LUẬN VĂN: Định hướng và giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Thăng Bình - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Định hướng và giải pháp hạn chế rủi ro
trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn chi
nhánh Thăng Bình
Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

hạn chế, chưa tiếp cận được các phương pháp quản lý RRTD của ngân hàng hiện đại.
Chính vì thế, chất lượng của các khoản mục cho vay chưa cao, nguy cơ rủi ro tiềm ẩn của
các khoản mục tín dụng luôn đe doạ ngân hàng, nợ quá hạn còn phát sinh còn ở mức cao.
Chính sự e ngại rủi ro làm cho việc mở rộng quy mô tín dụng thường gặp nhiều khó khăn.
Do vậy, việc nghiên cứu giải pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại
NHNo&PTNT chi nhánh Thăng Bình là cấp thiết và luôn có ý nghĩa thực tiễn. Đó cũng
chính là lý do cơ bản của việc lựa chọn đề tài: “Định hướng và giải pháp hạn chế rủi ro
trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh
Thăng Bình”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, hệ
thống ngân hàng nước ta được chuyển đổi từ hệ thống ngân hàng 1 cấp sang hệ thống ngân
hàng 2 cấp, hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và kinh doanh tín dụng nói riêng
được xác lập và phát triển. Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về rủi ro TDNH và
quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM. Trong số đó có một số công trình đáng
chú ý sau:
- “Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng thúc đẩy
phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh ở thủ đô Hà Nội” (1997). Luận văn thạc sĩ Kinh
tế của Lê Anh Hào, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
- “Đổi mới hoạt động tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp nhằm phát triển nông
nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” (1999). Luận văn thạc sĩ của tác giả Võ
Văn Lâm, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
- “Giải pháp quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Công thương Thái Bình”
(2002). Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Quang Dũng, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
- “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng Công thương
Việt Nam” (2004), Luận văn thạc sĩ Kinh tế của tác giả Mai Văn Hoạt. Học viện Chính trị

Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
- “Nâng cao chất lượng tín dụng tại sở giao dịch I Ngân hàng Công thương Việt Nam-

Một số phương pháp khác.
6. Những đóng góp của đề tài
- Hệ thống hoá được các vấn đề lý luận cơ bản về RRTD và hạn chế rủi ro trong
hoạt động tín dụng của NHTM.
- Đánh giá thực trạng về RRTD và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của
NHNo&PTNT chi nhánh Thăng Bình trong thời gian qua, đồng thời phân tích những kết
quả đạt, những tồn tại, hạn chế trong việc hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng và những
nguyên nhân chủ yếu.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của
NHNo&PTNT chi nhánh Thăng Bình.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kiến nghị, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 8 tiết. Chương 1
một số vấn đề về rủi ro tín dụng và hạn chế
rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

