LUẬN VĂN: Tìm hiểu về công tác tổ chức - quản lý kinh doanh xuất bản phẩm ở Công ty Sách và Thiết bị trường học Hà Nội trong hai năm 1997-1998 - Pdf 15



LUẬN VĂN: Tìm hiểu về công tác tổ chức - quản lý kinh
doanh xuất bản phẩm ở Công ty Sách và
Thiết bị trường học Hà Nội trong hai năm
1997-1998

lời nói đầu

Từ sau Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI, các doanh nghiệp kinh doanh

những cách thức tổ chức, quản lý, đảm bảo được sự kết hợp hài hòa giữa kinh doanh và phục
vụ đồng thời giữ vững được vai trò chủ đạo của mình trên thị trường.
Với tinh thần đó, qua quá trình tìm hiểu thực tế tại Công ty Sách và Thiết bị trường
học Hà Nội bản thân tôi đã đi sâu nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này với đề
tài: "Tìm hiểu về công tác tổ chức - quản lý kinh doanh xuất bản phẩm ở Công ty Sách và
Thiết bị trường học Hà Nội trong hai năm 1997-1998".
Tổ chức - Quản lý kinh doanh xuất bản phẩm của Công ty Sách và Thiết Bị trường
học Hà Nội được xem xét dưới góc độ là đối tượng quản lý Nhà nước về kinh tế. Luận văn
này nhằm vào các mục đích chính sau đây:
a- Phân tích để làm rõ tổ chức quản lý và ý nghĩa của nó đối với Công ty Sách và
Thiết Bị trường học Hà nội.
b- Đánh giá thực trạng tổ chức quản lý kinh doanh xuất bản phẩm của Công ty Sách
và Thiết Bị trường học Hà Nội trong hai năm 1997-1998 từ đó rút ra những vấn đề đang đặt
ra trong công tác tổ chức - quản lý kinh doanh xuất bản phẩm ở Công ty Sách và Thiết Bị
trường học Hà Nội.
c- Bước đầu đề xuất một số phương hướng đổi mới hoạt động tổ chức - quản lý kinh
doanh xuất bản phẩm của Công ty Sách và Thiết Bị trường học Hà Nội những năm tới.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn tập trung vào giải quyết một
số nhiệm vụ cụ thể dưới đây:
Một là: Khái quát những vấn đề chung về tổ chức - Quản lý kinh doanh xuất bản
phẩm nhằm làm nổi bật quá trình hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm.
Hai là: Phân tích thực trạng tổ chức - quản lý kinh doanh xuất bản phẩm của Công
ty Sách và Thiết Bị trường học Hà Nội trong hai năm 1997-1998.
Ba là: Đề xuất một số phương hướng cơ bản và những biện pháp cụ thể trước mắt
nhằm đổi mới công tác tổ chức - quản lý kinh doanh xuất bản phẩm ở Công ty Sách và Thiết
Bị trường học Hà Nội trong những năm tới. Đây là đề tài nghiên cứu về kinh tế, nội dung đề cập đến nhiều vấn đề rất khó và hết
sức phức tạp trong hoạt động kinh doanh hiện nay. Vì vậy, có thể có nhiều cách tiếp cận

phân tích tổng hợp, thống kê Trong đó đã cố gắng nhất quán thực hiện sự gắn bó giữa
quan điểm đường lối chính sách, kinh nghiệm thực tiễn với một số kiến thức khoa học hiện
đại.
Chương 1
tổ chức quản lý và ý nghĩa của nó đối với Công ty Sách và Thiết Bị trường học Hà nội

