LUẬN VĂN: Giải pháp đổi mới hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Quảng Nam potx - Pdf 15


LUẬN VĂN: Giải pháp đổi mới hoạt động của
Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã
hội tỉnh Quảng Nam

Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo và Việc làm là một trong những vấn đề xã hội bức xúc mang tính toàn
cầu. Giải quyết đói nghèo và việc làm ngày nay không còn là công việc riêng của từng

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Liên quan đến đề tài đã có một số công trình nghiên cứu đã được công bố như:
Hà Thị Hạnh, "Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của Ngân
hàng chính sách xã hội", Luận án tiến sĩ Kinh tế, Hà Nội, 2003.
Võ Văn Lâm, "Đổi mới hoạt động tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp nông thôn trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam", Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Hà Nội, 1999.
Võ Văn Lâm, "Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nông
nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam trong nền kinh tế thị trường", Luận án tiến sĩ Kinh tế,
Hà Nội, 2003.
Nguyễn Thị Liễu, "Giải pháp tín dụng ngân hàng đối với hộ nghèo của Ngân hàng chính
sách xã hội Việt Nam", Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Hà Nội, 2006.
Huỳnh Ngọc Thành, "Một số phương hướng và giải pháp đổi mới hoạt động của Ngân
hàng phục vụ người nghèo Đà Nẵng", Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Hà Nội, 2000.
Các công trình trên đã tiếp cận và giải quyết nhiều nội dung về mô hình tổ chức, cơ
chế hoạt động, chất lượng tín dụng của NHCSXH, và hoạt động tín dụng trên địa bàn
Quảng Nam.Tuy nhiên trên địa bàn Quảng Nam và đối với chi nhánh NHCSXH tỉnh
Quảng Nam chưa có công trình nào nghiên cứu về đề tài này.
Để thực hiện đề tài, tác giả có kế thừa những ý tưởng về cơ sở lý luận và một số nội
dung liên quan để phục vụ cho quá trình khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp của đề
tài. Tác giả cũng xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả. Các số liệu
kết quả nêu trong đề tài này là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích

Góp phần làm rõ cơ sở lý luận, khảo sát phân tích thực trạng, đề xuất các giải pháp
nhằm đổi mới hoạt động của Chi nhánh NHCSXH Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu luận giải những căn cứ về sự ra đời và hoạt động của NHCSXH,
những vấn đề chung của chính sách tín dụng ưu đãi và quan điểm của Nhà nước ta về
chính sách tín dụng ưu đãi.
Chương 1
Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động
của Ngân hàng chính sách xã hội

1.1 Ngân hàng chính sách xã hội trong hệ thống ngân hàng Nhà nước
1.1.1 Hệ thống Ngân hàng ở nước ta hiện nay
ở nước ta hiện nay, hệ thống Ngân hàng gồm có Ngân hàng nhà nước, các tổ
chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác.
* Ngân hàng nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng nhà nước) là cơ quan
của Chính Phủ và là Ngân hàng Trung ương của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam.
- Ngân hàng nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt
động ngân hàng; là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và
ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ.
- Hoạt động của Ngân hàng nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần
bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát
triển kinh tế-xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Ngân hàng nhà nước là một pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà
nước; có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội.
* Các tổ chức tín dụng
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật và các
quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng.
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt
động, các loại hình ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân

tượng này.
Như vậy, các khoản tín dụng chính sách là các khoản cho vay chỉ định để hổ trợ
các chính sách kinh tế và ngành công nghiệp của Chính phủ. Đây là việc cho vay phi