Như vậy, theo quan niệm hiện đại, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được. Quan
niệm này cho rằng rủi ro có thể mang đến tổn thất, mất mát, nguy hiểm cho con người
nhưng cũng có thể mang đến những cơ hội. Vì vậy, có thể nói, rủi ro vừa mang tính tích
cực, vừa mang tính tiêu cực.
* Trong kinh doanh người ta thường đề cập đến 2 khái niệm rủi ro sau:
- Rủi ro thuần túy là rủi ro chỉ mang lại những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm như
hỏa hoạn, trộm cắp, tai nạn, , làm phát sinh một khoản chi phí để bù đắp thiệt hại. Vì vậy,
loại rủi ro này cần phải có biện pháp phòng tránh hoặc hạn chế.
- Rủi ro suy tính (hay theo lý thuyết của A.M.Mowbray Blanchad Williams còn gọi
là rủi ro mang tính đầu cơ) là rủi ro mà trong đó những cơ hội tạo ra thuận lợi gắn với
những nguy cơ gây ra tổn thất, loại rủi ro này là động lực thúc đẩy hoạt động kinh doanh
và có tính hấp dẫn của nó.
Để có biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong kinh doanh, người ta thường phân
loại rủi ro theo nguồn rủi ro (theo nguyên nhân), có những nguồn rủi ro như sau:
+ Rủi ro do môi trường thiên nhiên. Nhóm rủi ro này do các hiện tượng thiên nhiên
như động đất, núi lửa, bão lũ, , gây ra. Những rủi ro này thường dẫn đến những thiệt hại
to lớn về người và tài sản.
+ Rủi ro do môi trường xã hội. Nhóm rủi ro này do sự thay đổi các chuẩn mực, hành
vi con người, cấu trúc xã hội, các định chế, gây ra.
+ Rủi ro do môi trường văn hóa. Là những rủi ro do thiếu hiểu biết về phong tục tập
quán, tín ngưỡng, lối sống, đạo đức của dân tộc, từ đó có cách hành xử không phù hợp.
+ Rủi ro do môi trường chính trị. Nhóm rủi ro này do sự bất ổn của môi trường
chính trị. Môi trường chính trị ổn định sẽ giảm thiểu rất nhiều rủi ro cho các doanh nghiệp.
+ Rủi ro do môi trường luật pháp. Luật pháp đề ra các chuẩn mực mà mọi người phải
thực hiện, tuy nhiên, xã hội luôn phát triển, nếu các chuẩn mực luật pháp không phù hợp với

bước tiến của xã hội thì sẽ gây ra rủi ro. Ngược lại, nếu luật pháp thay đổi nhiều, không ổn
định cũng gây ra khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp.
+ Rủi ro do môi trường kinh tế. Mọi hiện tượng diễn ra trong môi trường kinh tế như
tốc độ phát triển kinh tế, khủng hoảng, lạm phát, suy thoái kinh tế, , đều ảnh hưởng trực

phải trong trường hợp nền kinh tế không ổn định, ngân hàng không có tín nhiệm đối với
khách hàng, hay do cơ cấu lãi suất không phù hợp.
- Rủi ro do thiếu vốn. Trường hợp ngân hàng không đủ ngân quỹ, các tài sản có lưu
hoạt, cùng với việc gia tăng vốn từ các nguồn vốn khác khiến nó không đáp ứng được các
nghĩa vụ chi trả và các ràng buộc về tài chính. Nguyên nhân của rủi ro này là do việc hoán
chuyển kỳ hạn nguồn vốn và sử dụng vốn, do sự biến động mang tính chất thời vụ của
người cần vay và người cần gởi, những biến động mang tính chất bất thường không dự
đoán được. Từ đó, làm cho ngân hàng không nhận được tiền gởi, không thu được hay
không mở rộng được các tài sản nợ để thực hiện các nghĩa vụ trên, từ đó gây mất lòng tin
cho khách hàng, làm cho nhu cầu rút tiền ngày càng gia tăng. Để đối phó với trường hợp
này, ngân hàng buộc phải thu hồi các khoản vay chưa đến hạn, bán lại các chứng khoán
hay vay nóng các ngân hàng khác, Tất cả những hoạt động này gây thiệt hại lớn cho
ngân hàng, nếu trầm trọng, sẽ đưa ngân hàng đến bên bờ vực phá sản.
- Rủi ro lãi suất. Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất của các khoản tiền vay được
xem là giá cả của món vay, lãi suất được hình thành và chịu tác động của các quy luật kinh
tế khách quan, như quy luật cung cầu, quy luật giá trị, Vì vậy, lãi suất luôn biến động
làm thay đổi tiền lãi, thu nhập của ngân hàng, có thể làm cho hoạt động kinh doanh của
ngân hàng bị thua lỗ.
- Rủi ro hối đoái. Tỷ giá hối đoái là giá cả của 1 đồng tiền tính ra một đồng tiền
khác. Trong nền kinh tế thị trường, tỷ giá luôn biến động, sự biến động tỷ giá sẽ làm cho
tài sản, thu nhập của ngân hàng bị đe dọa khi ngân hàng sở hữu chứng khoán bằng ngoại tệ
hay cho vay bằng ngoại tệ.
- Rủi ro thuần túy. Đây là những rủi ro không lường trước được, liên quan đến thiên
tai, hỏa hoạn, động đất, và liên quan đến đạo đức như lừa đảo, trộm cắp làm thiệt hại hay
phá hủy tài sản của ngân hàng.
- Rủi ro mất khả năng thanh toán. Đây là rủi ro riêng có của ngân hàng, nó liên