I. Những yêu cầu đặt ra trong quá trình tổ chức, quản lý, kinh doanh xuất bản
phẩm
1. Đặc điểm của việc tổ chức hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm
Như chúng ta đã biết, thực chất của kinh doanh xuất bản phẩm là quá trình đầu tư
vốn và công sức để tổ chức các hoạt động mua bán hàng hóa xuất bản phẩm, nhằm đạt lợi
nhuận. Lợi nhuận trong kinh doanh xuất bản phẩm không chỉ là tiền lãi thu được sau một quá
trình kinh doanh mà còn là cái “lãi” của quá trình sử dụng xuất bản phẩm trong xã hội. Bởi vì
kinh doanh xuất bản phẩm vừa là hoạt động kinh tế, vừa là lĩnh vực tư tưởng văn hóa, có ý nghĩa
lớn trong việc thực hiện mục tiêu chung của xã hội. Trên thực tế xuất bản phẩm là sản phẩm của
quá trình lao động sáng tạo và công nghệ chế bản, nhằm mục đích tuyên truyền giáo dục, phổ
biến trí thức thông qua việc mua bán trên thị trường, nên xuất bản phẩm trở thành đối tượng của
kinh doanh.
Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp xuất bản phẩm nhằm: Thỏa mãn nhu cầu xuất
bản phẩm của xã hội và mang lại hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp. Do đó trong quá
trình tổ chức kinh doanh cho doanh nghiệp hoạt động phải xoay xung quanh mục tiêu này.
Mọi hoạt động nhằm cản trở hay có tác động cản trở doanh nghiệp thực hiện mục tiêu cần được
loại bỏ nhanh chóng trong chương trình và biện pháp hoạt động của doanh nghiệp.
Xuất bản phẩm là loại hàng hóa đặc thù do đó tất yếu cũng hình thành những người

Cũng như các lĩnh vực khác của nền kinh tế quốc dân, hệ thống quản lý trong hoạt
động kinh doanh xuất bản phẩm bao gồm hai phân hệ: Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.
Mỗi phân hệ là một hệ thống phức tạp có mối quan hệ qua lại với nhau. Đối tượng quản lý
là toàn bộ hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm bao gồm cả hoạt động phát hành xuất bản
phẩm chuyên nghiệp và hoạt động phát hành xuất bản phẩm nhất thời. Đối tượng này có cơ
cấu tổ chức phức tạp bao gồm nhiều mối quan hệ và được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Điểm đặc biệt của đối tượng này là: Đây là một hoạt động xã hội rộng lớn thuộc nhiều
lĩnh vực ở nhiều cấp nhiều ngành khác nhau. Ngành xuất bản ra đời và phát triển chỉ với tư
cách là ngành chuyên môn nghiệp vụ, các đơn vị cơ sở của ngành là một đơn vị độc lập, trực
thuộc nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau trong xã hội. Mỗi hoạt động cụ thể đều do một
tổ chức, một cơ quan khác nhau đứng ra xin phép hoạt động. Về mặt pháp lý mà xét, ai xin
phép hoạt động, người đó chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của mình. Vì vậy
các quan hệ quản lý ở đây xuất phát từ hai bộ phận chủ thể khác nhau. Hoạt động quản lý
cũng được phân ra thành hai dạng: Quản lý của cơ quan quản lý Nhà nước và quản lý của cơ
quan chủ quản với các đơn vị trực thuộc.
Cơ quan quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm là:
- Cấp Trung Ương là Bộ Văn hóa thông tin có nhiệm vụ thống nhất quản lý Nhà
nước trong toàn quốc đối với hoạt động xuất bản (kinh doanh xuất bản phẩm là một bộ phận
của hoạt động xuất bản)
(1)
.
- ở địa phương, Sở văn hóa thông tin là cơ quan chuyên môn giúp chủ tịch Uỷ ban
nhân dân tỉnh quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất bản cũng như phát hành xuất bản
phẩm ở Tỉnh, thành phố.
Chức năng , nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ Văn hóa
thông tin được Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là chính phủ) quy định theo Nghị định 196/
HĐBT, Chức năng quản lý Nhà nước của Bộ Văn hóa thông tin đối với hoạt động xuất bản
phẩm thể hiện cụ thể trên ba nội dung sau:

cương theo luật định
Chức năng kiểm tra của Bộ Văn hóa Thông tin thể hiện ở những nội dung chính sau:
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện tôn chỉ mục đích của các cơ sở phát hành xuất
bản phẩm theo quy định của giấy phép hoạt động.
- Kiểm tra việc chấp hành pháp luật, các thủ tục, thể lệ chế độ, chính sách trong
hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm.
- Kiểm tra việc thực hiện quy trình hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm.
- Kiểm tra hoạt động nghiệp vụ của các cơ sở phát hành xuất bản phẩm.

