Báo cáo khoa học : GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA CÂY LÁ GAI LÀM THỨC ĂN CHO GIA SÚC NHAI LẠI - Pdf 15


ĐINH VĂN TUYỀN – Giá trị dinh dưỡng của cây lá gai 1

GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA CÂY LÁ GAI LÀM THỨC ĂN
CHO GIA SÚC NHAI LẠI
Đinh Văn Tuyền*, Phạm Bảo Duy và Hoàng Văn Huy
Bộ môn Dinh dưỡng - Thức ăn và Đồng cỏ
*Tác giả liên hệ: Đinh Văn Tuyền- Bộ môn Dinh dưỡng - Thức ăn và Đồng cỏ
Viện Chăn nuôi - Thụy Phương - Từ liêm – Hà nội
Tel: (04) 37.571.692 / 0982.932.269; Fax: (04) 38.389 775; Email:
ABSTRACT
Nutritional evaluation of ramie foliage as a feed for the ruminant
Biomass potential of ramie foliage was investigated at three sites in Red River Delta through harvesting,
sampling and analyzing for chemical composition. Nutritive values of the leaves (fresh or dried) and whole
plants (fresh) was determined in an in vivo digestibility trial on sheep while the in sacco degradation
characteristic was examined using a ruminally cannulated steer. Results showed that: the yield of ramie foliage
grown in Red River Delta region could be as high as 126 tons of fresh matter/ha/year or 15.6 tons DM/ha/year.
The yield of leaves only could reached 56 tons fresh matter/ha/year or 9.4 tons DM/ha/year. The ramie foliage
either in whole plant or in the leaf portion only had high protein (>21% DM) and ash (19-22% DM) contents
while drying reduced CP content of the leaves. In vivo digestibility of OM, CP, and NDF of fresh leaves was
78.5, 80.9 and 82.6%, respectively; those of dried leaves and whole plants were 63.1, 60.6, 76.1% and 66.1, 75.9,
62.5%, respectively. Estimated ME values of fresh leaves, dried leaves and whole plants were 2428, 1851, and
1992 Kcal/kg DM, respectively; that of PDI values 152.3, 126.4, and 127.1 g/kg DM, respectively. Results of the
study indicated that: ramie foliage has a relatively high nutritional value as a feed for the ruminant.
Key words: ramie foliage, digestibility trial, ruminally cannulated steer
ĐĂT VẤN ĐỀ
Trong thập kỷ vừa qua nền kinh tế Việt nam phát triển khá nhanh với tốc độ tăng GDP hàng
năm trung bình là 7,5%. Do đó nhu cầu về thịt nói chung và thịt bò nói riêng đang tăng cao,

cứu nào nhằm sử dụng cây lá gai làm thức ăn cho gia súc nhai lại. Do đó chúng tôi tiến hành
nghiên cứu này nhằm mục đích khảo sát năng suất chất xanh và chất khô, xác định thành phần
hóa học, đặc điểm phân giải dạ cỏ in sacco, tỷ lệ tiêu hóa in vivo và giá trị dinh dưỡng cho gia
súc nhai lại của cây lá gai trồng tại khu vực Đồng bằng châu thổ sông Hồng.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nội dung khảo sát năng suất chất xanh và chất khô được triển khai trong thời gian 12 tháng từ
tháng 8/2006 đến tháng 8/2007 tại 3 địa điểm ở khu vực Đồng bằng sông Hồng là Hà Tây, Hà
Nội và Nam Định trên các vườn lá gai hiện có với diện tích tối thiểu 100 m2/ vườn. Nội dung
xác định đặc điểm phân giải dạ cỏ và tỷ lệ tiêu hóa in vivo được tiến hành tại Trung tâm Thực
nghiệm và Bảo tồn vật nuôi trong khoảng thời gian từ 5 đến tháng 7 năm 2007.
Vật liệu nghiên cứu
Các ruộng lá gai đã được trồng từ những năm trước là đối tượng để thực hiện nội dung khảo
sát năng suất chất xanh và chất khô của cây lá gai. Gia súc sử dụng để triển khai nội dung xác
định tỷ lệ tiêu hóa in vivo là 5 cừu đực trưởng thành còn gia súc được dùng trong thí nghiệm
xác định đặc điểm phân giải dạ cỏ là bò mổ lỗ dò. Mẫu lá gai tươi và khô dùng trong thí
nghiệm tiêu hóa in sacco và in vivo là mẫu được cắt vào đầu mùa hè (tháng 5-6) và ở độ tuổi
tái sinh là 2 tháng.
Nội dung nghiên cứu
Bao gồm 3 nội dung là khảo sát năng suất chất xanh và chất khô; xác định đặc điểm phân giải
dạ cỏ của các mẫu lá gai khô và lá gai tươi; và xác định tỷ lệ tiêu hóa in vivo và giá trị dinh
dưỡng.
Phương pháp nghiên cứu
Khảo sát năng suất chất xanh và chất khô của cây lá gai
Tiềm năng năng suất của cây lá gai trồng ở khu vực Đồng bằng sông Hồng được khảo sát trên
các vườn lá gai hiện có với diện tích tối thiểu 100 m2/vườn và trong độ tuổi 2 năm (điểm Hà
Nội) đến 4 năm (Hà Tây và Nam Định). Tất cả các vườn khảo sát đều không được bón phân
hữu cơ trong suốt thời gian khảo sát năng suất mà chỉ được bón phân urea ở mức 2 kg/sào/lần
cắt. Năng suất của thân và lá gai tại mỗi vườn được xác định bằng cách cắt toàn bộ phần thân
lá (lúc tán lá phủ kín mặt đất) cách mặt đất khoảng 20 cm trong 5 ô vuông (mỗi ô vuông có

