LUẬN VĂN: Quản lý tài chính ở Đại học Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pot - Pdf 15


LUẬN VĂN: Quản lý tài chính ở Đại học Đà
Nẵng - Thực trạng và giải pháp
hoàn thiện
mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ. Trình
độ dân trí và tiềm lực khoa học - công nghệ đã trở thành nhân tố quyết định sức mạnh và
vị thế của mỗi quốc gia. Trên thế giới giáo dục và đào tạo được coi là nhân tố quyết định

vực miền Trung nói riêng. Có thể nêu một số công trình tiêu biểu sau đây:
- Ngân hàng Thế giới, nghiên cứu tài chính cho giáo dục Việt Nam, Hà Nội,
(1996)
- Nguyễn Duy Bắc (2002), “Phát triển giáo dục và đào tạo theo tinh thần xã hội
hoá”, Tạp chí lý luận Chính trị.
- Đỗ Minh Cương - Nguyễn Thị Đoan (1999), Phát triển nguồn nhân lực cho giáo
dục đại học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Nguyễn Công Nghiệp (1996), Xây dựng quy trình lập kế hoạch và cơ chế điều
hành ngân sách giáo dục - đào tạo, Bộ Tài chính.
- Trần Thị Thu Hà (1993), Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách hệ
thống giáo dục Quốc dân, Luận án Phó tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà
Nội.
- Trần Xuân Hải (2000), Giải pháp vốn đầu tư phát triển sự nghiệp đào tạo trong
giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân Hà Nội.
- Lê Phước Minh (2001), “Vấn đề thu chi trong giáo dục Đại học và một số ý kiến
về tạo nguồn”, Tạp chí Giáo dục, (7).
- Trần Văn Phong (2001), Nguồn tài chính và quản lý tài chính ở các trường Đại
học công lập trong giai đoạn hiện nay, Luận án Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh.
- Phạm Văn Ngọc (2001), Đổi mới quản lý tài chính đáp ứng mô hình Đại học
quốc gia Hà Nội-Thực trạng và giải pháp, Luận án Thạc sĩ Kinh tế,Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh.

- Nguyễn Duy Tạo (2000), Hoàn thiện quản lý tài chính các trường đào tạo công
lập ở nước ta hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh.
Các công trình trên tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau và đã đề cập đến nhiều
khía cạnh về đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý, nguồn tài chính và quản lý tài chính ở
các trường đào tạo công lập. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách

các kết quả điều tra khảo sát) để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu.
6. Dự kiến đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý tài chính trong đào tạo đại
học.
- Làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề quản lý tài chính trong đào tạo đại
học.
- Nêu ra bức tranh khái quát về quản lý tài chính ở Đại học Đà Nẵng
- Đề xuất những giải pháp quản lý tài chính của Đại học Đà Nẵng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được
chia làm 3 chương, 7 tiết.
Chương 1

một số vấn đề chung về quản lý tài chính
ở trường đại học công lập

1.1. Quản lý tài chính ở trường Đại học công lập
1.1.1. Khái niệm tài chính, nguồn tài chính và quản lý tài chính ở trường Đại
học công lập
1.1.1.1. Khái niệm tài chính
Tài chính không những tượng trưng cho các quan hệ - mặt bản chất bên trong mà
còn tượng trưng cho các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ - Mặt biểu hiện bên ngoài “vỏ
vật chất” của các quan hệ đó. Tài chính phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân
phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị (gọi tắt là các quan hệ phân phối). Là một bộ
phận của các quan hệ phân phối của xã hội.
Bản chất của tài chính - các quan hệ phân phối sản phẩm xã hội - chịu sự ràng
buộc bởi bản chất của quan hệ sản xuất xã hội mà đặc trưng cơ bản là các quan hệ về sở
hữu tư liệu sản xuất.Có nhiều khái niệm về tài chính,nhưng khái niệm về tài chính dưới
đây cho phép chúng ta nhìn nhận đầy đủ,toàn diện về tài chính:
Khái niệm tài chính: Tài chính thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra

kinh tế xã hội của đất nước.
Có thể thấy quan hệ nhân quả giữa đầu tư và phát triển sự nghiệp đào tạo (được
minh hoạ theo Sơ đồ 1.1).

