LUẬN VĂN: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng Công Thương Hoàn Kiếm pot - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín
dụng trung dài hạn của Ngân hàng Công
Thương Hoàn Kiếm

Chương I: những vấn đề lý luận về hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân
hàng thương mại

1.1/Ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân hàng
thương mại
1.1.1/ KHái quát chung về hệ thống Ngân hàng thương mại

1.1.1.1/Khái niệm ngân hàng thương mại.


-Hoạt động cho vay đầu tư.
-Hoạt động trung gian và các loại hình dịch vụ khác
 .Hoạt động huy động vốn.
Hoạt động huy động vốn là một hoạt động quan trọng của các doanh nghiệp nói
chung và đặc biệt là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ như ngân
hàng.Hoạt động này bao gồm huy động các nguồn tiền gửi (tiền gủi tiết kiệm ,tiền gửi giao
dịch và phi giao dịch),các khoản đi vay(vay từ dân cư,từ các tổ chức kinh tế,từ các NHTM
và các tổ chức tín dụng khác),tiền nhận uỷ thác đầu tư,tiền góp vốn liên doanh.
Ngoài ra các NHTM còn huy động vốn từ việc vay của ngân hàng nhà nước,vay trên
thị trường liên ngân hàng hoặc vay từ các thị trường vốn lớn trên thế giới.
Hoạt động huy động vốn có vai trò cung cấp đầy đủ và kịp thời các nguồn vốn phục
vụ cho các hoạt động khác của ngân hàng.
 .Hoạt động cho vay và đầu tư.
Đây là hoạt động cấp vốn cho nền kinh tế trên cơ sở an toàn số vốn đã cấp ra và số
tiền thu được từ khoản vôn đã cấp phải lớn hơn tổng chi phí bao gồm các chi phí cho hoạt
động huy động vốn cũng như các chi phí khác có liên quan.
Trong hoạt động cho vay,thu nhập chủ yếu của ngân hàng là lãi cho vay,Các khoản
cho vay có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau như thời hạn cho vay,đối
tượng cho vay,tính chất bảo đảm của khoản vay…Thông thường người ta chia các khoản
vay theo thời hạn của chúng là tín dụng ngắn hạn,tín dụng trung và dài hạn.Lãi suất cho vay
trung và dài hạn thường cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn do các thời hạn vay dài hơn nên
rủi ro cao hơn.
Trong hoạt động đầu tư mà ở đây chủ yếu là đầu tư vào chứng khoán,mục đích của
việc đầu tư vào chứng khoán là tìm kiếm lợi nhuận và đa dạng hoá hoạt động kinh doanh
ngân hàng.Mặt khác nắm giữ chứng khoán cũng là một cách bảo đảm khả năng thanh khoản
của ngân hàng thông qua việc đầu tư vào các chứng khoán có tính thanh khoản cao như:tín
phiếu và trái phiếu kho bạc Nhà nước.
Các NHTM Việt Nam hiện nay,lợi nhuận thu được từ hoạt động này chiếm từ 50% -
70% tổng lợi nhuận.Tuy nhiên đây là hoạt động chứa đựng rủi ro cao nên các ngân hàng
luôn quan tâm đến chất lượng hoạt động này.

trung dài hạn đầu tư trong nước và tín dụng trung dài hạn xuất nhập khẩu.
-Tín dụng tuần hoàn:là phương thức cho vay vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp,nó được coi là tín dụng trung và dài hạn khi thời hạn của hợp đồng được kéo
dài từ 1 đến vài năm và người vay rút tiền ra khi cần và được trả nợ khi có nguồn trong thời
gian hợp đồng có hiệu lực.
-Thuê mua:Đây là hình thức cho vay trung và dài hạn nhưng bằng thiết bị thay bằng
tiền,người đi thuê có quyền mua lại tài sản đó theo giá thoả thuận trong hợp đồng.
-Bảo lãnh trung và dài hạn mua thiết bị trả chậm.
1.1.1.4/Các đặc trưng cơ bản của tín dụng trung và dài hạn.
Tín dụng trung dài hạn là một loại hình tín dụng và nó được phân biệt với các loại
hình tín dụng khác qua một số đặc trưng cơ bản sau:
*Thời hạn cho vay.
Điểm khác biệt cơ bản đầu tiên giữa tín dụng trung dài hạn và tín dụng ngắn hạn là
thời hạn cho vay.
-Tín dụng ngắn hạn: Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất
kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng nhưng không quá 12 tháng.
-Tín dụng trung,dài hạn:Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời hạn thu
hồi vốn của dự án đầu tư,khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất của nguồn vốn cho
vay,trong đó:
+Tín dụng trung hạn có thời gian từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc 60 tháng tuỳ theo
quy định của từng ngân hàng.
+Tín dụng dài hạn có thời gian trên 36 tháng hoặc 60 tháng.
*Đối tượng cho vay:
Đối tượng cho vay trung dài hạn là toàn bộ các chi phí cấu thành trong tổng mức vốn
đầu tư của các dự án xây dựng mới,mở rộng cải tạo công nghệ…
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng,đối tượng cho vay trung dài hạn là các công
trình,hạng mục công trình hoặc dự án đầu tư xây dựng,mua sắm tài sản cố định…của các
đơn vị kinh tế có luận chứng kỹ thuật tốt,xác thực và tổng dự toán đã phê duyệt.
*Nguyên tắc và điều kiện vay vốn.
Khách hàng muốn vay vốn của Ngân hàng phải đảm bảo được ba nguyên tắc tín dụng