cách đặt túi dưới vòi nước lạnh và vừa rửa vừa bóp nhẹ cho đến khi nước chảy qua túi trong
như khi không rửa túi. Sau đó các túi lại được cho vào máy giặt chạy ở chế độ giặt trong 6
phút và chuyển sang chế độ vắt trong 6 phút tiếp theo rồi lấy ra sấy ở nhiệt độ 60
o
C cho đến
khi khối lượng không đổi. Các túi sau khi sấy được cân để xác định lượng chất khô đã bị phân
giải trong dạ cỏ.
Tỷ lệ tiêu hoá invivo và giá trị dinh dưỡng
Qui trình thí nghiệm tiêu hóa in vivo trên cừu của Bộ môn Dinh dưỡng Thức ăn vật nuôi và
Đồng cỏ, Viện Chăn nuôi, xây dựng dựa trên qui trình của Trường Đại học Công giáo
Louvain (Bỉ), được áp dụng để xác định tỷ lệ tiêu hoá in vivo của lá gai tươi, lá gai khô và
thân lá gai tươi. Lá gai khô được chuẩn bị bằng cách hái (vào mùa hè) và phơi khô lá dưới ánh
nắng mặt trời cho đến khi khô hẳn còn mẫu dạng tươi được cắt vào mùa hè tại thời điểm
khoảng 45 ngày tái sinh. Mỗi dạng thức ăn thử nghiệm được xác định tỷ lệ tiêu hóa của vật
chất khô, chất hữu cơ, protein thô, xơ thô, NDF và ADF trên 5 cừu đực trưởng thành. Giá trị
dinh dưỡng của các loại thức ăn này được xác định từ thành phần hóa học và tỷ lệ tiêu hóa in
vivo của chúng theo các công thức của INRA (1989).
Phương pháp phân tích thành phần hóa học
Hàm lượng chất khô của các mẫu thức ăn và phân được xác định bằng phương pháp sấy khô ở
nhiệt độ 103±2
o
C trong thời gian 4-5h theo TCVN 4326-86. Hàm lượng khoáng được xác
định thông việc đốt mẫu trong lò nung ở nhiệt độ 550
o
C trong 4.5h và hàm lượng chất hữu cơ
là phần chênh lệch giữa chất khô và khoáng. Hàm lượng protein thô được tính toán trên cơ sở
xác định hàm lượng nitơ tổng số bằng phương pháp Mirco Kjeldahl, theo TCVN 4328 – 2001.
Hàm lượng NDF và ADF được xác định bằng phương pháp của Van Soest và Wine (1967).
Xử lý số liệu
Số liệu khảo sát năng suất chất xanh và chất khô của cây gai được tính toán xác định giá trị

NS
Thân lá
FW 18,9 18,7 15,6 15,9 20,5 19,4 16,8 18,0±1,86 125,9

DM 2,3 2,3 1,9 2,0 2,5 2,4 2,1 2,2±0,23 15,6
OM 1,9 1,9 1,6 1,6 2,1 1,9 1,7 1,8±0,18 12,6
CP 0,50 0,49 0,41 0,42 0,54 0,51 0,44 0,47±0,05 3,3

FW 8,1 7,2 8,0 9,7 7,3 9,2 6,6 8,0±1,11 56,1
DM 1,4 1,2 1,3 1,6 1,2 1,6 1,1 1,4±0,19 9,4
OM 1,1 1,0 1,1 1,3 1,0 1,2 0,9 1,1±0,15 7,5
CP 0,35 0,31 0,34 0,42 0,31 0,40 0,28 0,34±0,048