Bộ 11/12/1989. Chức năng quản lý Nhà nước của các Sở Văn hóa Thông tin đã được Bộ phân cấp.
Trách nhiệm và quyền hạn của Sở chỉ trong giới hạn của những thẩm quyền được giao.
Theo sự phân cấp quản lý, Bộ Văn hóa Thông tin quy định: Toàn bộ hoạt động kinh doanh
xuất bản phẩm chuyên nghiệp và kinh doanh xuất bản phẩm nhất thời của các cơ quan, đoàn
thể Trung Ương đều do Bộ trực tiếp quản lý, Sở Văn hóa Thông tin chỉ quản lý hoạt động
kinh doanh xuất bản phẩm nhất thời của địa phương. Theo quy định số 330/BBT năm 1987
(của Bộ Thông tin cũ) Sở Văn hóa Thông tin được phép cấp giấy phép xuất bản và kinh
doanh nhất thời những loại xuất bản phẩm sau đây:
- Các tài liệu dùng vào mục đích tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn thực hiện các
chỉ thị, nghị quyết của Đảng Bộ địa phương và những loại sách người tốt, việc tốt của địa
phương.
- Các tác phẩm văn nghệ do phong trào vận động sáng tác của địa phương tổ chức.
- Các công trình nghiên cứu, sưu tầm về lịch sử, văn hóa của địa phương.
- Các ấn phẩm: Tranh, ảnh, giới thiệu cảnh đẹp địa phương.
Các loại ấn phẩm sau, Sở không được cấp giấy phép:
- Các loại báo, tạp chí, phụ trương, đặc san.
- Các loại sách dịch: Trường hợp địa phương thực sự có nhu cầu thì phải xin phép
Bộ, chỉ khi Bộ cho phép mới được tổ chức xuất bản và kinh doanh sách dịch.

xuất bản phẩm của mình.
- Chịu trách nhiệm về mọi hoạt động tài chính trong quá trình kinh doanh xuất bản
phẩm.
- Phối hợp với cơ quan quản lý Nhà nước, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động kinh
doanh xuất bản phẩm mà mình đứng tên xin phép.
Sự phân định trách nhiệm trên xuất phát từ quan điểm là phải làm rõ: Hoạt động
kinh doanh xuất bản phẩm của ai, ai đứng ra xin phép hoạt động, ai chịu trách nhiệm về hoạt
động đó? Từ đó có thể xác định được ranh giới giữa quản lý Nhà nước với quản lý của cơ
quan chủ quản.
Trên thực tế, nền kinh tế thị trường không chấp nhận bộ máy tổ chức quản lý hoạt
động kinh doanh cồng kềnh của ngành phát hành sách thời bao cấp. Vì vậy để thích nghi với
nền kinh tế thị trường thì vấn đề đầu tiên là sắp xếp lại bộ máy tổ chức quản lý phục vụ cho
hoạt động kinh doanh. Trong toàn ngành kinh doanh xuất bản phẩm, mỗi Công ty phát hành
sách đều là mỗi cơ sở tự hạch toán kinh doanh độc lập. Quá trình tổ chức lại ngành: thu hồi cấp quận, huyện, tinh giảm bộ máy tổ chức quản lý ngành, chuyên môn hoá, trẻ hoá đội ngũ
cán bộ. Bộ máy tổ chức ngành phát hành sách tính đến tháng 8 năm 1997 đã giảm 45% từ
4250 cán bộ còn 2310 cán bộ trong cả nước.
Cùng tác động vào hoạt động quản lý kinh doanh xuất bản phẩm còn có các ngành,
các tổ chức liên quan khác như: Cơ quan kế hoạch, tài chính, ngân hàng, vật giá, Cục xuất
bản, Cục bản quyền, cơ quan bảo vệ văn hóa của Bộ Công an Sự tác động của các cơ quan
này nhằm mục đích duy trì trật tự, kỷ cương và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh
doanh xuất bản phẩm phát triển. Toàn bộ tác động quản lý trong hoạt động kinh doanh xuất
bản phẩm được mô hình hóa như sau:

