ĐINH VĂN TUYỀN – Sinh truỏng của bê lai 5
SINH TRƯỞNG CỦA BÊ LAI ½ RED ANGUS VÀ BÊ LAI SIND NUÔI TẬP TRUNG
BÁN CHĂN THẢ TẠI ĐĂK LĂK
Đinh Văn Tuyền*, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Tấn Vui và Hoàng Công Nhiên
Bộ môn Dinh dưỡng - Thức ăn và Đồng cỏ
*Tác giả liên hệ: Đinh văn Tuyền- Bộ môn Dinh dưỡng - Thức ăn và Đ
ồng cỏ
Viện Chăn nuôi - Thụy phương - Từ Liêm - Hà N
ội
Tel: (04) 38.571.692/ 0982.932.269; Fax: (04) 38.389.775; Email: [email protected]
ABSTRACT
Growth performance of Red Angus x Lai sind crossbred and Laisind cattle in a semigrazing system
in Dak lak
Growth curves of Lai Sind and Red Angus x Lai Sind crossbred cattle were depicted using data collected from 6
female and 4 male calves of Red Angus x Lai Sind crossbred and 4 male and 4 female calves of the Lai Sind
breed over a period from birth to 21 months old. The calves were weaned at 6 months old and put into a semi-
grazing program at a farm in Eakar district of Daklak province under which the calves were mustered to the
pasture for grazing from 7h-10h30 in the morning and 14h-17h in the afternoon and confined in the roofed shed
and offered concentrate supplement (approx. 1% BW) and freshly cut grass (approx. 1% BW) during the rest of
time. Weight and conformational measurements were recorded every 3 months before weaning and monthly
afterwards. Results showed that at 6 months old F
1
crossbred Red Angus calves could weigh 116 kg; that of lai
Sind calves 93,6 kg. When reached 12 months old F
1
Red Angus bulls and heifers weghed 174-186 kg and lai
Sind cattle 138-139 kg. Averaged liveweight of young F
6
khối lượng 375 kg lúc 24 tháng tuổi, ½ Simental đạt khối lượng 365 kg lúc 24 tháng tuổi tại
Bảo Lộc (Nguyễn Thiện và cộng sự, 1992). Gầy đây nhất, Vũ Chí Cương (2007) đã tiến hành
lai tạo và so sánh khả năng sinh trưởng phát triển của bê lai giữa tinh bò đực Brahman và
Charolais với bò cái lai Sind trên địa bàn Đăk Lăk. Kết quả cho thấy bê con lai ½ Charolais
có tốc độ sinh trưởng cao hơn đáng kể so với con lai ½ Brahman và lai Sind. Tại thời điểm 12
tháng tuổi bê lai ½ Charolais nặng 173-193 kg trong khi bê lai ½ Brahman là 146-172 kg còn
bê lai Sind có khối lượng 138-150 kg, chỉ tương đương 80% khối lượng bê ½ Charolais. Cho
đến nay chưa có nghiên cứu nào nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng của bê lai ½ Red Angus
nuôi trong điều kiện Việt nam. Chính vì vậy, ’’Nghiên cứu nhân thuần và lai tạo giống bò
hướng thịt chất lượng cao ở Việt Nam” chúng tôi tiến hành đề tài nhánh “Theo dõi khả năng
sinh trưởng bê lai ½ Red Angus x Lai Sind và bê lai Sind nuôi tập trung, bán chăn thả tại Đăk
Lăk” nhằm đánh giá, so sánh khả năng sinh trưởng của hai giống lai này khi được nuôi trong
cùng điều kiện.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm 10 bê lai ½ Red Angus. Trong đó, có 4 đực và 6 cái và 8 bê lai
Sind (4 đực và 4 cái). Bê ½ Red Angus được lai tạo bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo, cho
bò cái Lai Sind khối lượng 220 kg trở lên nuôi tại các hộ nông dân tại huyện Eakar tỉnh Đăk
Lăk lai với tinh bò Red Angus ngoại nhập. Bê lai Sind được sinh ra bằng thụ tinh nhân tạo
nhưng với nguồn tinh sản xuất trong nước. Tất cả bê thí nghiệm đều sinh ra trong khoảng từ
tháng 9 đến 11/2007. Chúng được nuôi theo mẹ đến 6 tháng tuổi, trước khi chuyển về trại
nuôi tập trung theo hình thức chăn thả (6 giờ/ngày) kết hợp bổ sung thức ăn tại chuồng.
Thức ăn bổ sung bao gồm bột sắn, hạt bông, urea và cỏ tươi Ghi nê hoặc rơm khô. Bột sắn
được trộn với hạt bông và urea theo tỷ lệ 50:48,5:1,5 dạng sử dụng và bổ sung cho bê ở mức
khoảng 1% khối lượng cơ thể. Cỏ tươi cũng bổ sung hàng ngày ở mức 0,8-1% khối lượng cơ
thể tính theo vật chất khô. Trong những ngày thiếu cỏ tươi thì rơm khô được bổ sung cùng với
VV
.
