Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh An Giang đến năm 2015 - Pdf 26

PHẦN MỞ ĐẦU
Thực hiện xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm nhằm bảo đảm an sinh xã
hội là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế
độ xã hội chủ nghĩa; Ngân hàng Chính sách xã hội ra đời và hoạt động vì mục tiêu đó.
Tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế đã mang lại cho nước ta nhiều thuận lợi,
thời cơ và khó khăn, thách thức . Trước tình hình đó, toàn Đảng, toàn dân phấn đấu
vượt qua khó khăn, thách thức đã đạt nhiều thành tựu quan trọng. Trong thời gian tới,
tình hình chính trị, kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, quá trình
phát triển đất nước phải đối mặt với nhiều khó khăn nhưng công tác giảm nghèo, giải
quyết việc làm luôn là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Vì vậy, hoạt động Ngân hàng Chính sách xã hội phải ổn định lâu dài, phục vụ thiết
thực, hiệu quả mục tiêu giảm nghèo, giải quyết việc làm của quốc gia.
Hiểu được đây là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết nên tôi chọn đề tài nghiên
cứu “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng
Chính sách xã hội tỉnh An Giang đến năm 2015” làm tiểu luận tốt nghiệp lớp Trung
cấp lý luận Chính trị - Hành chính, qua khảo sát thực trạng hoạt động và đưa ra những
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Chính
sách xã hội tỉnh An Giang, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
tỉnh An Giang trong những năm tới.
1
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG.
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về ngân hàng và hoạt động tín dụng:
1.1.1. Khái niệm ngân hàng:
- Ngân hàng là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và
các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các
loại hình ngân hàng bao gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát
triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng hàng hợp tác và các loại ngân hàng khác.
- Ngân hàng chính sách: Là ngân hàng được lập ra để phục vụ một hoặc một số
chính sách của nhà nước. Loại ngân hàng này được tạo vốn dưới hình thức đặc thù để
cho vay ưu đãi hoặc tạo vốn bình thường trên thị trường để cho vay ưu đãi nhưng

giới và trong khu vực.
- Nguyên tắc của tín dụng: Cho vay có hiệu quả là điều kiện và biện pháp hàng
đầu đảm bảo cho ngân hàng duy trì sự tồn tại và phát triển ổn định. Muốn vậy, hoạt
động cho vay của ngân hàng phải lành mạnh và có hiệu quả. Ngân hàng chỉ cho vay
đối với khách hàng đảm bảo được các nguyên tắc sau:
+ Người vay phải sử dụng vốn vay đúng mục đích xin vay.
+ Người vay phải hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn.
1.2. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về hoạt động kinh doanh của ngân
hàng trong Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
1.2.1. Chủ trương của Đảng :
3
1.2.1.1. Đại hội lần thứ XI của Đảng chủ trương:
Chính sách tiền tệ phải chủ động và linh hoạt thúc đẩy tăng trưởng bền vững,
kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền. Hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý
về hoạt động ngân hàng. Mở rộng các hình thức thanh toán qua ngân hàng và thanh
toán không dùng tiền mặt. Điều hành chính sách lãi suất, tỉ giá linh hoạt theo nguyên
tắc thị trường…. Tiếp tục hoàn thiện thể chế về tiền tệ, tín dụng và ngoại hối. Từng
bước mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hội trong nước và cam kết quốc tế;
Phát huy vai trò chủ động điều hành chính sách, quản lý thị trường tiền tệ, tín
dụng, ngoại hối và thanh tra, giám sát của ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm kiểm
soát lạm phát, ổn định vĩ mô và góp phần tăng trưởng kinh tế; tiếp tục cổ phần hoá và
cơ cấu lại các ngân hàng thương mại; áp dụng các thông lệ và chuẩn mực mới phù
hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện Việt Nam để nâng cao năng lực cạnh tranh và
phát triển an toàn, bền vững của các ngân hàng trong nước. Hoàn thiện thể chế bảo
đảm phát triển lành mạnh thị trường chứng khoán, tăng tính minh bạch của thị trường;
chống các giao dịch phi pháp, các hành vi rửa tiền, nhiễu loạn thị trường, làm cho thị
trường này ngày càng đóng vai trò quan trọng trong huy động vốn cho đầu tư phát
triển. Dịch vụ ngân hàng phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong nước và
cam kết quốc tế; …( Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của ĐCS Việt