+Phải có lệnh hoặc hợp đồng phân phối vật tư máy móc thiết bị và nếu là nhập khẩu
trực tiếp thì phải có giấy phép nhập khẩu hợp pháp.
-Đối với công trình dự án của các đơn vị kinh tế của các đơn vị kinh tế đã và đang
hoạt động kinh doanh ổn định,đang có lãi thực sự,có xu hướng phát triển tốt phù hợp với cơ
chế kinh tế mới,phải có vốn tham gia tối thiểu 30% tổng dự toán công trình
Hiện nay theo quy định mới của chính phủ,các đơn vị kinh doanh nếu chứng minh
được mình làm ăn có hiệu quả thì sẽ có khả năng vay vốn mà không cần thế chấp
1.1.2/Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với phát triển kinh tế ở Việt
Nam.
1.1.2.1/ Tín dụng trung và dài hạn đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều rộng.
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải biết nắm bắt và tìm mọi cách thoả
mãn nhu câù ngày càng cao của người tiêu dùng.Điều đó đồng nghĩa với doanh nghiệp cần
có vốn để không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm.Nguồn vốn ngắn hạn sẽ chỉ đáp ứng
nhu cầu tối thiểu vốn tạm thời trong doanh nghiệp chứ không thể giúp doanh nghiệp trong
việc đầu tư xây dựng cơ bản,mua sắm máy móc trang thiết bị hiện đại.Do đó,doanh nghiệp
cần đến nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn.Đối với Việt Nam thì vay vốn Ngân hàng được
coi là lối thoát lớn nhất cho nhu cầu vốn của các doanh nghiệp.Bởi vậy nếu các Ngân hàng
chỉ chịu cung cấp vốn với thời gian ngắn hạn thì các doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở mức
tái sản xuất,không có cơ hội tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật đem lại năng lực sản xuất
cao hơn.Trong điều kiện nước ta hiện nay,việc đầu tư trung dài hạn nhằm tạo nền tảng cơ sở
vật chất kỹ thuật cho sự tăng cường thực sự vững bền,đó là đảm bảo phát triển treo chiều
sâu.
1.1.2.2/Thúc đẩy mở rộng sản xuất phát triển.
Cho vay trung dài hạn đối với các thành phần kinh tế thực sự là loại hình đầu tư
chiều sâu nhằm mở rộng sản xuất,tăng quy mô ,nâng cao năng lực sản xuất,vì thế tín dụng
trung và dài hạn thực sự là một cứu cánh khi doanh nghiệp có tiềm năng mở rộng phát triển
mà không có vốn đầu tư.Khi đã có vốn nghĩa là một dự án đầu tư đã đi vào hoạt động,là một
cơ hội mở rộng sản xuất,cơ sở trang thiết bị đầy đủ làm cho năng lực sản xuất kinh doanh
tăng lên,theo đó mà sản phẩm hàng hoá được sản xuất ra không những nhiều về số lượng,đa
dạng về mẫu mã chủng loại,phong phú về chất lượng,kích thích nhu cầu xã hội.