XH


TWKDXBP củ
a
các Nhà
xuất bả
n
TW

BộVăn
hoá Thôngtin

Cục xuấ
t
bản



a ph
ươ
ng
Tỉnh ủy
ủy ban
nhân dân
Tỉnh
Tổ chức

chính trị

xã hội đị
a
phương

UBND Tỉnh

Sở Vă
n hóa
thông tin

Bảo vệ văn
hóa

Các cơ quan

kế hoạ
ch, tài
chính, ngân

chẳng tốn bao nhiêu. Một cuốn sách tốt, có tác dụng hết sức to lớn và sâu rộng đối với cuộc
sóng tinh thần của xã hội, trong khi đó chi phí bằng tiền mà xã hội bỏ ra để sản xuất và phổ
biến nó chỉ trong một giới hạn và mức độ nhất định. Ngược lại, một cuốn sách có tác hại vô cùng to lớn, nhiều khi chi phí cho việc kinh doanh xuất bản nó rất ít. Điều này cho thấy, vì
sao trên thực tế, bằng con đường tư tưởng văn hóa để tha hóa con người lại là cách làm dễ
nhất, nhanh nhất và rẻ nhất.
Những mục tiêu xã hội cao đẹp có tác dụng to lớn và ý nghĩa lâu dài không phải dễ
dàng đạt được. Mục tiêu kinh tế, tuy rất quan trọng, nhưng ý nghĩa, tác dụng của nó chỉ
trong một giới hạn và phạm vi nhất định, khả năng đạt được không phải là quá khó khăn. Để
thực hiện những mục tiêu xã hội cao quý của mình, hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm
phải thông qua quá trình sản xuất và phổ biến (kinh doanh) các xuất bản phẩm của mình đến
toàn xã hội. Về phương diện kinh tế, quá trình đó không thể không tính đến hiệu quả kinh
tế. Hiệu quả kinh tế là điều kiện vật chất bảo đảm cho việc duy trì và tiến hành hoạt động
bình thường trong hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm. Không có hiệu quả kinh tế thì trong
điều kiện cơ chế thị trường không thể tiến hành hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm bình
thường được. Các Nhà xuất bản và các cơ sở phát hành xuất bản phẩm quan tâm đến hiệu
quả kinh tế là một yêu cầu tất yếu hiện nay.
Dưới góc độ tiêu dùng xã hội, cái mà xã hội quan tâm trong hoạt động kinh doanh
xuất bản phẩm chính là ở giá trị nội dung của các xuất bản phẩm. Nói một cách khác, xã hội
đòi hỏi ở những người sản xuất và phát hành xuất bản phẩm không phải là khối lượng giá trị
mà họ tạo ra mà là ở chất lượng các sản phẩm văn hóa tinh thần của họ cung cấp cho xã hội.
Vì vậy việc tính toán hiệu quả kinh tế là tất yếu đối với người tiêu dùng xã hội. Mục đích
của tiêu dùng xã hội trong lĩnh vực này là những giá trị văn hóa tinh thần tiềm ẩn bên trong
vỏ vật chất mà mỗi xuất bản phẩm thể hiện. Do vậy trên phạm vị toàn xã hội và dưới góc độ
của toàn ngành, hiệu quả kinh tế không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện để đạt được
hiệu quả xã hội. Đối với từng doanh nghiệp kinh doanh xuất bản phẩm, với tư cách là một
đơn vị kinh doanh hàng hóa phục vụ xã hội, mục tiêu kinh tế là một tất yếu. Vì vậy, giải
quyết hài hoà mối quan hệ giữa mục tiêu xã hội và mục tiêu kinh tế trong hoạt động kinh