quan đến sự sống còn của doanh nghiệp ngân hàng. Rủi ro này thường là hậu quả của một
hay nhiều rủi ro trên mà ngân hàng không lường được. Khi vốn tự có của ngân hàng không
bù đắp được các khoản mất mát, thiệt hại thì sẽ dẫn đến vỡ nợ.

tiền nhỏ lẻ, nhàn rỗi ở các nơi trong nền kinh tế. Để thực hiện được, ngân hàng cần phải
tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi, dể dàng trong việc rút và gởi tiền của các đối tượng này
như đa dạng các hình thức huy động, đa dạng các thời hạn gởi, cung cấp các dịch vụ tiện
ích, sử dụng các công cụ lãi suất hay các hình thức khuyến khích bằng vật chất khác.
Trong mối quan hệ này, khách hàng với tư cách là người ủy nhiệm cho ngân hàng bảo
quản tiền của mình, khách hàng không mất quyền sở hữu, ngân hàng phải đảm bảo nhu
cầu rút tiền và các điều kiện khác cho khách hàng như đã thỏa thuận ban đầu.
Đối với người đi vay (thiếu vốn). NHTM sau khi đã thu hút được các nguồn vốn sẽ
đem cho những người có nhu cầu về tiền trong nền kinh tế sử dụng vào các mục đích như
đầu tư vào SXKD hay tiêu dùng. Để bù đắp chi phí hoạt động và có lãi, ngân hàng phải thu
ở người đi vay một khoảng lãi với lãi suất lớn hơn lãi suất trả cho người gởi.
Như vậy, với hoạt động kinh doanh của ngân hàng chủ yếu dựa vào nguồn vốn huy
động bên ngoài để cho vay, quy mô của nguồn vốn huy động lớn hay bé sẽ quyết định quy
mô kinh doanh và lợi nhuận mang lại cho ngân hàng. Nói cách khác ngân hàng sử dụng
nguồn vốn của người khác cho người khác vay nhằm kiếm lời cho mình, mà việc hoàn trả
vốn lại cho những người gởi tiền này hoàn toàn phụ thuộc vào những người đi vay. Nếu
người đi vay gặp phải rủi ro không trả được nợ cho ngân hàng thì ngân hàng sẽ không thể
nào hoàn trả lại cho người gởi. Vậy, có thể khẳng định, RRTD của ngân hàng phụ thuộc
khá lớn vào rủi ro của khách hàng mà ngân hàng cho vay. Hay nói cách khác “sức khỏe”
của ngân hàng phụ thuộc khá lớn vào “sức khỏe” của khách hàng, “sức khỏe” của khách
hàng tốt thì “sức khỏe” của ngân hàng mới tốt.
- Rủi ro tín dụng của NHTM là loại rủi ro mang tính đa dạng, phức tạp. Trong hoạt
động kinh doanh tín dụng, mục tiêu chủ yếu của ngân hàng là tìm kiếm lợi nhuận trên cơ
sở phục vụ các nhu cầu tín dụng của cộng đồng, đồng thời phải đảm bảo sự an toàn vốn,
đảm bảo hoàn trả cho người gởi tiền. Tuy nhiên nhu cầu tín dụng của khách hàng hoạt
động trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, mỗi lĩnh vực, mỗi ngành nghề có những
đặc thù riêng và nguy cơ rủi ro khác nhau, rất đa dạng và phức tạp nên RRTD của ngân
hàng cũng rất đa dạng, phức tạp. Thông thường các khoản cho vay có khả năng sinh lời