sách tín dụng của Đảng và Nhà nước nhằm hỗ trợ cho nông dân phát triển và sản xuất
nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ khác ở nông thôn với quy mô nhỏ, nhằm tháo gỡ
5
những khó khăn vướng mắc trong việc cho vay, trả nợ. Chính phủ đã cho phép Ngân
hàng chính sách xã hội cho vay không thực hiện thế chấp quyền sử dụng đất. Mục tiêu
chính là cung ứng vốn đầy đủ cho những hộ nghèo có nhu cầu sản xuất thật sự, có
điều kiện phát triển kinh tế ở nông thôn.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, những năm gần đây ngành ngân
hàng nói chung, Ngân hàng chính sách xã hội nói riêng cũng đã chủ trương đa dạng
các hình thức huy động vốn và đầu tư tín dụng vào các thành phần kinh tế, không chỉ
riêng lĩnh vực nông nghiệp mà còn đầu tư vào các ngành công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, dịch vụ thương mại, xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn, đầu tư phát triển
toàn diện thực hiện chính sách tín dụng nhằm để phục các chính sách an sinh xã hội.
6
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH AN GIANG
TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2012.
2.1. Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh An Giang có ảnh hưởng
đến hoạt động tính dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội của tỉnh.
2.1.1. Đặc điểm về vị trí, địa lý, tự nhiên:
An Giang là vùng đất đầu nguồn sông Cửu Long, vừa có đồng bằng, vừa có đồi
núi, có đường biên giới đất liền dài gần 100 km tiếp giáp với Vương quốc Campuchia,
diện tích tự nhiên là 3.537 km
2
. Tỉnh An Giang có 02 thành phố, 01 thị xã, 08 huyện và
156 xã phường, thị trấn. Tổng dân số của tỉnh là 2,2 triệu người, trong đó dân thành thị
chiếm 30,4% và nông thôn chiếm 69,6%; thế mạnh của tỉnh là sản xuất lúa, gạo, thủy sản
và thương mại biên giới.
2.1.2. Đặc điểm về kinh tế:

để thực hiện tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác;
hoạt động vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế và ổn định xã hội, không
vì mục đích lợi nhuận.
Ngân hàng Chính sách xã hội có bộ máy quản lý và điều hành thống nhất trong
phạm vi cả nước, được Nhà nước đảm bảo khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc
8
bằng 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải
nộp ngân sách Nhà nước.
Quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội là Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị
có các Ban đại diện Hội đồng quản trị ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; quận,
huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Việc cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội được thực hiện theo phương thức
ủy thác cho các tổ chức chính trị - xã hội theo hợp đồng ủy thác hoặc trực tiếp cho vay
đến người vay. Hiện nay đang thực hiện ủy thác cho vay qua 04 tổ chức chính trị - xã hội
như: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên.
Nằm trong hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội, Chi nhánh Ngân hàng Chính
sách xã hội tỉnh An Giang được thành lập theo quyết định số 76/QĐ-HĐQT ngày
14/01/2003 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội và chính
thức đi vào hoạt động ngày 09/5/2003. Từ khi thành lập và hoạt động đến nay Chi
nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh An Giang luôn được sự quan tâm chỉ đạo và
tạo mọi điều kiện thuận lợi của các cấp ủy, chính quyền địa phương.
Tổ chức bộ máy của Chi nhánh gồm: Ban Giám đốc, 05 Phòng nghiệp vụ tại
tỉnh và 10 Phòng giao dịch huyện, thị xã, thành phố.
Tổng số lao động của Chi nhánh là 126 người: Biên chế 113 người, Hợp đồng
khoán gọn trọn gói 13 người, trong đó:
- Về giới tính: có 61 nam, 65 nữ; tuổi đời cao nhất: 53 tuổi, tuổi đời thấp nhất
23 tuổi, tuổi đời bình quân: 38 tuổi.
- Về trình độ (không tính Hợp đồng khoán gọn): Đại học 102 người chiếm
90,26%/tổng số biên chế, Cao đẳng 03 người chiếm 2,65%/tổng số biên chế, Trung
học: 08 người chiếm 7,09%/tổng số biên chế. Cán bộ đúng chuyên ngành: 29 người

cuối năm
2011
Số dư cuối
năm 2012
Tăng giảm
2011/2010
Tăng giảm
2012/2011
I. Chỉ tiêu kế hoạch A 1.315.867
1.544.23
5
1.701.025
+228.368
(+17,35%)
+156.790
(+10,15%)
1. Nguồn vốn cân đối
Trung ương
1.311.350
1.538.45
3
1.688.067
+227.103
(+17,32%)
+149.614
(+9,72%)
2. Nguồn vốn huy động tại
địa phương do TW cấp bù
lãi suất.
4.346 5.782 12.958