Công ty Sách và Thiết bị trường học Hà nội
1. ý nghĩa của tổ chức - quản lý kinh doanh xuất bản phẩm ở Công ty Sách và
Thiết bị trường học Hà Nội Trong nền kinh tế thị trường sản xuất hàng hóa ra là để bán, hàng hóa muốn bán
được nhanh, được nhiều thì người ta phải quảng cáo chất lượng khen đẹp, khen tốt. Kinh
doanh theo đúng nghĩa của là hoạt động kiếm lời, là hoạt động nhằm sinh lợi của con người,
nó còn là quá trình đầu tư công sức và tiền của nhằm thu được lợi nhuận. Nhưng trong điều
kiện hiện nay hoạt động kinh doanh không dễ dàng bởi nó vấp phải sự cạnh tranh từ nhiều
phía, nhiều người bán, ít người mua, hay nói cách khác là cung lớn hơn cầu cùng với sự
biến động thường xuyên của thị trường khiến cho kinh doanh trở nên vô cùng khó khăn và
phức tạp. Để kinh doanh đạt được hiệu quả cao nhất trên cơ sở vật chất kỹ thuật, tiền vốn,
lao động cần phải xác định các phương hướng, các sách lược, các biện pháp kinh doanh, đầu
tư sử dụng tối đa những điều kiện sẵn có. Do đó cần phải nắm bắt được các nguyên nhân
ảnh hưởng, mức độ và xu hướng ảnh hưởng của từng nguyên nhân đến kết quả công việc
của mình, thường xuyên điều tra, tính toán cân nhắc, soạn thảo và lựa chọn phương án kinh
doanh tối ưu sao cho chi phí ít nhất mà đem lại được kết quả cao nhất.
Tổ chức - Quản lý kinh doanh xuất bản phẩm dựa trên cơ sở kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp bao gồm kết quả toàn bộ của quá trình kinh doanh (từ nhập hàng đến tiêu thụ,
kết quả tài chính cũng như kết quả của từng khâu, từng giai đoạn, từng thời kỳ, từng hoạt
động kinh doanh phát sinh tạo thành). Kết quả này được biểu hiện bởi cách thức tổ chức
cũng như phương thức quản lý kinh doanh tạo thành.
Do kết quả kinh doanh có nội dung và phạm vi khác nhau mà hệ thống tổ chức -
quản lý kinh doanh cũng sẽ rất khác nhau, có thể là phương pháp tổ chức kinh doanh theo
thời kì hoặc cũng có thể là cách áp đặt mối quan hệ quản lý giữa cấp trên và cấp dưới, có thể
quan hệ quản lý giữa từng khâu trong hoạt động kinh doanh. Tất cả những điều này nói lên
sự cần thiết phải tổ chức - quản lý kinh doanh một cách cụ thể, phân định thành hệ thống rõ
ràng và mỗi khâu trong mối quan hệ quản lý phải có được những nhiệm vụ và quyền hạn cụ
thể để dễ bề truy cứu trách nhiệm khi có phát sinh xảy ra.