cao thì mức độ rủi ro cao. Hơn nữa, trước nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất, cải tiến

lại được nợ vay. Ngược lại, cũng do lựa chọn đối nghịch, ngân hàng sẽ bỏ mất cơ hội kiếm
lợi nhuận. Như vậy muốn mở rộng tín dụng và hạn chế được rủi ro, ngân hàng cần phải
vượt qua được thông tin không cân xứng để có sự lựa chọn đúng đắn. Vì vậy, vấn đề thông
tin được xem là vấn đề quan trọng nhất để phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong cho vay của
ngân hàng.
Thông tin không cân xứng dẫn đến rủi ro đạo đức. Rủi ro này cũng do thông tin
không cân xứng, không đầy đủ tạo ra và diễn ra sau khi thực hiện giao dịch tài chính. Trên
thị trường có rất nhiều người vay tiền có ý muốn thực hiện những hoạt động không đạo
đức (xét trên quan điểm người cho vay), một khi những người này vay được tiền, họ có thể
đầu tư vào những dự án rủi ro cao hoặc sử dụng vốn không đúng với cam kết ban đầu hoặc
có ý định chiếm đoạt vốn của ngân hàng. Những người đi vay này, có thể ngay từ ban đầu
đã có hành vi thiếu đạo đức, nhưng cũng có thể xuất hiện trong quá trình sử dụng vốn vay,
tức là do trình độ quản lý, khả năng cạnh tranh cũng như năng lực kinh doanh yếu kém dẫn
đến thất bại trong kinh doanh mà nảy sinh hành vi thiếu đạo đức. Ngân hàng lúc đó sẽ bị
đặt vào tình cảnh nguy cơ gặp phải rủi ro. Nếu ngân hàng không thận trọng trong việc
thẩm định cho vay và kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng thì nguy cơ rủi
ro cho vay là rất lớn. Song cùng với nó, nếu ngân hàng quá thận trọng trong việc cho vay,
không cho vay hoặc đột ngột cắt đứt hợp đồng tín dụng thì lại bị thiệt hại về lợi nhuận vì
nguồn vốn huy động phải trả lãi và lớn hơn là mất uy tín với khách hàng. Vì vậy, giải
quyết tốt vấn đề về đánh giá, chọn lọc khách hàng và kiểm soát trong quá trình cho vay sẽ
giúp ngân hàng mở rộng hoạt động tín dụng, đồng thời sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu đến
mức thấp nhất RRTD.
Như vậy, để thoát khỏi nguy cơ bị vỡ nợ và thoát khỏi một cuộc hoảng loạn ngân
hàng, để tăng thu và trụ vững trên thương trường, buộc lòng các ngân hàng phải vượt qua
vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Vì vậy, vấn đề thông tin tín dụng, chọn lọc
khách hàng và kiểm soát trong quá trình cho vay là những vấn đề có vai trò hết sức quan
trọng trong việc ngăn ngừa và hạn chế RRTD của NHTM.
- Sự tác động của các quy luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường đối với ngân hàng
và khách hàng là nguyên nhân gây ra RRTD của ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, sự quản lý của Nhà nước chỉ mang tính định hướng.

vốn có khả năng trả nợ kém vẫn được ngân hàng chấp nhận nên nguy cơ RRTD của ngân