2,4
Năng suất chất khô của cây lá gai khảo sát được trong nghiên cứu này thấp hơn năng suất của
các giống cỏ năng suất cao như cỏ voi (40 tấn/ha) và cỏ xả (27,9 tấn/ha) nhưng tương đương
với năng suất của một số cây thức ăn họ đậu như cây keo dậu (13,7 tấn/ha) và cỏ stylo (15,9
tấn/ha) (Nguyễn Văn Quang và cs, 2005. Wood (1999) cũng cho rằng cây lá gai có thể cho
năng suất cao với 6 lứa cắt/năm.
Thành phần hóa học của cây lá gai
Thành phần hóa học của thân lá và riêng lá cây gai được xác định trên 5 lần lặp lại trong tổng
số 7 lứa cắt trong năm và được trình bày ở Bảng 2.
Bảng 2. Thành phần hóa học của thân lá gai tươi (TLGT), lá gai tươi (LGT) và lá gai khô
(LGK)
Thành phần
CP Mỡ

thô
NDF ADF
Khoáng

40
50
60
70
80
90
100
4 8 16 24 48 72
Thời gian ủ trong dạ cỏ (giờ)
Tốc độ phân giải (%)
lá gai khô
lá gai tươi
thân lá gai

Đồ thị 1. Đường cong phân giải chất khô của lá gai tươi (■), thân lá gai tươi (▲), và lá gai khô (●)
Đường cong phân chất khô trình bày ở Đồ thị 1 và tiềm năng phân giải dạ cỏ trình bày Bảng 3
của các mẫu lá gai dạng tươi và khô cho thấy lá gai tươi có tiềm năng phân giải dạ cỏ cao nhất
(91,5%) và lá gai khô có tiềm năng phân giải thấp nhất (75,1%). Tương tự, tốc độ phân giải dạ
cỏ của chất khô trong lá gai tươi và thân lá gai tươi (c =0,129 và 0,134) cao hơn rất nhiều so
với lá gia khô (c = 0,045).
Bảng 3. Tiềm năng và tốc độ phân giải dạ cỏ của chất khô trong thân lá gai tươi (TLGT), lá
gai tươi (LGT) và lá gai khô (LGK)
1

Tỷ lệ (%) Thành phần
Chỉ tiêu A (%) b (%) c (phần/h)
TLGT 22,3 60,0 0,134
LGT 11,7 79,5 0,129
LGK 7,3 67,8 0,045
1

lá gai khô (126,4 g/kg chất khô). Tuy nhiên, giá trị PDIN cao hơn giá trị PDIE ở tất cả các
dạng thức ăn từ cây lá gai cho thấy khi sử dụng các dạng thức ăn này cho gia súc nhai lại thì
hàm lượng năng lượng của khẩu phần có thể sẽ là yếu tố hạn chế đến sự phát triển của vi sinh
vật dạ cỏ.
Bảng 5. Giá trị năng lượng và protein của thân lá gai tươi (F-WP), lá gai tươi (F-L) và lá gai
khô (D-L)
Giá trị năng lượng
(kcal/kgDM)
1
UFL
2
Giá trị protein

(g/kgDM)
3
Chỉ tiêu
GE DE ME PDI PDIN PDIE
F-WP 4101 2580 1992 0,670 127 151 127
F-L 4127 3112 2428 0,850 152 183 152
D-L 3958 2369 1851 0,620 126 156 126
1
GE= Năng lượng thô; DE = Năng lượng tiêu hóa; ME =Năng lượng trao đổi
2
; Đơn vị năng lượng thuần cho
tạo sữa ; PDI = Protein tiêu haá ở ruột; PDIN = giá trị PDI khi protein là yếu tố hạn chế; PDIE = giá trị PDI
khi năng lượng là yếu tố hạn chế.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận
Năng suất ước tính của cây lá gai trồng tại khu vực Đồng bằng sông Hồng là 126 tấn chất
xanh hoặc 15,6 tấn chất khô/ha/năm. Năng suất ước tính của riêng thành phần lá đạt 56 tấn

Van Soest PJ and Wine RH, (1967). Use of detergents in the analysis of fibrous feeds. IV. Determination of plant
cell wall constituents. Journal of the Association of Official Analytical Chemists 50, p.50-55.
Viện Chăn nuôi, (2001). Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thức ăn cho gia súc gia cầm. NXB Nông
nghiệp. Hà Nội, Việt Nam
VSI International (2007). Genstat Discovery 3.
Wood I, (1999). Ramie: the different bast fibre crop. The Australian new crops newsletter. Issue No 11, 1999.

*Người phản biện: TS. Mai Văn Sánh; Ths: Nguyễn Văn Quang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status