cần thiết. Trong quá trình tổ chức quản lý tiêu thụ Sách giáo khoa và các thiết bị giảng dạy
và học tập phải xác định đúng đắn, chính xác nhu cầu thị trường để xây dựng kênh tiêu thụ
hợp lý có hiệu quả đưa Sách giáo khoa và các thiết bị đến tay người sử dụng nhanh nhất, kịp
thời nhất, đầy đủ nhất tiết kiệm thời gian và chi phí lưu thông đảm bảo tốt chức năng phục
vụ của Công ty. Trên cơ sở của những kết quả của quá trình tổ chức - quản lý kinh doanh hàng năm
Công ty có thể nắm bắt được nhu cầu về Sách giáo khoa và các thiết bị trên thị trường và dự
đoán được sự phát triển trong thời gian tới từ đó xây dựng kế hoạch kinh doanh mặt hàng
một cách khoa học trước mắt cũng như lâu dài. Qua tổ chức - quản lý hoạt động kinh doanh
xuất bản phẩm Công ty sẽ đánh giá được mức độ hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra
cả về mặt số lượng cũng như chất lượng, rút ra được những thiếu sót trong quá trình kinh
doanh, phát hiện ra những nguyên nhân chủ quan, khách quan, đề xuất những biện pháp khắc
phục xử lý kịp thời những thiếu sót.
Với ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy tổ chức - quản lý hoạt động kinh doanh xuất
bản phẩm đã trở thành nhiệm vụ không thể thiếu của Công ty Sách và Thiết Bị trường học
Hà Nội. Chỉ có thực hiện Công tác này một cách nghiêm túc, chính xác và thường xuyên,
tức là tổ chức quản lý kinh doanh xuất bản phẩm trong và sau khi thực hiện các chỉ tiêu kế
hoạch mới tạo ra sự nhạy bén trong kinh doanh, đẩy lùi được những khó khăn, yếu kém bảo
đảm cho quá trình kinh doanh và phục vụ đem lại hiệu quả cao nhất với chi phí ít nhất.
2. Những nội dung cơ bản khi tiến hành Tổ chức - Quản lý kinh doanh xuất bản
phẩm ở Công ty Sách và Thiết Bị trường học Hà Nội
a) Tổ chức - Quản lý hoạt động kinh doanh trong công tác phát hành sách giáo
khoa:
Hoạt động kinh doanh Sách giáo khoa là cả một quá trình từ dự báo nhu cầu, xây
dựng kế hoạch đến khi hoàn thành kế hoạch. Trong quá trình thực hiện thì việc tổ chức quản
lý hoạt động kinh doanh giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Nó theo dõi, giám sát từng giai đoạn
hay toàn bộ chu kỳ kinh doanh bằng hệ thống các chỉ tiêu kinh tế đạt được.
Nội dung mà tổ chức - quản lý hoạt động kinh doanh phản ánh đầy đủ toàn diện và

- Tổ chức xây dựng kế hoạch liên doanh, liên kết và thiết lập danh mục thiết bị của
các cấp học.
- Quản lý chặt chẽ quá trình nhập thiết bị từ cơ sở sản xuất, theo dõi biến động của
thị trường và có kế hoạch nhập thiết bị cho cần thiết. - Tổ chức kinh doanh trong khâu bán buôn vói số lượng nhiều (đối với các Phòng
Giáo dục) và kinh doanh trong khâu bán lẻ với các đại lý và các trường học trong Hà Nội.
- Tổ chức điều chỉnh tính mùa vụ thể hiện ở mặt hàng các thiết bị này bằng cách xây
dựng các danh mục thiết bị để gửi đến từng trường học, từng đại lý hay niêm yết giá để
khách hàng cùng biết.
Với mặt hàng thiết bị và ấn phẩm nói chung Công ty thường xuyên chú ý đến cơ chế
quản lý tài chính, không để nguồn ngân sách bị xé lẻ, thiếu tập trung đồng bộ, với thiết bị
phổ thông thông thường sẽ dễ bị cạnh tranh nếu Công ty không làm chủ nguồn hàng và thị
trường.

Chương 2
Thực trạng tổ chức - quản lý kinh doanh xuất bản phẩm ở Công ty Sách và Thiết Bị