(+9,79%)
( nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh An Giang
năm 2010, 2011, 2012)
2.2.1.3.Về đầu tư tín dụng và dư nợ:
* Đầu tư tín dụng:
- Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh An Giang đã cùng Đảng ủy, Ủy ban nhân
dân, Hội đoàn thể các cấp đã triển khai cho vay được 11 chương trình tín dụng, tăng
06 chương trình so với năm thành lập. Đã tổ chức mở được 156 điểm giao dịch
xã/156 xã, phường, thị trấn với 3.757 tổ tiết kiệm và vay vốn nhằm tiết giảm chí phí
giao dịch cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.
- Qua 3 năm cho vay, chi nhánh đã giúp cho 34.389 hộ thoát nghèo; giải quyết
việc làm cho 3.427 lao động; đáp ứng nhu cầu về chi phí học tập cho hơn 15.727 sinh
11
viên; hỗ trợ 20.511 hộ xây dựng công trình vệ sinh môi trường nông thôn; 8.822 hộ
nghèo xây dựng nhà ở theo quyết định 167; cho 7.544 hộ đồng bào dân tộc thiểu số
nghèo vay vốn chuyển đổi nghề theo quyết định 74,
- Tổng doanh số cho vay năm 2012: 343.379 triệu đồng, giảm 16.687 triệu
đồng, tỷ lệ giảm 4,6% so năm 2011.
- Tổng doanh số thu nợ năm 2012: 183.971 triệu đồng, tăng 52.023 triệu đồng,
tỷ lệ tăng 39,4% so năm 2011.
* Dư nợ:
Tổng dư nợ cho vay đến 31/12/2012 là 1.785.334 triệu đồng, tăng 9,8 %
(+159.457 triệu) so năm 2011, tăng 27,73% (+387.581 triệu) so năm 2010. Bình quân
dư nợ mỗi cán bộ viên chức là 14.169 triệu đồng.
Trong đó: dư nợ cho vay hộ nghèo là 421.210 triệu đồng, cho vay học sinh sinh
viên là 600.488 triệu đồng, cho vay giải quyết việc làm là 75.655 triệu đồng, cho vay
xuất khẩu lao động là 40.453 triệu đồng, cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường là
125.594 triệu đồng, cho vay mua nhà trả chậm là 256.239 triệu đồng, cho vay hộ
nghèo về nhà ở là 72.749 triệu đồng, cho vay hộ dân tộc thiểu số nghèo theo quyết
định 74 là 77.536 triệu đồng, cho vay hộ SXKD tại VKK là 96.232 triệu đồng, cho

(-21,82%)
-12.122
(- 9,93%)
1.1.2 Trung hạn 610.927 587.043 466.076
-23.884
(-3,91%)
-120.967
(-20,61%)
1.1.3 Dài hạn 630.811 916.847 1.209 402
+286.045
(+45,34%)
+ 292.546
(+ 31,91%)
1.2 Phân theo loại tiền
1.2.1 Nội tệ 1.397.753 1.625.877 1.785.334
+ 228.124
(+16,32%)
+ 159.457
(+9,8%)
1.2.2 Ngoại tệ - -
1.3 Phân theo thành phần kt
1.3.1 Cho vay DNNN - -
1.3.2 Cho vay DN ngoài QD
1.3.3 Cho vay HTX - - -
1.3.4 Cho vay hộ sản xuất 99.678 106.520 108.019
+ 6.842
(+6,8%)
+1.499
(+1,41%)
1.3.5 Cho vay kinh tế trang trại - - - - -