thương mại đối với các hoạt động bán tài chính mà không đáp ứng các tiêu chí thương
mại nhưng lại có tác động xã hội và chính trị quan trọng trong từng thời kỳ của mỗi
quốc gia. Các Ngân hàng được thiết lập để chuyên thực hiện tín dụng chính sách của
Chính phủ được gọi là loại hình Ngân hàng Chính sách.
Ngân hàng Chính sách có 2 loại:
- Ngân hàng Chính sách phục vụ các chính sách phát triển còn gọi là Ngân hàng
phát triển
- Ngân hàng Chính sách phục vụ các chính sách xã hội còn gọi là Ngân hàng
Chính sách xã hội.
Đối với nước ta Nhà nước thành lập các Ngân hàng Chính sách xã hội hoạt động
không vì mục đích lợi nhuận để phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách
khác; phục vụ miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội
khó khăn; phục vụ nông nghiệp, nông thôn và nông dân nhằm thực hiện các chính sách
kinh tế - xã hội của Nhà nước. Chính phủ quy định chính sách tín dụng ưu đãi về vốn,
lãi suất, điều kiện, thời hạnvay vốn.
1.1.3. Quá trình hình thành Ngân hàng Chính sách xã hội ở nước ta
1.1.3.1. Giai đoạn hình thành Ngân hàng phục vụ người nghèo
Đầu thập niên 1990 thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế Việt Nam từ
nền kinh tế chỉ có 2 thành phần: Quốc doanh và tập thể đã chuyển sang nền kinh tế
nhiều thành phần, các thành phần kinh tế đều bình đẳng tự chủ trong sản xuất kinh
doanh cùng tiến đến mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh.
Kết quả giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã khởi sắc,
từng bước kiềm chế được lạm phát, mức tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước. Đời
sống kinh tế, văn hoá và tinh thần của người dân được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên
theo quy luật phát triển không đồng đều trong xã hội, một số doanh nghiệp và bộ phận

tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 525/ TTg thành lập Ngân hàng phục vụ
người nghèo.

Ngân hàng phục vụ người nghèo (NHNg) chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1
tháng 1 năm 1996 với số vốn điều lệ ban đầu là 500 tỷ đồng, bộ máy quản lý điều hành
gọn nhẹ. Việc cho vay uỷ thác hoàn toàn qua hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam.
Phương thức quản lý, cho vay uỷ thác bước đầu đã mang lại hiệu quả thiết thực, Nhà
nước tiết kiệm được chi phí quản lý do tận dụng được mạng lưới, con người, cơ sở vật
chất kỹ thuật sẵn có của NHNo & PTNT, đội ngũ cán bộ chuyên trách và kiêm nhiệm
cho NHNg được NHNo & PTNT trả lương. Toàn bộ nguồn vốn của NHNg đều tập
trung cho vay hộ nghèo, vùng nghèo, vùng đặc biệt khó khăn. Từ nguồn vốn ban đầu
nhận bàn giao từ quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo là 518 tỷ đồng, sau 7 năm hoạt động
1996-2002 “ tổng nguồn vốn của NHNg đã lên tới 7.083 tỷ đồng, hơn 2 triệu hộ nghèo
được vay vốn để phát triển sản xuất với tổng dư nợ 5.700 tỷ đồng vốn vay đã giúp cho
hàng triệu hộ vươn lên thoát nghèo. NHNg thực sự trở thành địa chỉ tin cậy của người
nghèo thiếu vốn sản xuất, là công cụ điều hành hữu hiệu của chính quyền các cấp từ
Trung ương đến địa phương, là người bạn đồng hành của các tổ chức chính trị - xã hội
trên khắp mọi miền đất nước.
Có thể nói thành công của công tác tín dụng Ngân hàng phục vụ hộ nghèo cũng
là thành công của chủ trương đường lối chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước trên
mặt trận chống đói nghèo. Thành tựu xoá đói giảm nghèo của Việt Nam đã được các tổ
chức quốc tế và các bạn bè trên thế giới công nhận.
1.1.3.2. Sự ra đời của Ngân hàng Chính sách xã hội
Cuối năm 2002, trước yêu cầu của tiến trình hội nhập, đòi hỏi phải cơ cấu lại
hệ thống Ngân hàng, từng bước tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương
mại để các ngân hàng thương mại rãnh tay vươn ra nắm giữ thị trường chuẩn bị cho
tiến trình hội nhập thương mại khu vực và quốc tế.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX về chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 2001-2010 đã nêu rõ “ Cơ cấu lại hệ thống Ngân hàng. Phân biệt chức năng của
Ngân hàng nhà nước và Ngân hàng thương mại Nhà nước, chức năng cho vay của Ngân

tốt hơn với mục tiêu hỗ trợ tài chính đối với người nghèo và các đối tượng chính sách

khác, tạo cho họ có điều kiện tự cải thiện cuộc sống, từng bước xây dựng nước Việt
Nam giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
1.1.4 Đặc thù của Ngân hàng Chính sách xã hội
1.1.4 1 Đặc thù về mô hình tổ chức
Sơ đồ 1.1: tổ chức hệ thống ngân hàng chính sách xã hội