hoạt động tín dụng chính là chất lượng tín dụng.Chỉ khi chất lượng tín dụng tốt thì ngân
hàng mới có nhiều khách hàng,uy tín ngân hàng được nâng cao tạo điều kiện thúc đẩy cho
ngân hàng phát triển.
Chất lượng tín dụng được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng phù hợp với sự
phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại,phát triển của ngân hàng.
Như vậy khi xem xét chất lượng tín dụng,cần tính đến ba nhân tố là NHTM,khách
hàng,nền kinh tế và NHTM.
Thứ nhất:Chất lượng hoạt động tín dụng xét từ giác độ NHTM
Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi,mức độ,giới hạn tín dụng phải phù hợp với
khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân ngân hàng và phải đảm bảo được sự
cạnh tranh trên thị trường,đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.Chất lượng hoạt
động tín dụng phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý và gia tăng,dư nợ ngày càng tăng
trưởng,tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo đúng quy định và hợp lý,đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữa
ngắn hạn,trung và dài hạn trong nền kinh tế.
Thứ hai:Chất lượng hoạt động xét từ giác độ khách hàng.
Thông qua quan hệ lâu dài với khách hàng,sự am hiểu khách hàng sẽ làm cho ngân
hàng hiểu rõ nhu cầu tín dụng của ngân hàng,đảm bảo thoả mãn nhu cầu hợp lý về vốn cho
họ.Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay,chất lượng là yêu cầu hàng đầu,vì vậy chất lượng tín
dụng là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý của khách hàng,lãi suất hợp lý,thủ tục đơn giản không
phiền hà,thu hút được khách hàng nhưng vẫn đảm bảo đúng nguyên tắc và quy định của tín
dụng phù hợp với tốc độ phát triển của xã hội,đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân
hàng,góp phần làm lành mạnh tài chính doanh nghiệp.
Thứ ba:Chất lượng tín dụng xét từ giác độ nền kinh tế.
Hoạt động tín dung trong những năm gần đây phản ánh rõ nét sự năng động của nền
kinh tế khi chuyển sang cơ chế mới.Nhiều khái niệm mới với những nội dung mới để đạt
được sự thống nhất,về nhận thức và tạo điều kiện nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng.
Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh,tạo việc làm cho người lao động,tăng thêm
sản phẩm cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế và khai thác khả năng tiềm ẩn trong nền
kinh tế,thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nước,tranh thủ vay vốn nước ngoài có lợi
cho nền kinh tế phát triển.

Thứ nhất:Chỉ tiêu tổng dư nợ.
Thú hai: Chỉ tiêu về nợ quá hạn.
Thứ ba: Chỉ tiêu lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng.
Thứ tư: Đóng góp của hoạt động tín dụng đến sự phát triển kinh tế xã hội
1.2.2.1/Chỉ tiêu tổng dư nợ.
Tổng dư nợ khi được đề cập để đánh giá chất lượng tín dụng bao gồm cho vay ngắn
hạn,trung và dài hạn,cho vay uỷ thác.Chỉ tiêu này được đo bằng số tuuệt đối,nó phản ánh
doanh số cho vay của ngân hàng trong một kỳ(một năm) là bao nhiêu.Tổng dư nợ thấp phản
ánh chất lượng tín dụng thấp vì chỉ ra rằng ngân hàng không có khả năng mở rộng hoạt
động cho vay,khả năng tiếp thị khách hàng kém,trình độ của đội ngũ nhân viên không
cao…Tuy nhiên không phải bất kỳ thời điểm nào chỉ tiêu này cao cũng là tốt và ngược
lại,do vậy khi xét chỉ tiêu này chúng ta cũng không nên xem xét chúng theo từng thời kỳ
riêng rẽ mà phải xem xét chúng trong cả một quá trình trên cơ sở phân tích các yếu tố tác
động bên ngoài để chỉ số này phản ánh một cách tốt nhất có thể thực tế hoạt động tín dụng
cuả ngân hàng trong nền kinh tế.
1.2.2.2/Chỉ tiêu về nợ quá hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Nợ quá hạn
Tổng dư nợ