hàng sẽ gia tăng. Do vậy, RRTD luôn gắn liền với việc mở rộng và gia tăng quy mô hoạt
động tín dụng.
- Sự bất ổn của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội là nguyên nhân gây ra RRTD
Bất kỳ một lĩnh vực kinh doanh nào cũng đều chịu sự chi phối của môi trường xung
quanh. Mỗi sự biến động dù lớn hay nhỏ của môi trường cũng ảnh hưởng tốt hay xấu đến
hoạt động kinh doanh. Môi trường kinh tế luôn ảnh hưởng đến sức mạnh tài chính của
người vay, vì vậy cũng ảnh hưởng đến khả năng thu nợ của các NHTM. Trong giai đoạn
kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp thường kinh doanh thuận lợi, lợi nhuận tăng trưởng
nhanh. Trái lại, trong giai đoạn khủng hoảng, sức mua giảm, luân chuyển vốn chậm dẫn
đến khả năng hoàn trả của người vay giảm sút. Tuỳ theo mức độ nghiêm trọng của khủng
hoảng và thời gian ảnh hưởng của nó đến các doanh nghiệp mà tạo ra khả năng thanh toán
các khoản nợ ở mức khác nhau.
Ngày nay, nền kinh tế của các nước trên thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau. Vì
vậy, khi biến động về kinh tế, chính trị của 1 quốc gia nào, một khu vực nào đó cũng sẽ
ảnh hưởng không nhỏ đến các yếu tố đầu vào, đầu ra và ảnh hưởng đến thu nhập và khả
năng trả nợ vay cho ngân hàng.
- Sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước là nguyên nhân dẫn đến RRTD
Nhà nước thường sử dụng các chính sách kinh tế tác động vào tổng sản phẩm quốc
dân, công ăn việc làm, tiền lương, lãi suất, lạm phát, tỷ giá Tùy thuộc vào từng thời kỳ
mà Nhà nước sử dụng chính sách kinh tế khác nhau, sự thay đổi về cơ chế chính sách của
Nhà nước sẽ tác động đến các cá nhân, tổ chức kinh tế, làm thay đổi mọi dự kiến ban đầu
của họ nên có thể ảnh hưởng khả năng trả nợ của họ cho ngân hàng.
- Những sự kiện bất khả kháng cũng là nguyên nhân gây ra RRTD
Những sự kiện này ngân hàng rất khó có thể dự báo, lường trước được như hiện
tượng thiên nhiên bất thường (bão lụt, động đất, núi lửa), hỏa hoạn hay các hành vi lừa
đảo, ăn cắp, cướp giật, gây thiệt hại cho khách hàng vay vốn và hậu quả là ngân hàng
phải gánh chịu hay nó gây thiệt hại trực tiếp về tài sản của chính bản thân ngân hàng. Đối
với những rủi ro này, ngân hàng phòng ngừa bằng các biện pháp như mua bảo hiểm, tăng

chặt, thu hẹp quy mô tín dụng của mình. Điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiếp
cận vốn ngân hàng của khách hàng nên việc mở rộng kinh doanh, phát triển doanh nghiệp

sẽ gặp khó khăn. Vì vậy, rủi ro TDNH sẽ ảnh hưởng sâu rộng đến mọi doanh nghiệp trong
mọi lĩnh vực cũng như mọi tầng lớp dân cư trong xã hội.
- Hậu quả đối với nền kinh tế-xã hội
Hoạt động ngân hàng là hoạt động mang tính xã hội cao, vì vậy, khi một ngân hàng
suy yếu do hậu quả của RRTD, sẽ dễ dàng tạo ra phản ứng dây chuyền đối với các ngân
hàng, các định chế tài chính khác, dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng,
kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống kinh tế - xã
hội.
Tóm lại, nguy cơ và mức độ thiệt hại do RRTD của ngân hàng gây ra thật là to lớn.
Không những vậy, RRTD của ngân hàng lại mang tính hệ thống. Do đó, việc phòng ngừa
và hạn chế RRTD của ngân hàng, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh tín dụng của ngân
hàng an toàn là vấn đề vô cùng trọng đại, không chỉ là công việc thường xuyên và quan
trọng của mỗi một ngân hàng riêng lẽ mà còn là vấn đề của toàn hệ thống ngân hàng trong
nền kinh tế thị trường.
1.1.3. Các chỉ tiêu đo lường về RRTD của ngân hàng thương mại
Các khoản cho vay không thanh toán đúng hạn hay không thể thu hồi được gọi là
nợ quá hạn (khoản cho vay có vấn đề) và đây chính là biểu hiện của RRTD. Nợ quá hạn là
khoản nợ mà thời gian tồn tại của nó vượt quá thời gian cho vay theo thoả thuận cộng với
thời gian gia hạn thêm nếu khách hàng có yêu cầu. Có hai loại nợ quá hạn:
- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi. Là những khoản nợ mà người vay có khả năng
vẫn tiếp tục trả nợ ngân hàng. Lý do của khoản nợ bị chậm trễ vì chu kỳ sản xuất của
doanh nghiệp mang tính thời vụ hoặc doanh nghiệp gặp rủi ro về thiên tai, hoả hoạn bất
ngờ.
- Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi (nợ khó đòi, nợ xấu). Là khoản nợ mà
người đi vay rất ít khả năng trả nợ ngân hàng, nhiều khả năng ngân hàng bị mất vốn. Lý do
của khoản nợ này có thể là doanh nghiệp làm ăn thua lỗ dẫn đến phá sản và không trả được
nợ ngân hàng hoặc do người vay lừa đảo, cố tình chiếm dụng vốn ngân hàng.