Ghi chú: Quan hệ chỉ đạo

Loại hình NHCSXH chủ yếu là Ngân hàng thuộc sỡ hữu Nhà nước, sử dụng một phần
nguồn tài chính của Nhà nước tham gia hỗ trợ cho các ngành, các khu vực. Vì vậy, mô hình
quản lý của loại hình ngân hàng này phải có sự hiện diện của một số cơ quan quản lý Nhà
nước có liên quan để tham gia quản trị ngân hàng, hoạch định các chính sách tạo lập nguồn
vốn, chính sách đầu tư với các khu vực, các đối tượng trong từng thời kỳ cho NHCSXH.
* Bộ máy quản trị NHCSXH
Tại cấp Trung ương: Có Hội đồng quản trị gồm 12 thành viên, 9 thành viên kiêm
nhiệm và 3 thành viên chuyên trách. 9 thành viên kiêm nhiệm gồm Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước, Bộ trưởng Bộ tài chính, Bộ KH & ĐT, Bộ LĐTB & XH, Bộ NN & PTNT, Uỷ ban dân
tộc, Văn phòng Chính phủ, lãnh đạo Hội nông dân, Hội phụ nữ; 3 thành viên chuyên trách
gồm: 1 thành viên giữ chức vụ phó chủ tịch thường trực, 1 uỷ viên giữ chức Tổng giám đốc, 1
thành viên giữ chức Trưởng ban kiểm soát.
Nhiệm kỳ của thành viên HĐQT NHCSXH là 5 năm và có thể bổ nhiệm lại.
Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm Chủ tịch, Phó chủ tịch, các uỷ viên
HĐQT và Trưởng ban kiểm soát
Tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; quận, huyện, thị xã trực thuộc tỉnh được
thành lập Ban đại diện HĐQT do Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch ủy Ban nhân dân cùng cấp làm
trưởng ban. Thành phần và số lượng Ban đại diện HĐQT như trung ương nhưng không có cơ
cấu phó ban thường trực. Tuỳ tình hình ở từng địa phương do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng
cấp quyết định cơ cấu thành phần nhân sự và quyết định thành lập Ban đại diện HĐQT.
Giúp việc Ban đại diện HĐQT có Ban chuyên gia tư vấn gồm chuyên viên các ngành
là thành viên HĐQT do các ngành cử và một số chuyên gia do Chủ tịch HĐQT ra quyết định
chấp thuận. Giúp việc Ban đại diện HĐQT các cấp do Giám đốc Chi nhánh NHCSXH cùng
cấp, giám đốc phòng giao dịch đảm nhiệm.
Tại cấp cơ sở xã, phường, cùng với cấp tổ chức chính trị - xã hội thiết lập các tổ vay
vốn gồm các đối tượng chính sách có nhu cầu vay vốn ở các thôn bản tự nguyện hoạt động

theo thoả ước tập thể, có trách nhiệm trong việc sử dụng vốn và đây thực sự là mạng lưới chân
rết cho mạng lưới hoạt động NHCSXH.
* Bộ máy điều hành NHCSXH

tàn tật, cho vay để tạo việc làm.
- Đối với các tổ chức kinh tế, hộ sản suất kinh doanh thuộc những khu vực kinh tế
kém phát triển vùng sâu, vùng xa: cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản suất kinh doanh,
dịch vụ, đầu tư và phát triển đời sống.
- Đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn: cho vay trang trải các chi phí
học tập.
* Về đối tượng khách hàng:
Đối tượng khách hàng của NHCSXH có thể là: hộ gia đình nghèo, hộ sản suất,
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vùng nghèo và các đối tượng chính sách khác. Phần lớn khách
hàng của NHCSXH rất ít có điều kiện để tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ các NHTM.
Về nguồn vốn: Trong khi hoạt động đặc trưng của các Ngân hàng thương mại là “đi
vay để cho vay”, hay nói cách khác là đi huy động các nguồn vốn nhàn rỗi để cho vay đáp
ứng nhu cầu vốn cho sự phát triển kinh tế thì nguồn vốn của NHCSXH lại được tạo lập
chủ yếu từ Ngân sách Nhà nước như cấp vốn điều lệ; nguồn vốn ODA dành cho chương
trình tín dụng chính sách của Chính phủ; nguồn vốn của Chính phủ vay; nguồn vốn
NHCSXH huy động trên thị trường theo kế hoạch cấp bù từ ngân sách Nhà nước.
* Về sử dụng vốn:
Do đối tượng khách hàng chủ yếu là hộ nghèo và các đối tượng chính sách nên việc
sử dụng vốn của Ngân hàng cũng có những đặc thù riêng như:
- Món cho vay nhỏ, chi phí quản lý cao.
- Tính rủi ro cao, khả năng sinh lời từ vốn thấp.
- Vốn vay được ưu đãi về thủ tục, về lãi suất, thời hạn vay vốn.
- Việc giải ngân thường được uỷ thác qua các tổ chức trung gian như: các tổ chức
tín dụng, các tổ chức chính trị - xã hội.
1.2. Ngân hàng chính sách xã hội với mục tiêu xoá đói giảm nghèo
1.2.1. Phạm vi, nội dung hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội

* Nguồn vốn
- Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước:
+ Vốn điều lệ;

tháng 4 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ);
+ Các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài;
+ Các tổ chức kinh tế và hộ sản xuất, kinh doanh thuộc hải đảo; thuộc khu vực II,
III miền núi và thuộc Chương trình phát triển kinh tế - xã hội, các xã đặc biệt khó khăn
miền núi, vùng sâu, vùng xa (sau đây gọi là Chương trình 135);
+ Các đối tượng khác khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
+ Các đối tượng cho vay được quy định ở trên gọi chung là Người vay.
- Vốn cho vay được sử dụng vào các việc sau:
+ Đối với hộ nghèo; hộ sản suất kinh doanh thuộc hải đảo, thuộc khu vực II, III
miền núi và các xã thuộc Chương trình 135, sử dụng vốn vay để:
 Mua sắm vật tư, thiết bị, giống cây trồng, vật nuôi, thanh toán các dịch vụ phục
vụ sản suất, kinh doanh;
 Góp vốn thực hiện các dự án hợp tác sản xuất, kinh doanh được cấp có thẩm
quyền phê duyệt;
 Giải quyết một phần nhu cầu thiết yếu về: nhà ở, điện thắp sáng, nước sạch, học
tập.
+ Đối với các tổ chức kinh tế thuộc hải đảo, thuộc khu vực II, III miền núi và các xã
thuộc Chương trình 135, sử dụng vốn vay để chi phí cho sản suất, kinh doanh theo chương
trình, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
+ Đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, sử dụng vốn vay để mua sắm phương
tiện học tập và các chi phí khác phục vụ cho việc học tập tại trường.
+ Người vay là đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài, sử dụng
vốn vay để trả phí đào tạo, phí dịch vụ, tiền đặt cọc, vé may bay.
+ Người vay là các đối tượng khác thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính
phủ.
+ Vốn nhận uỷ thác cho vay ưu đãi được sử dụng theo hợp đồng uỷ thác.

- Loại cho vay
+ Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng.
+ Cho vay trung dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến

tỉnh, huyện, xã thì giám đốc Chi nhánh NHCSXH cấp tỉnh, cấp huyện, phòng giao dịch
được Tổng giám đốc uỷ quyền ký hợp đồng uỷ thác.
- Quy chế về uỷ thác cho vay, Quy chế hoạt động và trả thù lao cho Tổ tiết kiệm và
vay vốn thực hiện theo quy định của Hội đồng quản trị trong phạm vi mức phí quản lý của
NHCSXH được Thủ tướng Chính phủ quyết định.
- Lãi suất cho vay
+ Lãi suất cho vay ưu đãi do thủ tướng Chính phủ quyết định cho vay từng thời kỳ
theo đề nghị của Hội đồng quản trị NHCSXH, thống nhất một mức trong phạm vi cả nước.
+ Lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất khi cho vay.
- Rủi ro tín dụng và xử lý rủi ro:
+ Ngân hàng Chính sách xã hội được trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng vào chi
phí nghiệp vụ để bù đắp những khoản rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan thuộc
diện đơn lẻ, cục bộ. Mức trích được tính bằng 0,02% trên số dư nợ bình quân năm. Trường
hợp quỹ dự phòng rủi ro tín dụng không sử dụng hết trong năm, được chuyển sang năm
sau. Trường hợp quỹ dự phòng rủi ro không đủ bù đắp số rủi ro trong năm, Chủ tịch Hội
đồng Quản trị trình Bộ trưởng Bộ tài chính giải quyết.
+ Người vay không trả được nợ do nguyên nhân khách quan gây ra như: thiên tai,
hoả hoạn, dịch bệnh, chính sách Nhà nước thay đổi, biến động giá cả thị trường được giải
quyết như sau:
 Trường hợp xảy ra trên diện rộng, thực hiện theo quyết định Thủ tưởng Chính
phủ;
 Trường hợp xảy ra ở diện đơn lẻ, cục bộ được cho gia hạn nợ hoặc được xử lý từ
quỹ dự phòng rủi ro của Ngân hàng Chính sách xã hội do Hội đồng quản trị quyết định.