Chỉ tiêu này có thể nói là một chỉ tiêu quan trọng nhất khi xem xét chất lượng tín
dụng của một ngân hàng thương mại.Đến kỳ trả nợ,nếu người vay không trả và không được
gia hạn nợ thì ngân hàng sẽ chuyển toàn bộ nợ đến hạn sang nợ quá hạn và đương nhiên
người đi vay phải chịu lãi suất quá hạn thường là cao gấp rưỡi lãi suất trong hạn,vì thế
doanh nghiệp đã khó sẽ càng trở nên khó khăn hơn trong việc trả nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn quá cao biểu hiện hiện tượng chất lượng tín dụng của ngân hàng là
thấp,rủi ro cao vì với một số lớn các khoản nợ không được hoàn trả đúng hạn thì ngân hàng
sẽ gặp khó khăn trong việc phân phối luồng vốn vào ra,với việc không thu được nợ thì ngân
hàng sẽ phải đối mặt với việc mất khả năng thanh toán hoặc tệ hơn là phá sản. Khi xem xét
các chỉ tiêu nợ khó đòi, người ta thường xem xét cả về số tương đối lẫn số tuyệt đối.

ra trong tổng thu nhập của ngân hàng thì phần đóng góp là bao nhiêu.Lợi nhuận thu từ hoạt
động tín dụng lớn sẽ khẳng định chất lượng của các khoản vay là tốt.
Tất nhiên khi xem xét chất lượng của một hoặc một số hoạt động tín dụng đặc thù thì
chúng ta sẽ dựa trên những chỉ tiêu chung này để vận dụng cho phù hợp,đồng thời những
chỉ số cũng được xem xét trong cả một thời kỳ dài để thấy khuynh hướng biến động của nó
phù hợp với thực tiễn không,nhằm giúp cho các đánh giá được chính xác hơn.
1.2.3/Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung và dài hạn của
NHTM.
1.2.3.1/Các nhân tố về phía khách hàng.
Các doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất,đầu tư cho máy móc thiết bị,dây chuyền
công nghệ…phải cần một lượng vốn lớn và trong thời gian dài.Chính vì vậy nhu cầu về vốn
trung dài hạn là tất yếu.Điều kiện tín dụng đưa ra nhằm tiêu chuẩn hoá khả năng của doanh
nghiệp trong quá trình vay vốn,đảm bảo khả năng thu hồi vốn của ngân hàng.Khả năng đáp
ứng các điều kiện tín dụng thể hiện ở những mặt sau:
-Năng lực thị trường của doanh nghiệp.
Biểu hiện ở khối lượng sản phẩm tiêu thụ,chất lượng sản phẩm có đáp ứng được nhu
cầu thị trường không?Vị trí của doanh nghiệp trên thị trường ra sao?Hệ thống mạng lưới
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp,mối quan hệ với các bạn hàng đối tác.Năng lực thị
trường của doanh nghiệp còn được lượng hoá qua tiêu thức cơ bản là sự gia tăng của doanh
số tiêu thụ sản phẩm.
Năng lực thị trườn càng cao,nhu cầu đầu tư càng lớn,rủi ro thị trường của doanh
nghiệp càng nhỏ là một nhân tố nâng cao chất lượng tín dụng.
-Năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Năng lực sản xuất của doanh nghiệp biểu hiện giá trị của công cụ lao động,chủ yếu là
tài sản cố định:biểu hiện cụ thể là quá trình sản xuất sản phẩm,công nghệ sản xuất,các đầu
tư trước đây có kết quả như thế này không?Cơ cấu và việc làm chủ giá thành sản phẩm.Tiêu
thụ sản phẩm tốt nhưng giá thành lớn hơn giá bán là không tốt.Việc nghiên cứu giá thành và
năng lực sản xuất cho thấy tính cấp thiết và quy mô phải đầu tư mới.
-Năng lực tài chính của doanh nghiệp.
Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khối lượng vốn tự có và tỷ trọng vốn