RRTD của ngân hàng. Khi hai chỉ tiêu này tăng, RRTD sẽ tăng, ngân hàng có thể đứng
bên bờ vực phá sản. Tuy nhiên, kết luận này chỉ đúng nếu như việc thu hồi nợ được tiến
hành theo đúng nghĩa của nó. Đôi khi doanh số thu nợ không phản ánh số thực thu mà là
con số giả tạo do ngân hàng tìm mọi cách để có nó, còn thực tế thì ngược lại. Ngân hàng


n
ợ quá hạn

Tổng dư nợ tín
d
ụng

Tỉ lệ nợ
quá h
ạn

=



n
ợ khó
đ
òi

Tổng dư nợ tín
d
ụng


dụng và định hướng danh mục đầu tư tín dụng của ngân hàng. Nội dung của chính sách tín
dụng bao gồm các yếu tố như hạn mức cho vay đối với một khách hàng, kỳ hạn cho vay,
lãi suất, mức lệ phí, các hình thức cho vay được thực hiện, tài sản thế chấp, khả năng thanh
toán nợ của khách hàng, hướng giải quyết phần tín dụng quá hạn hay các khoản vay có vấn
đề, Tùy theo đặc điểm cụ thể của từng ngân hàng mà nhà quản lý có thể bổ sung thêm
một số yếu tố phù hợp. Chính sách tín dụng của ngân hàng sẽ giúp cho CBTD biết được họ

phải làm gì và làm như thế nào khi thực hiện một khoản cho vay, trách nhiệm của họ tới
đâu. Ngoài ra, chính sách tín dụng sẽ giúp ngân hàng đạt được một danh mục tín dụng đa
mục đích như tăng khả năng sinh lợi, kiểm soát tiềm ẩn rủi ro và đáp ứng được các đòi hỏi
từ phía nhà quản lý. Với chính sách tín dụng đúng đắn, hợp lý, linh hoạt thì ngân hàng đó
sẽ thành công trong việc thực hiện mục tiêu mở rộng và đảm bảo chất lượng của các khoản
tín dụng. Ngược lại, nếu chính sách tín dụng của ngân hàng không hợp lý thì ngân hàng rất
khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng.
- Chất lượng thẩm định và quy trình cho vay
Quá trình cho vay được bắt đầu từ khâu thẩm định cho vay, giải ngân, kiểm tra quá
trình sử dụng vốn vay đến khi thu hồi được nợ. Thẩm định cho vay là khâu quan trọng nhất
quyết định đến việc tăng hay giảm RRTD đối với mỗi khoản vay, làm tốt khâu này sẽ tạo
tiền đề để cho việc thu hồi cả vốn và lãi khi đến hạn thanh toán, tạo điều kiện cho vốn tín
dụng luân chuyển nhanh. Tuy nhiên, thẩm tín dụng khó đạt đến mức có thể dự đoán hoàn
toàn chính xác về một khoản vay có được hoàn trả đúng hạn hay không, mặc dù mục đích
của ngân hàng là chỉ thực hiện các khoản cho vay tốt nhưng phải thừa nhận là đã có sai
lầm trong quá trình xét duyệt cho vay.
Khi quyết định cho vay, ngân hàng phải tính đến sự an toàn của vốn vay, khả năng
hoàn trả vốn vay, khả năng sinh lợi của vốn tín dụng. Muốn vậy, phải thực hiện tốt quy
trình cho vay, điều này sẽ hạn chế được điều bất lợi xảy ra và đảm bảo được độ an toàn
của đồng vốn. Trên thực tế, nhiều khi ngân hàng đã không chấp hành đầy đủ, nghiêm
chỉnh các quy trình nghiệp vụ cho vay, như: Thực hiện không đầy đủ các nguyên tắc, thể lệ
cho vay, không có khả năng hoặc sự phân tích các báo cáo tài chính chưa chính xác, xác
định kỳ hạn các khoản cho vay không thích hợp, thiếu sự giám sát sau khi cho vay sẽ dẫn