+ Những thiệt hại do nguyên nhân chủ quan của Người vay, của tổ chức nhận uỷ
thác, của cán bộ viên chức Ngân hàng Chính sách xã hội gây ra thì các đối tượng này phải
bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật.
- Mức cho vay
Mức cho vay đối với một lần vay phù hợp với từng loại đối tượng được vay vốn tín
dụng ưu đãi do Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội quyết định và công bố trên

- Các dịch vụ trên được thực hiện từng bước phù hợp với điều kiện, khả năng và
yêu cầu thực tế.
1.2.2. Vai trò của Ngân hàng chính sách xã hội trong xói đói giảm nghèo
Ngân hàng chính sách xã hội đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế, xã hội,
góp phần thực hiện mục tiêu của Chính phủ vì sự phát triển cân đối của nền kinh tế và vì
một xã hội ổn định, dân giàu, nước mạnh thể hiện ở các nội dung sau:
Thứ nhất: tập trung được mọi nguồn vốn ưu đãi của nhà nước về một đầu mối là
NHCSXH, là địa chỉ cần thiết để các tổ chức, cá nhân thể hiện mối quan tâm đối với người
nghèo thông qua việc gửi vốn có lãi hoặc không lãi để cho người nghèo vay.
Đồng thời, thông qua hoạt động huy động vốn để cho người nghèo vay, được triển
khai rộng rãi trong cộng đồng dân cư và những hộ nghèo thông qua tổ nhóm tiết kiệm đã
khơi dậy tinh thần trách nhiệm đối với sự nghiệp xoá đói giảm nghèo, phát huy nội lực bản
thân, nội lực từng vùng và khu vực, để thực hiện thành công công cuộc xoá đói giảm
nghèo. Có thể số lượng huy động vốn trong cộng đồng người nghèo không nhiều, song qua
đó cũng hình thành dần ý thức tích luỹ đầu tư, tạo thói quen tiết kiệm và gửi tiền vào Ngân
hàng, đồng thời làm quen với việc sử dụng các dịch vụ Ngân hàng như chuyển tiền, nhận
tiền, gửi tiền [18, tr.23].
Thứ hai: với nguyên tắc cho vay có hoàn trả cả gốc và lãi đã khắc phục tư tưởng
tự ti, ỷ lại khi nhận vốn cấp phát; tự nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh để hoà
nhập kinh tế thị trường. Đương nhiên điều này không có nghĩa là không cần tới phương
thức cấp phát. Nhà nước cần phải có các giải pháp đầu tư cấp phát các công trình cơ sở
hạ tầng, phúc lợi công cộng, tạo điều kiện cho các đối tượng chính sách xã hội tiếp cận
với nền sản xuất hàng hoá.

Thứ ba: Cung cấp vốn tín dụng đối với người nghèo, góp phần cải thiện thị trường
tài chính cộng đồng, nơi có hộ nghèo sinh sống: vốn tín dụng cho người nghèo đã góp
phần cải thiện tình hình thị trường tài chính khu vực nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa,
vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người, những vùng có nhiều hộ nghèo
sinh sống, hạn chế được nạn cho vay nặng lãi, giảm bớt được tình trạng bán, gán, cầm cố
ruộng đất hoặc tình trạng bán sản phẩm non ở các khu vực nông thôn. Khi có nhu cầu sản