cơ bản,các thông tin về giá cả,thị trường công nghệ sản xuất,vị trí của doanh nghiệp trên thị
trường trong nước và quốc tế.
Dự án xây dựng đúng quy trình,quy định của Nhà nước.
Các tính toán,các luận giải phù hợp lôgic có căn cứ khoa học,đồng bộ giữa bốn yếu
tố:máy móc thiết bị,thông tin,thiết kế và con người.
Trình độ,uy tín của các chuyên gia xây dựng dự án.
Các biện pháp tổ chức,quản lý,triển khai phương án xây dựng phù hợp với cơ cấu
trình độ quản lý của doanh nghiệp.
Các dự tính,các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong quá trình xây dựng và thu hồi vốn
1.2.3.2/Các nhân tố về phía ngân hàng.
-Chiến lược kinh doanh của ngân hàng.
Trong nền kinh tế hiện đại,các doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng thương mại
nói riêng muốn tồn tại và kinh doanh có lãi phải xây dựng được cho mình một chiến lược
kinh doanh hiệu quả.Một chiến lược kinh doanh có hiểu quả sẽ giúp ngân hàng có một
phương hướng phát triển nhất quán,giúp cho ngân hàng khai thác tốt nhất năng lực hiện có
của đơn vị và đồng thời nó cũng giúp cho ngân hàng có thể thích ứng một cách nhanh nhất
với những biến đổi trong môi trường kinh doanh của mình.Chính vì vậy công tác lập chiến
lược kinh doanh hiện được các ngân hàng hết sức coi trọng và nó ảnh hưởng lớn tới chất
lượng của hoạt động tín dụng.
-Chất lượng của công tác thẩm định dự án.
Khi đến ngân hàng để xin được cấp tín dụng,khách hàng thường phải mang đến một
bộ hồ sơ về dự án mà họ sẽ tiến hành thực hiện.Thẩm định dự án giúp ngân hàng xem xét
một cách toàn diện các mặt của dự án để xác định tính khả thi của dự án,trên cơ sở đó sẽ
quyết định khách hàng này có đủ điều kiện để được cấp tín dụng hay không.Cũng thông qua
công tác thẩm định,ngân hàng với những kinh nghiệm vốn có của mình có thể tư vấn,giúp
đỡ cho chủ đầu tư sửa đổi những điểm không hợp lý trong dự án để dự án có tính khả thi
hơn và cũng giúp cho ngân hàng có thể mở rộng hoạt động tín dụng của mình.
Thẩm định là công việc đòi hỏi nhiều thời gian và kỹ thuật tính toán phức tạp.Do
công việc này là cơ sở để quyết định có cấp tín dụng hay không nên chất lượng của công tác
này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng hoạt động tín dụng.Nếu chất lượng của công tác

chính là nguồn nhân lực của ngân hàng vì suy cho cùng các quyết định cung cấp tín dụng
của ngân hàng là những quyết định mang tính chất chủ quan.Một ngân hàng với một đội ngũ
lãnh đạo tốt sẽ đưa ra được những chính sách hợp lý và phương hướng phát triển phù hợp
với khuynh hướng phát triển của nền kinh tế.Một đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi sẽ giúp ngân
hàng có được những khoản cho vay với chất lượng cao nhất.Các cán bộ của các phòng
ban,các bộ phận chức năng khác sẽ giúp cho ngân hàng mở rộng các hoạt động kinh doanh
của mình,tạo dấu ấn của ngân hàng trong lòng thị trường.
1.2.3.3/Những nhân tố khách quan.
Hoạt động của mỗi ngân hàng thương mại chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường
kinh tế-xã hội.Một ngân hàng dù có cố gắng đến mấy trong hoạt động kinh doanh của mình
nhưng nếu môi trường kinh tế-xã hội không ổn định thì cũng khó mà thành công.Chính vì
vậy,việc nghiên cứu môi trường kinh doanh là hoạt động thường xuyên của mỗi ngân hàng
thương mại.Ta có thể xem xét ảnh hưởng của môi trường kinh tế-xã hội đến chất lượng hoạt
động tín dụng của ngân hàng thương mại từ các yếu tố sau:
-Môi trường kinh tế.
Môi trường kinh tế phát triển có thể tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín
dụng.Một môi trường kinh tế lành mạnh,các chủ thể tham gia nền kinh tế đang hoạt động có
hiệu quả sẽ thúc đẩy mở rộng quy mô tín dụng,chất lượng hoạt động tín dụng cũng sẽ được
nâng lên.Bên cạnh đó môi trường kinh tế cũng có thể có những thay đổi bất ngờ,ví dụ như
những thay đổi về lãi suất,những biến động về tỷ giá,biến động về thị trường….Như vậy
chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại sẽ chịu ảnh hưởng của môi trường
kinh tế mà nó hoạt động,vấn đề đối với các ngân hàng là phải làm tốt công tác dự báo và
khả năng thích ứng nhanh khi có sự biến động nhằm đảm bảo chất lượng của hoạt động tín
dụng
-Môi trường pháp lý.
Ngân hàng thương mại khi hoạt động phải tuân thủ đầy đủ các quy định về luật pháp
của Nhà nước,như vậy môi trường pháp lý có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động
tín dụng của các ngân hàng.Một hệ thống pháp lý đầy đủ,đồng bộ và ổn định sẽ giúp các
ngân hàng thương mại dễ dàng hơn trong việc xây dựng kế hoặch kinh doanh của mình,góp
phần vào việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại.