Nội. Với nguồn hàng phong phú, chủng loại đa dạng thể hiện ở:
- Đặc điểm sản phẩm hàng hóa mà Công ty kinh doanh thuộc loại hàng hóa văn hóa
giáo dục. Tuy có nhiều loại ấn phẩm, nhiều loại mặt hàng nhưng nhu cầu tiêu thụ tương đối
ổn định và được lặp đi lặp lại từ năm này sang năm khác ít có sự thay đổi về sản phẩm hàng
hóa (trừ khi có chủ trương lớn của Nhà nước về giáo dục). Mặt khác, đối tượng tiêu dùng là
phục vụ cho nhu cầu giảng dạy và học tập nên được Nhà nước và xã hội quan tâm, đầu tư và
có những ưu đãi nhất định trong kinh doanh.
- Những mặt hàng chủ yếu mà Công ty kinh doanh được xác định rõ giá đầu vào và
đầu ra theo các quy định chung của Nhà nước.Công ty được hưởng phần trăm phí phát hành
lưu thông (chiết khấu).
- Hoạt động của Công ty tương đối ổn định và hình thành một chu kỳ như sau:
+ Từ tháng 1 đến tháng 4: Mặt hàng tiêu thụ được thường là các loại ấn phẩm, tài
liệu tham khảo, đồ dùng học tập, các loại vở và sổ sách chiếm tỷ trọng cao còn các mặt hàng
như Sách giáo khoa thì tiêu thụ ít hơn.
+ Từ tháng 5 đến tháng 9: Cả mặt hàng Sách giáo khoa đến mặt hàng như đồ dùng
học tập, giấy vở đều được tiêu thụ với khối lượng lớn trong đó Sách giáo khoa chiếm tỷ
trọng lớn nhất. Thời gian này tạo nên doanh thu chủ yếu của Công ty.Trong thời gian này,
doanh thu của Công ty có thể chiếm tới 70 % đến 80% của doanh thu cả năm.
+ Từ tháng 10 đến tháng 12: Kinh doanh tương tự như từ tháng 1 đến tháng 4.
- Bạn hàng của Công ty và quan hệ thanh toán phần lớn đều ổn định và lâu dài. Bạn
hàng chủ yếu trong quan hệ mua hàng chiếm tới 90% là Nhà xuất bản Giáo dục, Tổng Công
ty cơ sở vật chất Bộ Giáo dục và Đào tạo, Báo Giáo dục và Thời đại. Bạn hàng chủ yếu trong quan hệ bán hàng là các Phòng Giáo dục quận, huyện, các
trường phổ thông của thành phố Hà Nội, các cơ quan, đại lý, học sinh, giáo viên, cha mẹ
học sinh ở các cấp học phổ thông.
Từ những đặc điểm cơ bản trong hoạt động kinh doanh nêu trên thực chất của hoạt
động kinh doanh của Công ty là mua hàng và bán hàng. Hai quá trình này diễn ra một cách
thuận lợi và mang lại lợi nhuận cho Công ty, phục vụ tốt chức năng xã hội mà xã hội đã giao

- Tổ chức in ấn những tài liệu nghiệp vụ chuyên môn của ngành Giáo dục, đào tạo.
- Tổ chức sửa chữa đồ dùng giảng dạy thí nghiệm cho các trường học.
- Chỉ đạo, quản lý và hướng dẫn nghiệp vụ thí nghiệm thiết bị và sách của phòng thí
nghiệm và thư viện trường học các quận, huyện và các trường trực thuộc Hà Nội.
Sở giáo dục và Đào tạo Hà nội trực tiếp chỉ đạo về mặt chuyên môn, nghiệp vụ, lao
động.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty đã thiết lập được những
quan hệ bạn hàng ổn định và tin cậy như:
 Trong quan hệ cung cấp nguồn hàng (mua hàng) Công Ty thường xuyên được sự
hỗ trợ của Nhà xuất bản Giáo dục, Tổng công ty cơ sở vật chất Bộ Giáo dục, các cơ sở về in
ấn, sách vở, về các thiết bị và đồ dùng giảng dạy học tập thuộc các thành phần kinh tế.
 Trong quan hệ tiêu thụ, công ty thường xuyên được sự hỗ trợ của các phòng Giáo
dục quận, huyện, các trường PTTH, cơ sở, tiểu học, các cơ sở bổ túc và giảng dạy khác trong
cùng thành phố và các cơ quan Trung ương.
 Trong quan hệ giao dịch thanh toán, đảm bảo nguồn vốn cho sản xuất kinh
doanh. Công ty được sự tin cậy và giúp đỡ của các ngân hàng Nhà nước mà đặc biệt là Hội
sở Ngân hàng công thương Việt Nam.
 Trong quan hệ giao dịch kinh doanh và trao đổi nghiệp vụ, Công ty được sự quan
tâm giúp đỡ và thiết lập được mối quan hệ tốt với các Sở Giáo dục và Đào tạo, các Công ty
phát hành sách và triết bị trường học của các Tỉnh và các thành phố trong cả nước.

Trích đoạn Đổi mới quản lý Nhà nước đối với Công ty Đổi mới công tác kế hoạch hoá trong quản lý hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm của Công ty Đổi mới công tác cán bộ Chính sách đầu tư vốn cho Công ty Đầu tư cho sự phát triển khoa học công nghệ và công tác đào tạo cán bộ trong Công ty
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status