1.3. Kinh nghiệm của một số nước về phát huy tín dụng ngân hàng trong việc
xoá đói giảm nghèo
1.3.1. Kinh nghiệm của một số nước ở Châu á
1.3.1.1. Kinh nghiệm về cung cấp vốn cho hộ nghèo trong xoá đói giảm nghèo ở
Trung Quốc
Theo kết quả khảo sát kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo tại Trung Quốc của đoàn
cán bộ gồm Bộ Lao động thương binh và xã hội, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Ban tổ chức cán
bộ, Văn phòng Chính phủ và cơ quan hợp tác kỹ thuật GTZ (CHLB Đức) thì Trung Quốc
có chính sách ưu đãi đặc biệt trong việc xoá đói giảm nghèo cho các vùng nghèo, cả cấp
trung ương và cấp tỉnh.
Cấp trung ương có chính sách vĩ mô như: đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, chính sách
ưu đãi, chính sách miễn giảm thuế cho từng vùng
Địa phương có chính sách cụ thể phù hợp với tình hình xã hội và khả năng kinh tế
của mỗi tỉnh, như chính sách thuế đối với vùng cây đặc sản, chính sách miễn giảm thuế
cho hộ.
Đối với lĩnh vực cung cấp vốn tại cấp trung ương có hai loại vốn xoá đói giảm
nghèo cho các huyện trọng điểm trong toàn quốc.
- Vốn cấp không hoàn lại: dùng để phát triển cơ sở hạ tầng, gọi là vốn phúc lợi.
- Vốn vay có hoàn trả gồm: vốn cho hộ nghèo vay phát triển sản xuất, chú trọng cho
vay chăn nuôi và vốn phục vụ phát triển cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ, xí nghiệp nhỏ
trong vùng đói, nghèo.
Kinh phí cho xoá đói giảm nghèo là mục chi của Ngân sách Nhà nước trung ương, có
tài khoản riêng. Ngoài nguồn vốn tài chính trung ương cấp, địa phương phải huy động để đầu

tư thêm vốn đối ứng cho xoá đói giảm nghèo ở địa phương khoảng 30-40% so với tổng số vốn
đầu tư của Trung ương.
Mặt khác, Trung Quốc cũng mở rộng hợp tác để tranh thu viện trợ của các tổ chức
quốc tế. Để quản lý nguồn vốn hợp tác quốc tế được tập trung tại Văn phòng xoá đói giảm
nghèo ở các cấp, từ trung ương đến cấp huyện đều có trung tâm quản lý các dự án hợp tác
quốc tế.

họ lựa chọn và quyết định con đường thoát nghèo.
1.3.1.3. Kinh nghiệm cấp tín dụng đối với người nghèo ở Băng-la-dét
Từ khi xuất hiện hình thức cấp tín dụng cho người nghèo vào năm 1976, do
Ngân hàng Grameen thực hiện, những người nghèo ở đây được hưởng một chương
trình trợ giúp có nhiều hiệu quả. Băng-la-đet là một nước có nền kinh tế nông nghiệp,
có hơn 80% trong khoảng 120 triệu dân sinh sống tại các vùng nông thôn, chủ yếu bằng
nghề nông. Tuy nhiên, có hơn 50% số hộ nông dân không có ruộng đất, phần lớn trong
số họ có cuộc sống dưới mức nghèo khổ. Từ khi giáo sư Yumus, thuộc trường Đại học
kinh tế Băng-la-đét, có sáng kiến thực hiện chương trình tín dụng đối với người nghèo
thông qua ngân hàng Grameen đã giúp cho người nghèo có vốn khai thác nhiều ngành
nghề từ đó có thu nhập, ổn định cuộc sống hơn so với trước. Đến năm 1995, Ngân hàng
Grameen đã có hơn 2 triệu thành viên, đặc biệt đa số là thành viên nữ chiếm tỉ lệ 94%,
vốn điều lệ của Ngân hàng Grameen tăng lên đạt gần 4 triệu USD.
Cơ chế hoạt động của Ngân hàng Grameen cho phép bất cứ người nông dân nào
không có đất canh tác, thu nhập dưới 2500 taka/năm (tương đương 100 USD) đều được
vay vốn, không cần phải thế chấp, cầm cố tài sản để đảm bảo nợ vay. Mức tiền vay
thấp nhất là 5000 taka (tương đương 200 USD). Cho vay theo lãi suất thị trường. Hoạt
động của Ngân hàng Grameen rất kiên trì mục tiêu phục vụ và khai thác triệt để những
đặc điểm của người nghèo, khơi dậy tính tích cực từ bản năng vượt nghèo của họ.
Kinh nghiệm thành công từ hoạt động Ngân hàng Grameen đó là: xác định
mục tiêu hoạt động của ngân hàng là vì người nghèo, đặc biệt quan tâm đến tầng lớp
thấp nhất của xã hội, biết khai thác mặt tích cực của người nghèo, khẳng định mục

Trích đoạn Chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hộ Quan điểm về tín dụng đối với hộ nghèo Triển khai và thực hiện tốt các chính sách xã hội nhằm hỗ trợ, thúc đẩy hộ nghèo, vùng nghèo phát triển Củng cố, xây dựng bộ máy tổ chức, cán bộ Giải pháp tăng trưỏng nguồn vốn một cách vững chắc nhằm mở rộng việc cho vay đối với hộ gia đình nghèo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status