B. Cơ cấu tổ chức.
Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm ngoài ban giám đốc còn có 9 phòng ban với
tổng số 215 cán bộ.
 Phòng kinh doanh: thực hiện các nghiệp vụ cho vay.
 Phòng kinh doanh đối ngoại: thực hiện các nghiệp vụ thanh toán quốc tế, thu
đổi ngoại tệ, mua bán ngoại tệ.
 Phòng giao dịch Đồng Xuân: thực hiện gần như đầy đủ các nghiệp vụ của
ngân hàng nhưng chủ yếu với đối tượng khách hàng là các tư thương ở khu vực chợ
Đồng Xuân.
 Phòng nguồn vốn: thực hiện chức năng huy động vốn. Phòng nguồn vốn bao
gồm cả 10 quỹ tiết kiệm có chức năng huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư.
 Phòng kế toán: thực hiện các nghiệp vụ kế toán ngân hàng.
 Phòng kiểm soát: kiểm soát toàn bộ các hoạt động trong ngân hàng, đảm bảo
hoạt động ngân hàng vừa nhanh chóng, kịp thời nhưng phải hoàn toàn chính xác.
 Phòng kho quỹ: thực hiện các nghiệp vụ dự trữ tiền mặt, thu chi tiền mặt,
chuyển tiền
 Phòng vi tính: quản lý toàn bộ mảng tin học của hệ thống ngân hàng.
 Phòng tổ chức hành chính: bao gồm hai mảng hoạt động:
Hoạt động tổ chức: quản lý cán bộ trong ngân hàng, thực hiện các công tác tuyển
dụng, đào tạo, điều chuyển cán bộ
Hoạt động hành chính: chịu trách nhiệm về các hoạt động mua sắm, xây dựng,
phục vụ
2.1.2/Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong những năm gần
đây.
A. Năm 1999
 Về hoạt động kinh doanh tín dụng:
Đến 31/12/1999, dư nợ vẫn giữ mức 502.26 triệu đồng, khách hàng vay là các tổng
công ty 90,91; các đơn vị thành vị thành viên; các doanh nghiệp thuộc các bộ và thành phố
Hà Nội, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của địa phương. Các khách hàng là doanh nghiệp liên
doanh, 100% vốn nước ngoài còn ít.

Với sự cố gắng vượt bậc, năm 1999, NHCT Hoàn Kiếm đã đạt được hơn 21 tỷ đồng
lợi nhuận hạch toán, vượt 22% kế hoạch NHCT Việt Nam giao, vượt gần 2 lần so với năm
1998.
b. Năm 2000.
 Về hoạt động kinh doanh tín dụng.
Trong năm 2000, mục tiêu cơ bản được đặt ra là nâng cao chất lượng tín dụng, hoạt
động tín dụng chủ yếu đi vào chiều sâu. Chính vì vậy Chi nhánh đã liên tục rà soát, đánh giá
chất lượng tín dụng, sàng lọc và nâng cao chất lượng dư nợ đối với những khách hàng
truyền thống, đồng thời không ngừng nghiên cứu, tìm kiếm và tiếp thị các khách hàng mới
là các tổng công ty 90, 91 và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có uy tín và khả
năng tài chính lành mạnh, tiếp cận các dự án có tính khả thi cao, đặt nền móng cho việc mở
rộng công tác tín dụng một cách vững chắc, an toàn và hiệu quả. Các doanh nghiệp dân
doanh cũng được chú ý nhiều hơn.
Nhờ vậy, doanh số cho vay năm 2000 đạt 1.690.106 triệu đồng, tăng 18% so với năm
1999. Doanh số thu nợ đạt 1.695.019 triệu tăng 13% so với năm 1999. Dư nợ cho vay bình
quân đạt 547.351 triệu đồng, trong đó dư nợ cho vay nội tệ chiếm 82%, dư nợ cho vay ngoại
tệ chiếm 18%; dư nợ ngắn hạn chiếm 72,22%, dư nợ trung dài hạn chiếm 27,78% tổng dư
nợ. Năm 2000 chi nhánh không để phát sinh nợ quá hạn khó đòi mới, đồng thời thu được
gần 16 tỷ đồng nợ gốc và 100 triệu đồng lãi nợ quá hạn khó đòi phát sinh những năm trước.
Các khoản vay đều thu kịp thời đầy đủ cả gốc và lãi. Sở dĩ dư nợ năm 2000 không tăng so
với năm 1999 vì chi nhánh đã xác định quy mô dư nợ phải phù hợp với trình độ, khả năng
và kinh nghiệm quản lý của cán bộ, lấy an toàn, hiệu quả làm mục tiêu hàng đầu.
 Về hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế.
Năm 2000 đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc trong hoạt động kinh doanh đối ngoại
của chi nhánh. Thật vậy, với tinh thần cố gắng làm việc phấn đấu vươn lên, với nghiệp vụ
vững vàng và phong cách giao dịch được hoàn thiện một cách rõ nét của từng cán bộ kinh
doanh đối ngoại, sự phối kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phòng ban, nên dù gặp khó khăn
do sự khan hiếm ngoại tệ nhưng chi nhánh đã trở thành một trong những chi nhánh hàng
đầu về lĩnh vực thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng Công
thương Việt Nam.