+ 18.419
(+34,49%)
+7.492
(+10,43%)
1.1 Thu từ HĐTD 53.403 71.822 79.314
+ 18.419
(+34,49%)
+7.492
(+10,43%)
1.2 Thu ngoài tín dụng
II. Tổng chi 36.326 48.821 51.933
+ 12.495
(+34,4%)
+ 3.112
(+6,4%)
III. Lợi nhuận 17.077 23.001 27.381
+ 5.924
(+34,7%)
+ 4.380
(+19,04%)
( nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh An Giang
năm 2012, 2011, 2010)
Qua bảng số 3 cho thấy số liệu kết quả tài chính trên từ 2010 đến năm 2012 cho
ta thấy chênh lệch thu chi của Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh An Giang qua các
năm tăng: năm 2011 tăng 34,7% (+ 5.924 triệu đồng) so năm 2010, năm 2012 tăng
19,04% (+ 4.380 triệu đồng) so năm 2011.
Từ số liệu cho ta thấy thu nhập của ngân hàng chủ yếu là thu từ hoạt động tín
dụng với tỷ lệ thu tối đa khoảng 90% lãi phải thu hàng năm, phần lãi còn lại chưa thu
được chủ yếu tập trung ở những móm nợ khoanh, nợ cho vay xuất khẩu lao động,
những món nợ còn ân hạn chưa thu lãi,…. Thu nhập tăng do hàng năm trung ương

15
2.3.1.Những hạn chế trong hoạt động tín dụng ở Chi nhánh Ngân hàng
Chính sách xã tỉnh An Giang:
2.3.1.1.Về chất lượng tín dụng:
Đến 31/12/2012, tổng dư nợ cho vay của chi nhánh là 1.785.334 triệu đồng, trong đó
tổng nợ quá hạn là 80.303 triệu đồng, chiếm 4,5% trong tổng dư nợ, tăng 23.029 triệu đồng
đồng so với năm 2011 và chiếm tỷ trọng 21,5% nợ quá hạn toàn khu vực Tây Nam bộ, 7,1%
nợ quá hạn toàn hệ thống.
Diễn biến tổng nợ quá hạn từ khi thành lập đến nay luôn tăng điều này cho thấy
công tác xử lý nợ từ khi nhận bàn giao của chi nhánh chưa bài bản, việc quản lý nợ
chưa được chặt chẽ và hiệu quả, cụ thể qua 03 năm gần nhất như: năm 2010: 37.546
triệu đồng, chiếm tỷ lệ 2,7% dư nợ, tăng 12.361 triệu đồng (+49,08%); năm 2011:
57.274 triệu đồng, chiếm 3,5% dư nợ, tăng 19.728 triệu đồng (+52,5%); năm 2012:
80.303 triệu đồng, chiếm 4,5% dư nợ, tăng 23.029 triệu đồng (+40,21%).
Nợ quá hạn chủ yếu tập trung ở 6/11 chương trình tín dụng đang thực hiện và
chiếm tỷ lệ cao ở chương trình cho vay hộ nghèo, giải quyết việc làm, nước sạch và
vệ sinh môi trường nông thôn, cụ thể:
- Chương trình cho vay hộ nghèo: dư nợ cho vay là 421.210 triệu đồng với
67.428 hộ còn dư nợ; nợ quá hạn là 43.226 triệu đồng, chiếm 10,3% dư nợ. Qua khảo
sát cho thấy đa phần hộ vay chương trình hộ nghèo có nợ quá hạn là những hộ rất khó
khăn trong đời sống, một số hộ đã bỏ đi khỏi địa phương không rõ địa chỉ, một phần
tạm vắng làm ăn xa lâu ngày mới về, một bộ phận có khả năng nhưng chây ỳ.
- Chương trình cho vay giải quyết việc làm: dư nợ cho vay là 75.655 triệu đồng
với 6.099 hộ còn dư nợ; nợ quá hạn là 6.947 triệu đồng, chiếm 9,2% dư nợ. Nợ quá hạn
của những hộ vay chương trình này một phần do làm ăn thua lỗ, phá sản, một phần có
tài sản thế chấp, cam kết trả dần có khả năng thu là 10%.
16
- Chương trình cho vay học sinh sinh viên: dư nợ cho vay là 600.488 triệu đồng với
33.971 hộ còn dư nợ; nợ quá hạn là 8.110 triệu đồng, chiếm 1,35% dư nợ. Nguyên nhân
nợ đến hạn những hộ dân chưa thực hiện do đa phần học sinh sinh viên theo học hệ Cao

