi phí hoặc căn cứ tình hình thực hiện trong quá khứ để tiến hành
định mức lượng chi phí (nguyên vật liệu tiêu hao, số giờ làm việc…). Căn cứ vào
tình hình thị trường, các quyết định tồn kho để xác định mức giá.
- Phương pháp phân tích kinh tế- kỹ thuật: để thực hiện phương pháp này, kế
toán viên phải phối hợp với các nhân viên kỹ thuật phân tích công suất thiết kế của
máy móc thiết bị, phân tích quy trình công nghệ, nghiên cứu, phân tích hành vi sản
xuất… để xác định các định mức chi phí.

1. Lương nhân viên
2. Phụ cấp
3. Khấu hao TSCĐ
4. Chi phí thuê văn phòng
…………………………….
Tổng cộng
IV. BÁO CÁO CHI PHÍ:
1. Khái niệm:
Báo cáo chi phí là kết quả đầu ra của công tác kế toán chi phí, bao gồm các
báo cáo phản ánh về tình hình thực hiện các khoản mục chi phí phát sinh trong kỳ
nhằm cung cấp các thông tin về chi phí theo yêu cầu của quản lý.
2. Mục đích, cơ sở và phương pháp lập báo cáo chi phí:
2.1. Báo cáo chi phí sản xuất:
- Mục đích: Cung cấp cho nhà quản trị những thông tin về chi phí sản xuất
theo từng đối tượng tập hợp chi phí (hoạt động sản xuất, dự án, từng phân xưởng, tổ,
đội, rừng sản phẩm…) và theo từng khoản mục (hoặc yếu tố) chi phí.
- Cơ sở lập: Sổ chi tiết và sổ tổng hợp chi phí sản xuất trong kỳ theo từng đối
tượng tập hợp chi phí.
- Phương pháp lập : Căn cứ vào sổ chi tiết và sổ tổng hợp chi phí, tiến hành
liệt kê các khoản mục (yếu tố) chi phí theo từng đối tượng tập hợp chi phí, mỗi đối
tượng được theo dõi trên cùng một dòng.
2.2. Báo cáo chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp:
- Mục đích: Giúp nhà quản trị kiểm tra, đánh giá tình hình sử dụng chi phí bán
hàng và quản lý doanh nghiệp tại một kỳ kế toán
- Cơ sở lập: Sổ chi tiết và sổ tổng hợp chi phí bán hàng và quản lý doanh
nghiệp theo từng đối tượng tập hợp chi phí.
- Phương pháp lập: Căn cứ vào dự toán chi phí bán hàng và quản lý doanh
nghiệp tiến hành liệt kê các khoản mục (yếu tố) chi phí bán hàng và quản lý doanh
nghiệp theo từng đối tượng tập hợp chi phí.
SVTH : Cao Thị Mỹ Phú Trang 22

Từ ngày…đến ngày…
Bộ phận:…………….
Yếu tố chi phí Số tiền
1. Lương nhân viên
2. Phụ cấp
3. Khấu hao TSCĐ
4. Chi phí dịch vụ mua ngoài
5. Bưu phí
6. Quảng cáo
7. Văn phòng phẩm
8. Chi phí thuê văn phòng
9. Chi phí khác bằng tiền
10. Phân bổ BHXH, BHYT, KPCĐ
……………………………………..
SVTH : Cao Thị Mỹ Phú Trang 23

Luận văn tốt nghiệp GVHD : Th.S Nguyễn Thị Lãnh
Tổng cộng:
PHẦN II
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN TƯ VẤN , ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG
COSEVCO
A.GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN, ĐẦU TƯ VÀ
XÂY DỰNG COSEVCO
I. Quá trình hình thành và phát triển của công ty:
1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty:
Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng là thành viên của Tổng công ty
xây dựng Miền Trung. Trụ sở công ty đóng tại 517 Trần Cao vân, Thành Phố Đà
Nẵng.
Năm 1987, Công ty là một phòng thiết kế của công ty xây dựng số 7, sau đó


Luận văn tốt nghiệp GVHD : Th.S Nguyễn Thị Lãnh
- Lập dự án hồ sơ mời thầu, tư vấn đấu thầu, hợp đồng kinh tế và thiết kế, mua
sắm vật tư thiết bị xây lắp các công trình.
- Thiết kế, lập tổng dự toán các công trình xây dựng.
- Thí nghiệm và kiểm định các chỉ tiêu kỹ thuật và vật liệu xây dựng, bê tông
kết cấu thép, hàn.
- Quản lý dự án, thẩm tra các dự án đầu tư xây dựng, giám sát kỹ thuật xây
dựng, nghiệm thu các dịch vụ tư vấn khác.
b. Về xây lắp:
- Thi công xây lắp các công trình xây dân dụng, công nghiệp, giao thông thuỷ
lợi, thuỷ điện nhỏ, đường dây và trạm biến áp đến 35KW.
- Nạo vét bốc đắp mặt bằng công trình, đào đắp nền móng công trình
- Lắp đặt các thiết bị cơ điện nước, gia công lắp đặt kết cấu kim loại cấu kiện
bê tông đúc sẵn.
- Hoàn thiện xây dựng và trang trí nội thất và tạo kiến trúc cảnh quan công
trình.
II. Đặc điểm và tổ chức sản xuất kinh doanh:
1. Đặc điểm:
Sản phẩm của công ty là những công trình xây dựng dân dụng, đây là những
công trình có quy mô lớn, cấu tạo phức tạp mang tính đơn chiếc, riêng lẻ, thời gian
sản xuất lâu dài và do đó việc tổ chức và hạch toán có tính khác biệt so với các ngành
khác, sản phẩm làm ra mang tính đặc thù của nó, tính chất hàng hoá không thể hiện
rõ vì người mua bán đã định trước. Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng là một
doanh nghiệp có mạng lưới kinh doanh khá rộng, được tổ chức kinh doanh theo kiểu
quan hệ trực tuyến, đứng đầu là công ty, bên dưới là xí nghiệp trực thuộc gồm:
- Hai xí nghiệp thiết kế đóng tàu tại Đà Nẵng.
- Một trung tâm thí nghiệm ứng dụng kỹ thuật xây dựng tại Đà Nẵng.
- Hai xí nghiệp tư vấn và xây dựng thực nghiệm số 1,2 đóng tại Quảng Bình
và Đà Nẵng.

Nhánh
Xây
dựng
Q.Ngãi

nghiệp
TV thực
nghiệm
số 2
Trung
tâm
TN và
Ư ĐK
TX
Đội XD
Và trang
Trí nội,
ngoại thất
số 1
Đội XD
Và trang
trí nội,
ngoại thất
số 2
Đội XD
Và trang
trí nội,
ngoại thất
số 3
Đội XD


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status