Trong đó: A là tăng khối lượng trung bình ngày (g/ngày); V2 là khối lượng cơ thể cuối kỳ (kg);
V1 là khối lượng đầu kỳ (kg); t2 là thời gian cuối kỳ (ngày); t1 là thời gian đầu kỳ (ngày).
Sự thay đổi kích thước một số chiều đo được xác định bằng thước dây và thước gậy chuyên
dụng. Các chỉ tiêu này bao gồm kích thước vòng ngực, cao vây và dài thân chéo xác định tại
các thời điểm 0, 3, 6, 9, 12, 15, 18 và 21 tháng tuổi. Chỉ tiêu vòng ngực xác định bằng thước
dây vải sử dụng đơn vị cm, các chỉ tiêu cao vây và dài thân chéo xác định bằng thước gậy.
Xử lý số liệu
Phần mềm Minitab phiên bản 14.0 được sử dụng để xử lí số liệu thống kê. Các giá trị trung
bình, giá trị cực đại cực tiểu và hệ số biến động (Cv) được xác định bằng phân tích các tham
số thống kê (Descriptive). Sự sai khác giữa các giống hoặc giới tính trong cùng giống về một
số chỉ tiêu được phân tích phương sai ANOVA. Thuật toán hồi qui đơn biến được sử dụng để
xây dựng phương trình mô tả mối quan hệ giữa tuổi và khối lượng của bê lai ½ Red Angus và
bê Laisind.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Khả năng sinh trưởng của đàn bê lai ½ Red Angus và bê lai Sind nuôi tập trung
Kết quả đánh giá khả năng sinh trưởng của đàn bê lai ½ Red Angus và lai Sind được trình bày
tại Bảng 1, 2, 3 và Đồ thị 1
Bảng 1. Khối lượng bê đực và bê cái lai qua các tháng tuổi (Mean±SD; kg)
Lai Sind Lai ½ Red Angus
Đực Cái Đực Cái
n. 4 4 4 6
Sơ sinh 22,4
a
±0,85 21,4
a
±1,80 24,2
15,64
12 tháng 138,8
a
±16,56 138,3
a
±20,80 185,7
b
±22,90 173,8
b
±17,14
15 tháng 177,2
a
±27,70 171,1
a
±24,90 229,9
b
±32,80 213,4
b
24,09
18 tháng 217,6
a
±38,90 204,6
a
34,90 299,7
b
35,90 260,7
c
±28,90
21 tháng 262,1
a
của Vũ Chí Cương (2007), khối lượng bê lai Sind ở cả con đực và con cái lúc 12 tháng tuổi
trong nghiên cứu của chúng tôi đều thấp hơn. Con lai ½ Red Angus chỉ khối lượng của bê đực
là thấp hơn còn bê cái tương đương bê lai ½ Charolais (khối lượng con đực là 193,2 và con
cái 173,1 kg). Tuy nhiên, khối lượng bê lai Sind và ½ Red Angus lúc 18 tháng tuổi lớn hơn
đáng kể so với khối lượng của bê tương ứng của Vũ Chí Cương (2007), (Bê lai Sind chỉ đạt
189 kg ở con đực và 172,9 kg ở con cái còn bê lai ½ Charolais cũng có khối lượng 242,5 kg ở
con đực và 201,9 kg ở con cái).
Tại thời điểm 21 tháng tuổi, khối lượng của bê lai Sind đạt 262,1 kg ở con đực và 252,4 kg ở
con cái còn bê lai ½ Red Angus đạt 360,9 kg ở con đực và 309,6 kg ở con cái. Theo báo cáo
của Nguyễn Thiện và cs (1992) thì bò lai ½ Charolais có thể đạt khối lượng 375 kg và bò lai
½ Simental đạt khối lượng 365 kg lúc 24 tháng tuổi khi nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới tại Bảo
Lộc Lâm Đồng. Theo Vũ Văn Nội và cs (1995) nếu được nuôi dưỡng chăm sóc tốt và bổ sung
thức ăn xanh, cỏ cắt, ngọn mía và các thức ăn khác (rỉ mật, sắn lát) bê lai ½ Charolais lúc 24
tháng tuổi tại Hà Tam-Gia Lai, Bình Định-Phú Yên đạt 249-284 kg trong khi nuôi tại Lâm
Đồng lúc 18 tháng tuổi đạt 274,5kg. Như vậy, kết quả cho thấy bê lai ½ Red Angus nuôi tại
ĐăkLăk có thể đạt khối lượng tương đương hoặc lớn hơn bê lai ½ Charolais và ½ Simental
ngay cả khi các con lai này được nuôi trong điều kiện khí hậu thuận lợi hơn.