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa đầu tư và phát triển sự nghiệp đào tạo
1.1.1.3. Khái niệm quản lý tài chính
Quản lý tài chính trước hết là quản lý các nguồn tài chính, quản lý các quỹ tiền
tệ, quản lý việc phân phối các nguồn tài chính, quản lý việc tạo lập, phân bổ và sử dụng
các quỹ tiền tệ một cách chặt chẽ, hợp lý và có hiệu quả theo các mục đích đã định.
Đồng thời quản lý tài chính cũng chính là thông qua các hoạt động kể trên để tác động
có hiệu quả nhất tới việc xử lý các mối quan hệ kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình
phân phối các nguồn tài chính, trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các
chủ thể trong xã hội.
Quản lý tài chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng để Nhà nước điều hành
và quản lý nền kinh tế đất nước, hình thành và đảm bảo các cân đối chủ yếu và tỷ lệ phát
triển của nền kinh tế quốc dân.
Quản lý tài chính thực chất là sử dụng và phát huy vai trò của hệ thống tài chính
thông qua Nhà nước. Điều đó được thể hiện thông qua cơ chế hoạt động và vận động của
tài chính phục vụ cho quá trình tái sản xuất xã hội và nâng cao vai trò quản lý vĩ mô của
Nhà nước.
Quản lý tài chính trong trường đại học: Quản lý tài chính trong trường đại học là

các yêu cầu sau:
- Nắm vững được các chế độ, chính sách hiện hành
- Xác định được các khoản thu
- Xác định các nguồn thu
- Thanh quyết toán, báo cáo tài chính
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có nghiệp vụ về tài chính
1.1.3. Vai trò của quản lý tài chính đối với sự phát triển của các trường đại
học công lập
Trong điều kiện cơ chế thị trường, các trường đại học công lập có quyền tự chủ (tự
trị) nhất định về huy động nguồn tài chính và quản lý các nguồn tài chính đó. Tài chính
phục vụ cho giáo dục đào tạo ở các trường đại học công lập hiệu quả chủ yếu từ hai
nguồn: Ngân sách Nhà nước (NSNN) cấp và nguồn ngoài NSNN, trong đó nguồn NSNN
có vai trò quan trọng nhất (minh hoạ trên Sơ đồ 1.2).
Sơ đồ 1.2: Nguồn tài chính cho giáo dục đào tạo
Nguồn tài chính cho giáo dục -
đào t
ạo

Nguồn NSNN Nguồn ngoài NSNN
nay, nguồn đầu tư của NSNN vẫn chiếm ưu thế trong tổng chi cho sự nghiệp đào tạo. Do
hệ thống trường công còn chiếm tỷ lệ lớn, phát triển các trường bán công, dân lập chưa
nhiều, việc xã hội hoá sự nghiệp giáo dục - đào tạo, đa dạng hoá các loại hình trường, lớp
chưa phổ biến, chưa có khả năng thu hút nguồn đầu tư khác cho sự nghiệp đào tạo. Song
NSNN duy trì và phát triển hệ thống giáo dục - đào tạo theo định hướng của Đảng và Nhà
nước là chiến lược chung của Quốc gia.
Đặc biệt chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo được ưu tiên hàng đầu, khoản
chi này tương đối ổn định và chiếm tỷ trọng trong NSNN, gồm
4 nhóm:
Nhóm 1: Chi cho con người: lương, phụ cấp lương, phúc lợi, BHXH, khoản chi
này theo kế hoạch chiếm khoảng 38 - 43% song vẫn chưa đảm bảo cuộc sống cho cán bộ
công nhân viên, vì vậy việc đầu tư cho giáo dục là phải có các chính sách ưu đãi đối với
giáo viên là cần thiết.
Nhóm 2: Chi quản lý hành chính bao gồm: công tác phí, công vụ phí (điện, nước,
xăng xe, hội thảo, hội nghị…) khoản chi này thường chiếm khoảng 22%/Tổng chi thường
xuyên.
Nhóm 3: Chi giảng dạy, học tập: Bao gồm việc mua tài liệu, sách giáo khoa, giáo
trình, đồ dùng học tập, vật liệu, hoá chất thí nghiệm, phấn viết…Đây là khoản chi có ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo, chiếm khoảng 13 -14% / Tổng chi ngân sách.
Nhóm 4: Chi mua sắm, sửa chữa: bao gồm chi cải tạo, sửa chữa, nâng cấp trường
lớp, bàn ghế, trang thiết bị, cơ sở vật chất… phục vụ cho việc giảng dạy và học tập.
Khoản chi này chiếm khoảng 20 -21% / Tổng chi ngân sách.