việc trả nợ ngân hàng và càng nghèo thêm.
- Nhiều hộ đi vay nóng bên ngoài trả nợ ngân hàng để được vay lại tạo ra nếp quen
xấu của dân là “cho vay thì mới trả nợ”.
2.3.1.4.Về Tổ tiết kiệm và vay vốn:
Đến 31/12/2012 toàn tỉnh có 3.757 Tổ tiết kiệm và vay vốn , trong đó: Tổ hoạt
động tốt: 745 tổ, chiếm tỷ lệ 19,8%/tổng số tổ; Tổ hoạt động khá: 1.743 tổ, chiếm tỷ
lệ 46,4%/tổng số tổ; Tổ hoạt động trung bình: 1.229 tổ, chiếm tỷ lệ 21,6%/tổng số tổ;
Tổ hoạt động yếu kém: 40 tổ, chiếm tỷ lệ 12,2%/tổng số tổ.
Trình độ, nhận thức, trách nhiệm của nhiều Tổ trưởng yếu kém, không đủ khả
năng để làm cầu nối giữa ngân hàng và người vay. Nhiều Tổ tiết kiệm và vay vốn chỉ
có Tổ trưởng quản lý Tổ và trực tiếp thu lãi, đôn đốc trả nợ nên chưa tạo được sức
mạnh trong lãnh đạo Tổ; đa số Tổ trưởng không tổ chức sinh hoạt tổ.
2.3.1.5.Về đoàn thể, chính quyền cấp xã và các Hội nhận ủy thác:
Ngân hàng chưa phối hợp chặt chẽ với Chính quyền cơ sở và các Hội nhận ủy thác,
trong việc tổ chức họp bình xét, tuyên truyền vận động đến kiểm tra, giám sát và xử lý nợ,
đặc biệt trong việc xử lý nợ chây ỳ, lãi đọng. Đồng thời thiếu kiên quyết xử lý đối với Tổ
trưởng khi để xảy ra tồn tại, sai sót, yếu kém, thiếu gương mẫu.
18
Các Hội nhận ủy thác chưa chủ động và thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các công
đoạn nhận ủy thác, đặc biệt là các công đoạn: tuyên truyền, giáo dục ý thức trả nợ, trả lãi
cho người vay; quản lý và đôn đốc hoạt động của Tổ TK&VV; đối chiếu nợ, kiểm tra
giám sát công tác nhận ủy thác của cấp dưới và việc sử dụng vốn vay của người vay.
Sự quan tâm, chỉ đạo của cấy ủy, chính quyền địa phương chưa được xuyên
suốt; cấp ủy, chính quyền cấp xã do có nhiều thay đổi về nhân sự, người mới nhận
nhiệm vụ chưa hiểu sâu về Ngân hàng Chính sách xã hội nên chưa có sự chỉ đạo
quyết liệt trong việc triển khai các chính sách tính dụng ưu đãi của Chính phủ cũng
như công tác chỉ đạo thu hồi nợ chưa được quan tâm đúng mức và thiếu kiên quyết
trong xử lý thu hồi nợ đối với trường hợp người vay chây ỳ. Nhiều xã phê duyệt cho vay
chưa đánh giá được khả năng trả nợ của hộ vay nên chọn đối tượng và thời gian cho vay
không hợp lý như chương trình Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn và hộ sản

nhiệm vụ.
2.2.2.2. Những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong hoạt động tín dụng ở
Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã tỉnh An Giang
- Thực hiện quy trình nghiệp vụ từ cho vay đến xử lý và thu hồi nợ chưa đúng quy
trình, tiềm ẩn rủi ro cao:
+ Bình xét cho vay: chưa quan tâm đúng mức trong việc xác nhận hộ dân đúng
đối tượng được vay vốn, hộ nghèo không có đất sản xuất, không có phương án sử dụng
vốn vay hoặc hộ đã có nợ quá hạn vẫn được xã phê duyệt vay vốn.
20
+ Kiểm tra sử dụng vốn vay: chưa được quan tâm thực hiện thường xuyên nên hộ
vay bỏ địa phương đi đến các nơi khác để mưu sinh nhưng Tổ , Hội đoàn thể chưa nắm kịp
thời khi họ đi gây khó khăn cho đối chiếu nợ và đôn đốc thu hồi nợ.
+ Xử lý nợ chưa kịp thời như: lưu vụ, gia hạn, xử lý nợ bị rủi ro bất khả kháng, không
phân loại nợ để có biện pháp xử lý phù hợp mà xét cho vay cuộn nợ.
+ Công tác giao dịch xã: chưa thực hiện nghiêm túc nên hiệu quả giao dịch chưa cao,
giao ban còn mang tính hình thức, chưa giải quyết được những vấn đề còn tồn tại.
- Sự vào cuộc của các cấp, ngành liên quan trong hoạt động Ngân hàng Chính sách
xã hội theo Nghị định 78/2002/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản thỏa thuận trung
ương chưa đồng bộ, chặt chẽ và quyết liệt.
- Công tác tuyên truyền chính sách và nhận thức của người vay trong thực hiện
chính sách tín dụng ưu đãi còn thấp. Một số bộ phận hộ vay là người dân tộc Khmer
nhận thức vốn vay là vốn của Nhà nước cho không dẫn đến tâm lý trông chờ, ỷ lại,
thiếu ý thức trả nợ.
- Năng lực cán bộ quản lý, điều hành và tham mưu còn yếu và bất cập: cán bộ
thiếu kinh nghiệm thực tiễn, non trẻ về tay nghề thiếu linh hoạt và chủ động điều hành
nên hiệu quả công việc chưa đạt yêu cầu; hạn chế về giao tiếp nên chưa gắn kết được
Tổ, Hội, chính quyền cấp xã vào cuộc với ngân hàng một cách quyết liệt. Một số cán
bộ tín dụng của Phòng giao dịch thiếu sâu sát cơ sở, còn tư tưởng khoán trắng cho Hội
và Tổ tiết kiệm và vay vốn, thiếu phối hợp chặt chẽ với Hội để làm tốt công tác tham
mưu, tranh thủ sự quan tâm, ủng hộ của cấp Ủy, Uỷ ban nhân dân xã giải quyết những