Bảng 1 cũng cho thấy, đối với bê lai Sind khối lượng của bê đực và bê cái ở tất cả các lứa tuổi
đều không có sự sai khác đáng kể về mặt thống kê. Bê lai ½ Red Angus, giới tính chỉ ảnh
hưởng đáng kể khi bê đạt 18 tháng tuổi trở lên. Kết quả này khác với kết quả của một số
nghiên cứu trước đây khi bê đực luôn có khối lượng lớn hơn bê cái cùng tuổi (Đinh Văn
Tuyền và cộng sự, 2008). Điều này có thể giải thích là do số bê được theo dõi trong nghiên
cứu này khá ít và có khối lượng biến động lớn, thể hiện ở giá trị hệ số biến động (SD) cao ở
mỗi mức tuổi trình bày trong Bảng 1.
Bảng 2. Khối lượng trung bình bê lai tại các tháng tuổi
Tháng tuổi Tham số Lai Sind 1/2 Red Angus Chênh lệch (%)
n 8 10
Sơ sinh Mean±SD 21,9
a
±1,41 24,1
b
±36,00 32,7
21 tháng Mean±SD 257,2
a
±33,20 329,9
b
±48,70 30,3
Các giá trị trung bình trong cùng 1 hàng có chỉ số trên bằng chữ khác nhau thì khác nhau (P<0,05)
ĐINH VĂN TUYỀN – Sinh truỏng của bê lai 9
Giá trị độ lệch chuẩn dao động trong khoảng 2,61- 4,12% tại thời điểm sơ sinh; 9,7-17,18%
lúc 6 tháng tuổi; 9,86- 15,06 % lúc 12 tháng tuổi và 12,58-14,35% lúc 21 tháng tuổi. Độ lệch
chuẩn lớn nhất lúc bê 6 tháng tuổi phản ánh sự khác nhau trong chế độ nuôi dưỡng của các hộ
chăn nuôi khác nhau và/hoặc chất lượng bò cái nền đã có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh
trưởng của bê lai ở cả giai đoạn sau khi cai sữa.
Bảng 2 và Đồ thị 1 cho thấy bê lai ½ Red Angus luôn có khối lượng trung bình (tính chung cả
đực và cái) cao hơn đáng kể bê lai Sind ở tất cả thời điểm theo dõi (P<0,05). Tại thời điểm sơ
sinh, khối lượng bê lai ½ Red Angus cao hơn bê lai Sind 10%; khối lượng lúc 6 tháng tuổi cao
hơn 24,1%; lúc 12 tháng tuổi là 29,7% và 21 tháng tuổi là 30,3%. Như vậy, con lai sinh ra
giữa bò cái Lai Sind với tinh bò đực Red Angus ngoại nhập có khối lượng và tốc độ sinh
trưởng cao hơn đáng kể so với bê lai Sind. Trong đó, mức chênh lệch khối lượng cao nhất đạt
được lúc 18 tháng tuổi khi bê lai ½ Red Angus có khối lượng cao hơn bê lai Sind 32,7%. Đồ thị 1: Mối qua hệ giữa tuổi và khối lượng bê lai thí nghiệm trong giai đoạn 0-630 ngày tuổi
Phương trình hồi qui trình bày trên Đồ thị 1 có hệ số xác định rất cao (R2 = 0,9911 đối với
phương trình áp dụng cho bê lai ½ Red Angus và 0,9908 với phương trình cho bê lai Sind) và
phẩm giống.
Bảng 3. Tăng khối lượng tuyệt đối (g/con/ngày) của bò lai trong các giai đoạn tuổi khác nhau
Lai Sind ½ Red Angus Trung bình Tháng tuổi
Đực Cái Đực Cái ½ RedAngus
Lai Sind
0 – 6 tháng 387
a
±60,4
394
a
±56,3
501
b
±82 503
b
±112,4
502
a
±96,3 391
b
±54,2
6 -12 tháng 315
a
±33,5 238
b
0-21 tháng 335
a
±79,9 337
a
±100,5
486
b
±158,9
440
b
±67,6 459
a
±107,3 336
b
±84
Các giá trị trung bình trong cùng 1 hàng có chỉ số trên bằng chữ khác nhau thì khác nhau (P<0,05)
Bảng 3 cho thấy, trong điều kiện chăn nuôi tại trang trại tập trung tăng khối lượng của bê lai
Sind trong giai đoạn từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi là 387 g/ngày ở con đực và 394g/ngày ở con
cái. Trong giai đoạn 6 đến 12 tháng tuổi tăng khối lượng trung bình đạt 315 g và 238g/ngày
đối với bê đực và bê cái tương ứng. Mức tăng khối lượng trong giai đoạn từ 12 đến 21 tháng
tuổi giảm thấp hơn còn 248g/ngày đối với bê đực và 247g/ngày đối với bê cái. Tính chung
cho cả giai đoạn từ sơ sinh đến 21 tháng tuổi bê lai Sind tăng khối lượng trung bình 335-
337g/ngày và không có sự sai khác giữa bê đực và bê cái.