ở mỗi giai đoạn khác nhau thì mức độ, nội dung, cơ cấu chi NSNN cho sự nghiệp
đào tạo cũng có sự khác nhau.
Thứ hai: đầu tư NSNN cho xây dựng cơ sở vật chất, tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập,
nghiên cứu khoa học từng bước nâng cao chất lượng đào tạo và cũng là cơ sở để khuyến khích
thu hút đầu tư từ các khâu, đơn vị, doanh nghiệp… Thực hiện “Nhà nước và nhân dân cùng
chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo”.
Thứ ba: NSNN từng bước đảm bảo ổn định đời sống đội ngũ cán bộ giảng dạy,

sở vật chất năm báo cáo để có cơ sở dự kiến năm kế hoạch cho trường. Dựa vào số liệu
chi cho con người, quản lý hành chính, mua sắm, sửa chữa, nghiệp vụ chuyên môn, xây
dựng cơ bản, chương trình mục tiêu của năm báo cáo để làm cơ sở dự kiến năm kế
hoạch cho trường.
Điều hành thực hiện: Cấp phát kinh phí và thực hiện các khoản chi tiêu kịp thời
theo kế hoạch, đảm bảo hoạt động thường xuyên của đơn vị, giám sát việc chi tiêu của
các bộ phận, đảm bảo đúng chế độ, đúng mục đích và có hiệu quả.
Quyết toán kinh phí: là khâu cuối cùng của quá trình sử dụng kinh phí, phản ánh
đầy đủ các khoản chi và báo cáo quyết toán ngân sách đúng chế độ báo cáo về biểu mẫu,
thời gian, nội dung và các khoản chi tiêu. Trên cơ sở báo cáo quyết toán để phân tích,
đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi tiêu cho công tác đào tạo và rút ra ưu, nhược
điểm trong quá trình quản lý, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch của năm sau sát hơn.
Kiểm tra: Trong quá trình thực hiện kế hoạch, không phải bao giờ cũng đúng như
dự kiến vì vậy đòi hỏi phải có sự kiểm tra thường xuyên để nắm tình hình quản lý tài
chính, nhằm đảm bảo hiệu quả đầu tư và kịp thời đưa ra những giải pháp điều chỉnh sai
lệch, hạn chế rủi ro.
1.2.1. Mô hình quản lý tài chính ở các trường đại học công lập
Trong bối cảnh thực hiện chiến lược giáo dục 2001 - 2010, việc quản lý tài chính
của các trường đại học công lập đòi hỏi phải đáp ứng được đầy đủ những nội dung, yêu
cầu đặt ra. ở mỗi giai đoạn khác nhau mức độ, nội dung, cơ cấu chi NSNN cho sự nghiệp

đào tạo cũng khác nhau. Ta có thể mô tả hoạt động tài chính của các trường đại học công
lập theo mô hình sau:
Sơ đồ 1.3:Mô hình hoạt động tài chính của các trường đại học công lập
ở Việt Nam

các hệ
Các công trình khoa
h
ọc

Sản phẩm, dịch
Đầu vào
Ngu
ồn lực tài
chínhTrường Đào tạo công
lập
NSNN Trung
ương

Ngân sách đ
ịa
phương

Học phí
Đóng góp c
ộng
đ
ồng

Tài trợ nước ngoài


- Nắm vững các chế độ chính sách hiện hành
- Xác định nhiệm vụ cụ thể đối với công tác quản lý tài chính trong trường đại học
- Xây dựng kế hoạch tài chính trên cơ sở phân tích chi phí - lợi ích
- Xác định các nguồn lực cần khai thác
- Tổ chức khai thác các nguồn lực tài chính
- Tổ chức phân bổ nguồn lực tài chính theo các mục tiêu đặt ra
- Chỉ đạo, điều phối các hoạt động tài chính - kế toán
- Kiểm tra, đánh giá
- Đổi mới
1.2.2.1. Quản lý nguồn thu của các Trường Đại học công lập
Giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn
dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản, đầu tư phát triển. Mục tiêu của Giáo dục là
đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ
và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi
dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo
vệ tổ quốc.