hiệu quả và một số yếu tố khách quan không thuận lợi cho hoạt động ngân hàng, đó là sản
phẩm cạnh tranh thấp, giá cả các mặt hàng xuất khẩu chiến lược như nông sản, dầu thô, cà
phê liên tục giảm.
Lãi suất ngoại tệ trên thị trường tiền tệ giảm mạnh từ 6,5% xuống còn 1,75%/năm, lãi
suất cho vay liên tục giảm, trong khi chi phí cho các hoạt động huy động có kỳ hạn chưa kịp
giảm theo. Cộng với sự cạnh tranh gay gắt của trên 70 ngân hàng lớn nhỏ làm cho hoạt động
của chi nhánh càng gặp khó khăn. Tuy vậy ngân hàng vẫn đã đạt được một số kết quả sau:
 Về công tác huy động vốn.
Năm 2001, chi nhánh đã đạt tổng nguồn vốn huy động là 3.502.015 triệu đồng, tăng
1.419.482 triệu đồng, vượt 68,16% so với năm 2000. Với tổng nguồn vốn lớn và ổn định,
Chi nhánh có đủ khả năng để đáp ứng mọi nhu cầu về vốn đối với khách hàng, đồng thời
chuyển vốn về ngân hàng Công thương Việt Nam, góp phần điều hoà toàn hệ thống và tham
gia thị trường vốn.
 Về công tác cho vay vốn.
Dư nợ đạt 620.111 triệu đồng, tăng 13,3% so với năm 2000. Trong năm 2001 không
phát sinh nợ quá hạn. Vốn tín dụng được đầu tư an toàn, hiệu quả cho các ngành kinh tế
trọng yếu như: than, điện, chế biến nông sản xuất khẩu
So sánh tỉ lệ tăng trưởng dư nợ của chi nhánh (13,3%) với tốc độ tăng trưởng GDP
của nền kinh tế (6,8%), chúng ta thấy đây là một tỉ lệ hợp lý. Trong 620.111 triệu dư nợ thì
dư nợ ngắn hạn chiếm 66,06%, dư nợ trung dài hạn chiếm 33,94%; dư nợ ngoài quốc doanh
chiếm 31%, tập trung chủ yếu vào các công ty liên doanh và 100% vốn nước ngoài, có mặt
hàng, sản phẩm được sản xuất với công nghệ cao, có khả năng xuất khẩu và có tình hình tài
chính lành mạnh. Phần còn lại là cho vay cán bộ công nhân viên, doanh nghiệp dân doanh
và hộ gia đình có nhu cầu kinh doanh, tiêu dùng thự sự đảm bảo khả năng trả nợ ngân hàng,
công việc này trong năm có sự khởi sắc cả ở phòng Giao dịch Đồng Xuân và phòng Kinh
doanh.
Doanh số cho vay đạt 1.916.500 triệu đồng, tăng so với năm 2000 là 13,4%, trong đó
doanh nghiệp cho vay xuất khẩu đạt 1.291 tỷ đồng.
Doanh số thu nợ đạt 1.823.740 triệu đồng, tăng 7,6% so với đầu năm, tốc độ tăng của
doanh số thu nợ nhỏ hơn so với tốc độ tăng của doanh số cho vay, nguyên nhân do năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status