Tăng khối lượng tuyệt đối của bê lai ½ Red Angus đạt mức trung bình 501-503 g/ngày trong
giai đoạn từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi. Tốc độ tăng khối lượng giảm đi ở giai đoạn tiếp theo đạt
từ 325 g/ngày (con đực) đến 327 g/ngày (con cái). Trong giai đoạn từ 12 đến 21 tháng tuổi bê
đạt tăng khối lượng trung bình 382 g/ngày ở con đực và 316 g/ngày ở con cái. Trung bình
tăng khối lượng cho cả giai đoạn từ sơ sinh đến 21 tháng tuổi của bê lai ½ Red Angus đạt mức
12
tháng
15
tháng
18
tháng
21
tháng
Vòng ngực (Mean ± SD)
Lai
Sind
Đực
61,6
a
±3,87
75,0
a
±2,66
88,6
a
±1,84
103,1
a
±5,18
117,8
a
114,5
a
±3,0
123,5
a
±4,59
131,8
c
±8,75
144,6
a
±7,34
½ Red
Angus
Đực
73,8
b
±6,19
90,8
b
±3,12
106,9
b
102
b
,8
±5,75
115,4
b
±7,46
128,8
b
±5,98
138,9
b
±6,17
151,5
b
±6,78
159,4
b
±8,88
Cao vây (Mean ± SD)
Lai
Sind
Đực
61,0
±2,52
90,3
±4,87
95,3
±2,77
100,7
±3,77
105,9
±4,48
108,9
±4,67
½ Red
Angus
Đực
68,8
b
±1,14
80,1
b
±0,64
89,1
b
±0,61
95,0
±2,06
99,8
Sind
Đực
58,7
a
±1,81
73,0
a
±0,98
83,7
a
±2,39
93,4
a
±3,87
100,9
a
±1,68
105,6
a
±3,39
111,0
a
±5,06
111,4
a
±5,07
½ Red
Angus
Đực
69,1
b
±7,33
83,1
b
±3,27
94,2
b
±4,31
101,1
b
±3,52
107,4
b
±3,61
113,6
110,5
b
±3,27
117,0
b
±2,93
121,8
c
±4,38
Tương ứng với mỗi chỉ tiêu, các giá trị trung bình trong cùng 1 cột có chỉ số trên bằng chữ khác nhau thì khác
nhau (P<0,05)
Như vậy, kết quả xác định kích thước vòng ngực và dài thân chéo là hoàn toàn phù hợp với
kết quả xác định khối lượng bê trình bày ở Bảng 1 và 2; bê lai ½ Red Angus có kích thước
vòng ngực và dài thân chéo lớn hơn, đồng thời khối lượng cũng lớn hơn bê lai Sind cùng tuổi.
Trong cùng một nhóm giống, kích thước các chiều đo của bê đực và bê cái hầu như không có
sự khác nhau đáng kể ngoại trừ chỉ tiêu dài thân chéo của bê lai ½ Red Angus lúc 21 tháng
tuổi (bê đực 128,1 và bê cái 121,8 cm) và chỉ tiêu vòng ngực lúc 18 tháng tuổi và kích thước
cao vây lúc 3 tháng tuổi của bê lai Sind.
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 22-Tháng 2 - 2010 12
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận
Trong điều kiện nuôi tập trung tại trang trại theo phương thức bán chăn thả ở Đăk Lăk, bê lai
Sind đạt khối lượng 138,3 kg (con đực) và 138,8 kg (con cái) lúc 12 tháng và 262,1 kg (con
Kim Cương và Văn Phú Bộ (1995). Kết quả nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng nhanh năng suất
thịt của đàn bò Việt Nam. Nuôi bò thịt. NXB. Nông nghiệp (tr.45-53).
Đinh Văn Tuyền, Nguyễn Quốc Đạt, Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Thanh Bình. (2008). Kết quả bước đầu đánh
giá một số chỉ tiêu sinh sản của đàn cái thuần Brahman và Droughtmaster ngoại nhập và khả năng sinh
trưởng của bê thuần sinh ra từ đàn cái này nuôi tại thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học Công nghệ
Chăn nuôi. Số15 ; tr.20.
Người phản biện: PGS.TS Mai Văn Sánh; TS Trần Trọng Thêm