Giáo dục - đào tạo cùng với khoa học - công nghệ là nhân tố quyết định tăng
trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Chính vì vậy phải tăng cường nguồn tài chính, cơ sở
vật chất cho giáo dục, tăng đầu tư từ NSNN, huy động mọi nguồn lực trong xã hội để
phát triển giáo dục. Đổi mới cơ chế quản lý tài chính, chuẩn hoá và hiện đại hoá nhà
trường, các trang thiết bị giảng dạy, nghiên cứu và học tập.
Sự chuyển đổi của nền kinh tế đã làm thay đổi một cách căn bản quan điểm đầu tư
cho giáo dục. Đầu tư cho giáo dục - đào tạo không chỉ từ một nguồn gần như duy nhất là
từ NSNN như trước đây, mà còn xã hội hoá giáo dục, nhất thiết đầu tư cho giáo dục phải
bao gồm từ nhiều nguồn đầu tư:
- Nguồn kinh phí do NSNN cấp
- Nguồn thu từ học phí, các loại phí, lệ phí
- Các nguồn thu hợp pháp khác
* Nguồn kinh phí do NSNN cấp

thường niên. Việc cấp phát NSNN cho các trường đại học công lập nằm trong chức năng
điều hành và được thực hiện theo sơ đồ sau.
Sơ đồ 1.4: Điều hành thực hiện thu chi ngân sách Nhà nước

Chính phủ

Bộ KH - ĐT

Bộ Tài
chính

Các B
ộ,
ngành liên
quanCác đơn vị đào

nhau của các trường, các bậc đào tạo, các lĩnh vực, các loại hình đào tạo…
- Chi tiêu NSNN chỉ nhấn mạnh đầu vào, ít chú ý đến mục tiêu cuối cùng là sản
phẩm sinh viên tốt nghiệp
- Thiếu cơ chế khuyến khích các trường đào tạo nâng cao chất lượng và hiệu quả
trong việc thực hiện nhiệm vụ.
Trong những năm qua, đặc biệt là những năm đầu thế kỷ 21, đầu tư cho giáo dục
từ NSNN không ngừng được tăng lên. Năm 2004 đầu tư cho giáo dục đào tạo từ NSNN
đã đạt đến 17,1%/năm trong tổng chi tiêu của NSNN, tăng hơn 3,4% so với năm 2000.
Quy trình đầu tư, phân bổ ngân sách đã có những bước cải cách căn bản làm tăng tính
hiệu quả của đầu tư cho giáo dục
* Nguồn thu từ học phí, các loại phí, lệ phí:

Để tăng cường nguồn lực cho giáo dục, thể hiện đa dạng hoá các nguồn đầu tư cho
giáo dục, Điều 36 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục
và khuyến khích các nguồn đầu tư khác”. Chính sách đó cho phép huy động mọi nguồn
lực trong xã hội cho phát triển giáo dục đào tạo, nhằm chia sẻ bớt gánh nặng đối với Nhà
nước.
Nguồn thu từ học phí, lệ phí… đã góp phần tăng cường kinh phí đầu tư cho giáo
dục. Thông qua việc thu học phí Nhà nước cũng có thể điều tiết quy mô, cơ cấu đào tạo
và thực hiện chính sách công bằng xã hội.
Theo luật giáo dục: Học phí, lệ phí là khoản đóng góp của gia đình người học hoặc
người học để góp phần đảm bảo cho các hoạt động giáo dục. Chính phủ quy định khung
học phí, cơ chế thu và sử dụng học phí đối với tất cả các loại hình trường, cơ sở giáo dục
khác theo nguyên tắc không bình quân, thực hiện miễn giảm cho các đối tượng hưởng
chính sách xã hội và người nghèo. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính căn cứ vào các
quy định của Chính phủ về học phí, hướng dẫn việc thu và sử dụng học phí, lệ phí tuyển
sinh của các trường và cơ sở giáo dục khác trực thuộc trung ương.
Sau khi Nhà nước xoá bỏ bao cấp trong giáo dục, học phí có một vị trí rất quan
trọng, chiếm một tỷ trọng khá cao trong tổng thu của các trường. Thậm chí có những
trường, nguồn thu từ học phí cao hơn gấp hai lần so với NSNN cấp.