nhu cầu vốn hợp lý, hiệu quả hoạt động SXKD, khả năng trả nợ, giá trị tài sản thế chấp
Ngoài ra, các thông tin gián tiếp như tình hình kinh tế xã hội, thông tin về xu hướng phát
triển và khả năng cạnh tranh của ngành nghề. Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam hiện
nay, việc tìm kiếm thông tin một cách chính xác, kịp thời rất khó khăn. Trên thực tế tại
Việt Nam đã có nhiều khoản tín dụng bị rủi ro do thiếu thông tin như: một khách hàng sử
dụng một tài sản thế chấp để vay vốn nhiều ngân hàng hoặc thành lập công ty con để lấy
danh nghĩa lừa vay vốn của ngân hàng hay khách hàng sử dụng phương án SXKD giả để
vay vốn mà ngân hàng không nhận biết được.

- Công tác quản lý, tổ chức, kiểm soát nội bộ
Thông qua công tác tổ chức kiểm tra, kiểm soát nội bộ giúp cho cán bộ điều hành
công việc theo đúng cơ chế, quy chế và đúng pháp luật, nắm rõ được thông tin về những
khoản vay, tránh tình trạng khách hàng vay vốn sử dụng sai mục đích. Việc kiểm soát nội
bộ không được thực hiện hoặc thực hiện không thường xuyên, kịp thời thì những sai sót,
lệch lạc trong hoạt động cho vay sẽ không được phát hiện và không có biện pháp khắc
phục kịp thời, do vậy RRTD sẽ xảy ra.
Ngoài ra, công tác quản lý, tổ chức được tiến hành chặt chẽ, khoa học; các bộ phận
phòng ban chức năng được tổ chức chặt chẽ, xây dựng được mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ,
phối hợp thông tin cho nhau trong hoạt động sẽ giúp cho hoạt động tín dụng của ngân hàng
diễn ra một cách lành mạnh, hiệu quả. Ngược lại, sẽ tạo khe hở, điều kiện để cho CBTD và
khách hàng câu kết với nhau, từ đó, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng không thể lường
hết cho ngân hàng. Thực tế cho thấy, danh mục tín dụng của ngân hàng phá sản đều có vấn
đề. Nợ quá hạn tăng cao làm giảm thu nhập, tăng chi phí tổn thất tín dụng và các chi phí
khác đã đẩy ngân hàng rơi vào tình trạng thua lỗ. Vấn đề nợ quá hạn do nhiều yếu tố khác
nhau, trong đó, khâu tổ chức quản lý, kiểm tra, kiểm soát tín dụng của ngân hàng phá sản
không hợp lý, không tôn trọng các nguyên tắc hoạt động tín dụng, việc phối hợp giữa các
bộ phận chức năng của ngân hàng không tốt là các vấn đề thường bộc lộ rõ nhất.
- Cơ sở vật chất và công nghệ ngân hàng
Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, với sự xuất hiện ngày càng nhiều các
trung gian tài chính như các quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm, quỹ tương trợ, quỹ trợ cấp