- chính quyền địa phương và cán bộ Ban quản lý Tổ tiết kiệm và vay vốn.
3.1.2. Chỉ tiêu cụ thể:
Phấn đấu đến hết năm 2015 đạt các chỉ tiêu cụ thể sau:
- Nợ quá hạn: nợ quá hạn giảm dần từng năm và đến năm 2015 đạt dưới 2%.
- Lãi tồn đọng: bình quân 1 năm giảm từ 20%-30% số lãi tồn đọng và đến cuối
năm 2015 số lãi tồn đọng còn 30% so với lãi tồn của năm 2012.
- Tổ tiết kiệm và vay vốn: được xếp loại tốt trên 60% và không có Tổ yếu kém.
23
3.2. Những giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ở Chi nhánh
Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh An Giang từ nay đến năm 2015.
3.2.1. Giải pháp về thực hiện quy trình cho vay:
- Hộ vay vốn phải được bình xét tại cuộc họp Tổ và có sự giám sát ngay từ khâu
bình xét này của Hội đoàn thể cấp xã hoặc Trưởng ấp.
- Hội đoàn thể hướng dẫn tổ chức họp tổ để kết nạp thành viên vào tổ tiết kiệm
và vay vốn, bình xét công khai các hộ có nhu cầu và đủ điều kiện vay vốn. Hộ vay
phải có phương án sử dụng vốn vay rõ ràng, có khả năng quản lý vốn vay và thực sự
dùng vốn cho mục đích sản xuất kinh doanh cụ thể đảm bảo có thu nhập qua sử dụng
vốn vay. Cùng Tổ tiết kiệm và vay vốn chứng kiến việc giải ngân, thu nợ, thu lãi của
người vay tại điểm giao dịch; phối hợp Ban quản lý tổ kiểm tra, giám sát quá trình sử
dụng vốn, đôn đốc người vay trả nợ, lãi theo quy định.
- Tổ tiết kiệm và vay vốn: tổ chức hoạt động theo Quyết định 783/QĐ-HĐQT,
bình xét đề nghị cho vay tại tổ, đúng đối tượng thụ hưởng chính sách tín dụng ưu đãi
và các thành viên trong tổ cùng chịu trách nhiệm liên đới từ khi người vay nhận tiền
vay đến khi trả hết nợ, lãi. Ban quản lý tổ phải là những người thực sự có tâm huyết
và trách nhiệm trước tổ, công tâm và minh bạch trong quá trình bình xét cho vay.
- Cán bộ Ngân hàng Chính sách xã hội phải thể hiện đầy đủ trách nhiệm trong
hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ, phát vay, phối hợp Hội đoàn thể thực hiện nghiêm nhiệm vụ,
chức trách theo quy định, đồng thời chịu trách nhiệm cả về vật chất nếu để xảy ra sai sót.
3.2.2.Giải pháp rà soát, phân tích xử lý bằng nghiệp vụ những tồn tại:
- Tổ chức rà soát, đối chiếu nợ vay đến từng khách hàng vay vốn; dựa trên kết

binh xã hội, tư pháp, công an, Trưởng ấp, cán bộ tín dụng Phòng giao dịch …
25

Trích đoạn Đối với Uỷ ban nhân dân tỉnh:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status