Công tác nghiên cứu khoa học, tư vấn và dịch vụ trong các cơ sở đào tạo hiện
chiếm khoảng 3 -> 4% tổng số nghiên cứu khoa học của cả nước, đây là một tỷ lệ rất
thấp, các sản phẩm nghiên cứu lại không được tiếp thị nên nhiều đề tài rất có ý nghĩa đối
với sản xuất nhưng không được áp dụng, không được trao đổi, mua bán trên thị trường.
Cơ chế đầu tư cho nghiên cứu khoa học nói chung còn bị phân tán, chậm đổi mới. Sự liên
kết giữa cơ sở đào tạo và Viện nghiên cứu nhằm hỗ trợ lẫn nhau trong công tác giảng dạy
và nghiên cứu còn lỏng lẻo. Mối liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp còn hạn chế,
vì vậy việc triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu rất hạn chế.
để tăng cường nguồn đầu tư cho phát triển giáo dục đào tạo, thực hiện đa dạng hoá
các loại hình nhà trường và các hình thức giáo dục, khuyến khích, huy động và tạo điều
kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục, cần thiết phải tranh

thủ nguồn tài chính vay với lãi suất ưu đãi cho giáo dục từ Ngân hàng thế giới, Ngân
hàng phát triển Châu á, các tổ chức quốc tế và các nước. Thực hiện chế độ ưu đãi về sử
dụng đất đai, vay vốn cho các tổ chức cá nhân, doanh nghiệp đầu tư xây dựng, các cơ sở
giáo dục. Nhờ đó mà nguồn vốn ODA cho giáo dục đào tạo những năm qua đã tăng đáng
kể. Việc ban hành Nghị định 06/2000/NĐ-CP quy định về việc hợp tác đầu tư với nước
ngoài của bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học, với nhiều
điều khoản được ưu đãi như: thuế, bảo đảm cân đối ngoại tệ… đã thu hút nhiều dự án đầu
tư cho giáo dục đào tạo.
Tuy nhiên do còn thiếu kinh nghiệm, vừa học vừa làm nên nhiều chính sách về thu
hút đầu tư còn chưa nhất quán và hay thay đổi gây khó khăn cho các nhà đầu tư. Việc
triển khai các dự án vốn vay ODA thường chậm trễ do nhiều nguyên nhân như: nội dung
dự án do các nhà tài trợ giúp chưa sát với thực tế Việt Nam, thiếu các văn bản pháp quy
hướng dẫn các thủ tục tiếp nhận và sử dụng ODA.
1.2.2.2. Quản lý nguồn chi của trường Đại học công lập
- Chi thường xuyên: gồm tất cả các khoản phát sinh thường xuyên và liên tục
trong năm, được sử dụng hết trong năm đó, không thể chuyển sang năm sau. Chi thường
xuyên bao gồm các khoản sau:
+ Chi tiền lương, tiền công…

chiếm khoảng 35 -> 45% tổng chi của các trường và trong thực tế thì các trường cũng chi
cao hơn kế hoạch, tuy nhiên vẫn chưa đảm bảo được cuộc sống cho cán bộ, giảng viên.
Nhóm 2: Chi quản lý hành chính, gồm: Công tác phí, công vụ phí, điện nước, xăng
xe, hội nghị… Đây là khoản chi mang tính chất gián tiếp, đòi hỏi phải chi đúng, chi đủ,
chi kịp thời và cần phải quản lý tiết kiệm và có hiệu quả. Khoản chi này thường chiếm
khoảng 20% tổng chi thường xuyên.
Nhóm 3: Chi nghiệp vụ chuyên môn, gồm: Các khoản chi mua giáo trình, tài liệu,
đồ dùng học cụ, vật liệu, hoá chất phục vụ thí nghiệm, phấn viết… tuỳ theo nhu cầu thực
tế của các trường. Khoản chi này nhằm đáp ứng các phương tiện phục vụ việc giảng dạy,
giúp cho giảng viên truyền đạt kiến thức một cách hiệu quả. Đây là khoản chi có vai trò
quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo, chiếm khoảng 15% tổng chi