liệt kê trên cơ sở đặt ra các nghi vấn về nguồn gốc của rủi ro, cơ chế gây ra rủi ro. Từ đó
loại bỏ những nghi vấn không có cơ sở hoặc không rõ ràng, giữ lại và phát hiện những
nghi vấn mới, có cơ sở. Chẳng hạn như thiết lập bảng liệt kê RRTD theo nguồn rủi ro năng
lực tài chính của khách hàng như sau (bảng 1.1):
Bảng 1.1. RRTD theo nguồn rủi ro năng lực tài chính của khách hàng
Nghi vấn về điều kiện rủi ro Cơ chế gây ra rủi ro
1. Khả năng tài trợ

2. Khả năng thanh toán
Hệ số nợ cao thì sức chịu đựng của doanh nghiệp
thấp, rủi ro cao
Khả năng thanh toán thấp, nguy cơ rủi ro phá sản cao

3. Khả năng sinh lợi

Tỷ suất sinh lợi thấp, khả năng không trả nợ cao - Phương pháp lưu đồ. Đây là phương pháp khá quan trọng để nhận dạng RRTD.
Theo phương pháp này, người ta tiến hành xây dựng một dãy lưu đồ về các khâu trong quá
trình cho vay. Qua đó, ngân hàng sẽ xác định được rủi ro xảy ra đối với từng khâu rõ ràng
và chính xác hơn như sơ đồ 1.1.
Sơ đồ 1.1: Lưu đồ các nguồn rủi ro trong quá trình xét duyệt cho vay
- Phương pháp phân tích báo cáo tài chính. Đây là phương pháp thông dụng mà

l
ực tài
Vị thế
kinh

ngân hàng có thể gặp phải khi cấp tín dụng.
1.2.1.2. Phân tích rủi ro tín dụng
Sau khi nhận dạng và liệt kê tất cả rủi ro có thể xảy ra khi cấp tín dụng, công việc
tiếp theo là tiến hành phân tích rủi ro, xác định được nguyên nhân gây ra rủi ro. Theo lý
thuyết “DOMINO” của H.W. Henrich, để tìm ra biện pháp phòng ngừa hữu hiệu thì cần
phải phân tích rủi ro, tìm ra nguyên nhân rồi tác động đến nguyên nhân, thay đổi chúng, từ
đó sẽ phòng ngừa được rủi ro như sơ đồ 1.2.
Sơ đồ 1.2. Mô tả chuỗi DOMINO của Henrich

Nguồn: [25, tr. 49]
1.2.1.3. Các mô hình đo lường rủi ro tín dụng
Đo lường RRTD là việc xác định tần số, xác suất RRTD xảy ra hoặc mức độ tổn
thất. Ngân hàng có thể sử dụng nhiều mô hình khác nhau để đo lường RRTD. Một số mô
hình thường được ngân hàng sử dụng.
- Mô hình đo lường RRTD bằng định tính. Theo mô hình này, ngân hàng dựa trên
các thông tin thu thập về khách hàng để đo lường mức độ RRTD khi cấp tín dụng. Các
ngân hàng thường sử dụng tiêu chuẩn CAMPARI hoặc tiêu chuẩn 5C.
+ Tiêu chuẩn CAMPARI: Character (tư cách của người vay), Ability (năng lực của
người vay), Margin (lãi cho vay), Purpose (mục đích vay), Amount (số tiền vay),

Trích đoạn Bảng 3.1: Bảng liệt kờ nguồn rủi ro thụng tin Bảng 3.2: Bảng liệt kờ nguồn rủi ro khỏch hàng Bảng 3.3: Bảng liệt kờ nguồn rủi ro nhõn viờn ngõn hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status