của trường. Hiện nay, trong thời đại khoa học và công nghệ phát triển không ngừng, nhu
cầu thay đổi công nghệ phục vụ giảng dạy đang đòi hỏi một nguồn vốn lớn. Vì vậy việc
tăng tỷ trọng chi cho giảng dạy và học tập là một trong những điều kiện để giúp nền giáo
dục đại học nước nhà tránh tụt hậu so với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế
giới.
Nhóm 4: Chi mua sắm, sửa chữa, gồm: các khoản chi cho việc sửa chữa, nâng cấp
trường, lớp, bàn ghế, trang thiết bị học cụ trong lớp, nhằm đảm bảo điều kiện cơ sở vật
chất cho việc giảng dạy và học tập dẫn đến ảnh hưởng không tốt đến chất lượng đào tạo.
Vì vậy khoản chi này cũng cần được chú trọng hơn trong thời gian tới.
* Căn cứ vào kết quả hoạt động tài chính, sau khi trang trải các khoản chi phí, thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ với NSNN theo quy định (thuế và các khoản phải nộp), số chênh
lệch thu lớn hơn chi do thủ trưởng đơn vị quyết định trích lập các quỹ, sau khi thống nhất
với tổ chức công đoàn:
- Quỹ dự phòng ổn định thu nhập: mức trích do thủ trưởng đơn vị quyết định,
nhằm mục đích đảm bảo thu nhập tương đối ổn định cho người lao động trong trường
hợp nguồn thu bị giảm sút, không đảm bảo kế hoạch đề ra.
- Quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi: không vượt quá 03 tháng lương thực tế bình
quân trong năm của đơn vị. Quỹ này dùng để chi khen thưởng cho các tập thể và cá nhân

giá tình hình thực hiện kế hoạch chi tiêu cho công tác đào tạo, rút ra ưu, nhược điểm
trong quá trình quản lý, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch năm sau sát hơn.
- Kiểm tra: Việc thực hiện kế hoạch không phải bao giờ cũng đúng như dự kiến, đòi hỏi
phải có sự kiểm tra thường xuyên để nắm tình hình quản lý tài chính.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính ở trường Đại học công lập
Giáo dục đào tạo có mối quan hệ chặt chẽ với những thay đổi, phát triển về xã hội,
kinh tế và chính trị. Tác động của những biến đổi này đến trạng thái của hệ thống giáo
dục, đến nội dung giáo dục và cấu trúc của các cấp bậc học là rất đa chiều. Đặc trưng cơ
bản nhất của giáo dục đại học là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho tất cả các lĩnh
vực của xã hội. Sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học một mặt bị tác động, chi phối

đồng thời cũng góp phần thúc đẩy các xu hướng phát triển chung của đời sống văn hoá xã
hội hiện đại.
Quản lý tài chính là một hoạt động rất quan trọng không chỉ đối với các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh mà cả đối với các trường đại học. Nó là một trong những yếu
tố quyết định quy mô, chất lượng đào tạo cũng như uy tín của các trường đại học. Nhất là
trong điều kiện xã hội hoá giáo dục và nâng cao tính tự chủ tài chính của các trường Đại
học công lập như hiện nay. Hoạt động quản lý tài chính phù hợp với điều kiện cụ thể của
mỗi trường đại học sẽ khuyến khích và tạo cơ sở cho các trường đại học phát triển. Do đó
hoạt động quản lý tài chính phù hợp với quy mô và tính chất của từng trường đại học đòi
hỏi phải tính đến tác động của nhiều nhân tố. Nhìn chung hoạt động quản lý tài chính của
trường đại học chịu tác động của các nhân tố cơ bản sau:
1.2.3.1. Điều kiện kinh tế - xã hội - văn hoá
Những thay đổi về điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá và chính sách chi tiêu công
cho giáo dục đại học là các yếu tố tác động đến quá trình đổi mới hệ thống tài chính giáo
dục đại học. Trước hết, đó là sự xuất hiện của nền giáo dục đại học đại chúng, hệ quả là
môi trường chính sách của giáo dục đại học đã từng bước thay đổi và ngày càng gắn chặt
hơn với cấu trúc nền kinh tế - xã hội. Những nhân tố trước đây được xem là phù hợp với
yêu cầu quản lý của các trường đại học thì nay không còn thích hợp và đòi hỏi phải có
những cải cách, đổi mới. Mục tiêu của sự đổi mới là nâng cao chất lượng đào tạo, sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status